VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH
Ở TỈNH LÀO CAI GIAI ĐOẠN NĂM 2010 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI – 2017
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Nguyên nghĩa
1
BPTT
Biện pháp tránh thai
2
UBND
Ủy ban nhân dân
8
BYT
Bộ Y tế
9
KT – XH
Kinh tế - Xã hội
10
CTV
Cộng tác viên
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1:
Các chỉ số cơ bản dân số tỉnh Lào Cai từ năm 2011 – 2015 và dự
báo đến năm 2020 ........................................................................ 48
Bảng 2.9:
Thống kê số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ đang sử dụng BPTT.... 55
Bảng 2.10: Kết quả công tác giáo dục giới tính và SKSS vị thành niên năm 2016.. 56
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH ......... 11
DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM ......................... 11
1.1. Một số khái niệm................................................................................... 11
1.2. Quan điểm và quá trình ban hành chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia
đình ở Việt Nam ....................................................................................... 14
Chương 2: THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA
GIA ĐÌNH Ở TỈNH LÀO CAI ................................................................... 25
2.1. Vài nét về tỉnh Lào Cai ......................................................................... 25
2.2. Chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình của tỉnh Lào Cai ................. 27
2.3. Một số văn bản cụ thể triển khai chính sách dân số kế hoạch hóa gia
đình .......................................................................................................... 34
2.4. Các chủ thể thực hiện chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình của tỉnh
Lào Cai .................................................................................................... 43
2.5. Đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình ở tỉnh
Lào Cai..................................................................................................... 47
Chương 3: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ – KẾ HOẠCH HÓA
GIA ĐÌNH Ở TỈNH LÀO CAI .................................................................... 60
3.1. Các yếu tố tác động tới quá trình thực hiện chính sách dân số kế hoạch hóa
gia đình .................................................................................................... 60
3.2. Những vấn đề đặt ra trong thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch hóa
dân số bình quân thấp nhất trong vòng 35 năm qua. Năm 2014 tổng tỷ suất
sinh là 2,09 con với trên một người phụ nữ, tiếp tục duy trì mức sinh dưới
1
mức sinh thay thế. Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh của Việt Nam tăng từ
68 tuổi năm 1999 lên 73,2 tuổi năm 2014. Tình hình phân bố dân cư: dân số
thành thị chiếm 30,6% dân số nông thôn chiếm 69,4%; nam có 43.347.731
người (chiếm 49,5%) nữ có 4.263.216 người (chiếm 50,5%).
Trung bình mỗi năm, dân số Việt Nam tăng gần 1 triệu người và cũng có
khoảng 1 triệu người gia nhập lực lượng lao động, điều này tạo ra áp lực khá
lớn cho vấn đề tạo việc làm mới cho người lao động. Cơ cấu dân số Việt Nam
thuộc nhóm “cơ cấu dân số trẻ”, số người thuộc nhóm dưới tuổi lao động
chiếm 31,8%, trong đó nhóm tuổi dưới 15 tuổi chiếm 24,1% [1].
Theo báo cáo của Tổng cục DS - KHHGĐ, chất lượng dân số về thể chất
của người Việt Nam đã được cải thiện song vẫn còn rất thấp. Kết quả Tổng
điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy có 1,5% dân số Việt Nam bị thiểu
năng về thể lực và trí tuệ. Trong đó, số trẻ mới sinh bị dị tật bẩm sinh do di
truyền chiếm khoảng từ 1,5% đến 3% và có xu hướng tiếp tục gia tăng do
điều kiện sống, môi trường độc hại mà chưa được phát hiện và điều trị sớm.
Bên cạnh đó, số lượng người bị tàn tật, khuyết tật trong cả nước rất lớn,
khoảng 5,3 triệu người (chiếm 6,3% dân số)…Tầm vóc, thể lực cân nặng, sức
bền của người Việt Nam so với nhiều nước trong khu vực vẫn còn hạn chế.
Vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn tiếp tục gia tăng; làm thế nào
để tận dụng cơ hội cơ cấu “dân số vàng”, chăm sóc và phát huy người cao
tuổi khi Việt Nam đang “già hóa dân số” rất nhanh; phân bố, quản lý dân cư;
di cư và đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh như một quy luật tất yếu trong quá
trình phát triển; nâng cao chất lượng dân số, hôn nhân đồng tính, mang thai
hộ...là những vấn đề rất mới, cần được điều chỉnh.
quá trình thực hiện chính sách DS - KHHGĐ và những bài học kinh nghiệm
nhằm nâng cao chất lượng dân số. Có thể khái quát ở một số lĩnh vực sau:
3
- Nhóm các công trình nghiên cứu về chính sách DS - KHHGĐ các dân
tộc thiểu số và miền núi. Trong nhóm các công trình nghiên cứu này, nổi bật
là một số công trình nghiên cứu về chính sách DS - KHHGĐ do Uỷ ban Quốc
gia DS - KHHGD, nay là Tổng cục DS - KHHGĐ thực hiện. Nhiều đề tài cấp
Bộ, cấp tỉnh đã được triển khai nhằm đánh giá thực trạng quá trình triển khai
thực hiện chính sách DS - KHHGĐ ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Đề
tài Nghiên cứu một số vấn đề về chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
với các dân tộc ít người ở vùng cao, vùng sâu tỉnh Cao Bằng do Dương Thị
Minh Hiền và cộng sự thực hiện từ năm 1994 đến 1996. Năm 1998, Viện Dân
tộc học thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia thực hiện
nghiên cứu về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình người Mông ở Hoà Bình [13].
Tiếp đó, năm 2001, Viện Dân tộc học tiếp tục công bố công trình nghiên cứu
về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình các dân tộc ở tỉnh Hoà Bình…. Các công
trình nghiên cứu này đã làm rõ được thực trạng của công tác DS - KHHGĐ ở
vùng dân tộc thiểu số và nêu lên những khó khăn, trở ngại trong quá trình
thực hiện chính sách tại vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.[25]
- Nhóm các công trình nghiên cứu đánh giá chính sách DS - KHHGĐ và
chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho người dân tộc thiểu số. Nhóm các công trình
này đề cập đến khá nhiều vấn đề nhằm nâng cao chất lượng dân số và bảo vệ
sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ em vùng dân tộc thiểu số. Năm 2012, Viện Dân số
và các vấn đề xã hội, Trường đại học Kinh tế Quốc dân đã thực hiện đề
tài “Đánh giá chính sách và thực hiện chính sách Chăm sóc Sức khỏe sinh
sản cho đồng bào dân tộc”. Nghiên cứu này đã đánh giá một cách cụ thể văn
bản Chiến lược Dân số Việt Nam 2001 - 2010; Đánh giá kết quả thực hiện
cứu như:
Cuộc điều tra quốc gia về thanh thiếu niên lần thứ nhất (SAVY1) và lần
thứ hai (SAVY2) do Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình phối hợp với
Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc và Ngân hàng phát triển châu Á tiến hành. Điều
5
tra cho thấy tỉ lệ nạo phá thai trong thanh niên Việt Nam tăng theo nhóm tuổi:
7% trong nhóm 18-21 tuổi và 10% trong nhóm 22-25 tuổi.
Đề tài “Tuổi Vị thành niên với vấn đề tình dục và các biện pháp tránh
thai” của Chu Xuân Việt, Nguyễn Văn Thắng - Học viện Thanh thiếu niên
Việt Nam 1998 nghiên cứu tại 8 tỉnh, thành phố trên 2,159 vị thành niên cả
trong và ngoài trường cho biết có 11,4% vị thành niên đồng ý với ý kiến cho
rằng có thể quan hệ tình dục trước hôn nhân; 18,9% số người được hỏi cho là
có thể quan hệ tình dục trước khi cưới; 17,7% trả lời có thể quan hệ tình dục
được nếu cả hai đồng ý.
Nghiên cứu “Đánh giá thái độ của các nhóm đối tượng với các qui định
của chính sách Dân số - Kế hoạch hoá gia đình” do TS. Nguyễn Đức Mạnh
và các cộng sự thực hiện vào năm 2005 đã chỉ rõ thực trạng nhận thức và thái
độ của các nhóm đối tượng đối với một số quy định của chính sách Dân số Kế hoạch hoá gia đình và Pháp luật đời sống.
Tác giả Nguyễn Quỳnh Anh cũng có bài viết “Pháp lệnh dân số nâng
cao trách nhiệm của công dân, gia đình và xã hội” (Tạp chí Cộng sản số
27/2003). Tác giả đề cập đến một số quy định trong Pháp lệnh dân số, quyền
lợi và nghĩa vụ của công dân về Dân số - Kế hoạch hoá gia đình. Trách nhiệm
của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các biện pháp
nâng cao chất lượng dân số.
Ngày 8/3/2010 Nghị định Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh sửa đổi
Điều 10 của Pháp lệnh Dân số đã được ban hành với nội dung quy định lại
những trường hợp không vi phạm sinh một hoặc hai con có nghĩa là một số
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận trong nghiên cứu về chính
sách dân số như khái niệm, các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện chính
sách dân số theo yêu cầu về đổi mới chính sách, quá trình hình thành và phát
triển của chính sách từ khi ban hành đến nay.
- Đánh giá thực trạng chính sách DS - KHHGĐ và thực tiễn tổ chức thực
hiện chính sách dân số, làm rõ những mặt được, những mặt hạn chế, những
7
bất cập của chính sách dân số và tổ chức thực hiện chính sách thông qua kết
quả thực thi tại tỉnh Lào Cai.
- Rút ra bài học kinh nghiệm về công tác chỉ đạo, tổ chức triển khai thực
hiện, giám sát thực hiện chính sách DS - KHHGĐ trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
Đưa ra các khuyến nghị để hoàn thiện chính sách DS - KHHGĐ từ thực tiễn
của tỉnh Lào Cai.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chính sách về DS - KHHGĐ và quá trình triển khai thực hiện trên địa
bàn tỉnh Lào Cai.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn từ năm 2010 đến nay giới hạn trong
việc lựa chọn chính sách DS - KHHGĐ (quy định về DS - KHHGĐ: văn bản,
quy định liên quan đến chính sách DS - KHHGĐ, các biện pháp thực hiện
công tác dân số, quản lý nhà nước về dân số).
Việc nghiên cứu luận văn căn cứ vào thực tiễn thực hiện chính sách dân
số trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Các tư liệu phục vụ cho nghiên cứu của luận văn
dựa vào các văn bản đã được ban hành và căn cứ trên thực tiễn triển khai thực
hiện chính sách DS - KHHGĐ.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
cán bộ làm công tác dân số và sinh viên trong lĩnh vực chính sách công và
chính sách xã hội.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần cung cấp các luận chứng khoa học nhằm đưa ra các
giải pháp để thực hiện chính sách dân số trên địa bàn cụ thể. Căn cứ kết quả
đạt được, luận văn đưa ra được những vấn đề sau:
9
- Nêu ra những đặc điểm, vai trò của chính sách dân số
- Đánh giá ưu điểm, khuyết điểm, nêu những hạn chế, bất cập trong quá
trình thực hiện chính sách.
- Nêu ra những quan điểm và giải pháp để thực hiện chính sách tốt hơn
trong giai đoạn đổi mới đất nước.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài những phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo, nội chung luận văn được trình bày gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu về chính sách DS - KHHGĐ ở Việt Nam
Chương 2: Thực hiện chính sách DS - KHHGĐ ở tỉnh Lào Cai.
Chương 3: Các yếu tố tác động và giải pháp hoàn thiện chính sách DS - KHHGĐ.
10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH
DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM
1.1. Một số khái niệm
Đã có khá nhiều khái niệm được đưa ra về dân số, chính sách dân số và
kế hoạch hoá gia đình. Trong luận văn này, tôi sử dụng một số khái niệm về
hợp tác, giúp đỡ, hỗ trợ chương trình chăm sóc SKSS, KHHGĐ, nâng cao
chất lượng dân số, ưu tiên đối với người nghèo, đồng bào các dân tộc thiểu số,
vùng có điều kiện KT - XH đặc biệt khó khăn, vùng có điều kiện KT - XH
khó khăn.
- Cơ quan quản lý nhà nước về dân số có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện
công tác dân số; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên của Mặt trận để triển khai công tác dân số; thanh tra, kiểm tra việc
thi hành pháp luật về dân số.
Thực hiện tốt công tác KHHGĐ sẽ làm giảm được số sinh, giảm được tử
vong mẹ do sinh nhiều và phá thai ngoài kế hoạch, giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh
và trẻ em, giảm tỷ lệ vô sinh và chửa ngoài tử cung. Giải phóng phụ nữ làm
nhẹ gánh nặng gia đình, có điều kiện tham gia vào các công tác xã hội, chăm
sóc nuôi dưỡng con cái tốt hơn làm cho cuộc sống gia đình hạnh phúc hơn,
nâng cao chất lượng cuộc sống.
KHHGĐ là các hoạt động hướng dẫn mọi người lựa chọn số con mong
muốn và khoảng cách giữa các lần sinh, mỗi gia đình nên có từ một đến hai
con dù trai hay gái để đảm bảo hạnh phúc gia đình, nuôi con khỏe manh, dậy
con ngoan, phù hợp với hoàn cảnh ở Việt Nam. Khoảng cách giữa các lần
sinh nên cách nhau từ ba đến năm năm để người phụ nữ hồi phục sức khỏe
sau lần thai sản vừa qua đồng thời có điều kiện nuôi dậy con cái tốt hơn.
Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.
Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực
cụ thể nào đó [23, trang 475].
12
Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào
đó của chính phủ bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách
làm để thực hiện các mục tiêu đó nhằm phát triển đất nước toàn diện trên các
lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xã hội – môi trường [8].
Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Ngay từ sau khi giải phóng miền Bắc, công
tác DS - KHHGĐ đã được chú trọng với những chính sách về KHHGĐ được
ban hành trong bối cảnh miền Bắc tiến hành xây dựng XHCN, miền Nam đấu
tranh giải phóng và thống nhất đất nước. Trong các kỳ đại hội Đảng xây dựng
và phát triển đất nước, chính sách DS - KHHGĐ luôn được nhấn mạnh.
Đại hội lần thứ IV, lần thứ V và lần thứ VI của Đảng đều coi công tác
DS - KHHGĐ là quốc sách trong sự nghiệp phát triển đất nước. Báo cáo
chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ IV đã
xác định: “Mọi ngành mọi cấp phải coi trọng cuộc vận động sinh đẻ có kế
hoạch là công tác có tầm quan trọng to lớn, có ý nghĩa chính trị, kinh tế và xã
hội, góp phần tích cực vào việc nâng cao đời sống của nhân dân ta” [11].
Mục tiêu cuộc vận động trong giai đoạn này là đẻ ít (từ 2 đến 3 con), đẻ
muộn (từ 22 tuổi trở nên) và đẻ thưa (cách nhau 3 đến 5 năm). Mục tiêu cụ
thể được xác định tại Đại hội IV năm 1976 là “đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận
động sinh đẻ có kế hoạch, kiên quyết giảm dần tốc độ gia tăng dân số hằng
năm, phấn đấu đến năm 1980, tỷ lệ gia tăng dân số là trên 2%”. Tại Đại hội V
năm 1982,chỉ tiêu được đưa ra là “giảm tốc độ tăng dân số bình quân của cả
nước từ 2,4% hằng năm xuống còn 1,7% vào năm 1985; đến Đại hội VI năm
1986 thì “giảm tỷ lệ phát triển dân số từ 2,2% hiện nay xuống còn 1,7% vào
năm 1990” .
Ngày 14/1/1993 tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII
Đảng ban hành Nghị quyết số 04 về chính sách DS - KHHGĐ (gọi tắt là Nghị
quyết TW khóa VII), đây là văn bản có tính chất quan trọng, làm tiền đề cho
những quyết sách về công tác DS - KHHGĐ sau này của Đảng và Nhà Nước.
14
Tiếp tục quán triệt và kiên quyết thực hiện các quan điểm cơ bản của
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về
số phát triển” (Điều 13, PLDS) và chất lượng dân số “Nâng cao chất lượng dân
số là chính sách cơ bản của Nhà nước trong sự phát triển của đất nước, Nhà nước
thực hiện chính sách nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ, tinh thần
nhằm nâng cao chỉ số phát triển con người của Việt Nam lên mức tiên tiến của
thế giới, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [29].
PLDS năm 2003 đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trên
thực tế hầu như không còn tình trạng cản trở hay cưỡng bức thực hiện
KHHGĐ. Pháp lệnh Dân số năm 2003 đã thể hiện được cam kết của Nhà
nước Việt Nam trong các điều ước, công ước quốc tế về quyền con người liên
quan đến công tác DS - KHHGĐ và sức khỏe sinh sản mà Việt Nam đã ký kết,
gia nhập.
Trên cơ sở PLDS đã được công bố ngày 16/9/2003 năm 2003, Chính phủ
ban hành Nghị định số 104/2003/NĐ –CP ngày 16/9/2003 quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của PLDS. Theo Nghị định, mục tiêu chính
sách dân số là duy trì mỗi cặp vợ chồng có một hoặc hai con để ổn định quy
mô dân số, đảm bảo cơ cấu dân số và phân bố dân cư hợp lý, nâng cao chất
lượng dân số. Nghị định cũng nghiêm cấm các hành vi cản trở hay cưỡng bức
thực hiện KHHGĐ và lựa chọn giới tính thai nhi. Có thể nói với Nghị định
này chính sách DS - KHHGĐ của Việt Nam đã thật sự chấm dứt một thời kỳ
áp dụng có tính gò ép và chuyển sang khuyến khích sự tự nguyện của người
dân trong thực hiện KHHGĐ [30].
Trong quá trình thực hiện chính sách DS - KHHGĐ chúng ta đã thu
được một số kết quả tốt: về mức sinh giảm từ 2,28 con năm 2002 xuống còn
2,05 con năm 2012. Việt Nam đã nhanh chóng đạt được mức sinh thay thế
vào năm 2006 (2,09 con/phụ nữ), 3 năm sau khi PLDS ra đời và từ đó đến nay
liên tục đạt dưới mức sinh thay thế.
16
2001 - 2010 do Chính phủ đặt ra là không vượt quá 89 triệu người). Đến
1/4/2012, quy mô dân số nước ta là 88,78 triệu người và chắc chắn đạt được
mục tiêu Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản của Chính phủ đặt ra đến
năm 2015 (quy mô không vượt quá 93 triệu người), bình quân mỗi năm tăng
thêm 924.000 người.
Tỷ lệ sử dụng các BPTT tăng hàng năm. Các phương tiện, BPTT nói
riêng và các dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ nói chung ngày càng phong
phú, đa dạng, thuận tiện cho người dân từ nông thôn tới miền núi, tới tận
những vùng sâu, vùng xa của Tổ quốc. Điều đó đã mang đến, mở rộng quyền
được tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ của người dân
trên mọi miền đất nước.
Mức sinh vì thế đã giảm, mức chết giảm, đặc biệt là tỷ suất chết trẻ em
dưới một tuổi, dưới 5 tuổi, tỷ số tử vong bà mẹ đều giảm; đời sống người dân
ngày một được cải thiện, thu nhập bình quân tăng. Những thành công trong
lĩnh vực DS - KHHGĐ đã mang đến các cơ hội về giáo dục, việc làm, kinh tế,
an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao vị thế người phụ nữ trong gia
đình và xã hội, thực hiện bình đẳng giới, thúc đẩy xã hội ổn định, phát triển.
Chính sách, pháp luật dân số trong giai đoạn này được chuyển hướng
nhằm giải quyết toàn diện các vấn đề dân số. Chính sách, pháp luật, chiến
lược DS - KHHGĐ giai đoạn này thể hiện trong một số văn bản quan trọng
của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ:
Tại Nghị quyết tại đại hội Đảng lần thứ IX xác định: “Chính sách dân số
nhằm chủ động kiểm soát quy mô và tăng chất lượng dân số phù hợp với
những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao chất lượng các dịch vụ
chăm sóc SKSS - KHHGĐ, giải quyết tốt mối quan hệ giữa phân bổ dân cư
hợp lý với quản lý dân số và phát triển nguồn nhân lực”.
Trên cơ sở năm quan điểm của Nghị quyết số 04-NQ/HNTW và quan
điểm của Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng, Quyết định số
18
thưởng, khuyến khích, động viên tập thể, cá nhân thực hiện tốt chính sách DS
- KHHGĐ, chính sách, biện pháp đặc thù đối với người dân tộc thiểu số, vùng
dân tộc ít người trong việc thực hiện mục tiêu DS - KHHGĐ, chính sách chế
độ với cán bộ làm công tác DS - KHHGĐ, những quy định về xử lý kỷ luật
cán bộ, Đảng viên, công chức, viên chức vi phạm chính sách DS - KHHGĐ
được ban hành kịp thời.
Chính sách DS - KHHGĐ bền vững phải đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các
quan hệ xã hội trong các lĩnh vực dân số. Từng văn bản quy phạm pháp luật
cần quy định về các yếu tố dân số cụ thể để bảo đảm được tính toàn diện,
đồng bộ của các nội dung liên quan như: ba nguyên tắc của pháp luật dân số
nói chung và Pháp lệnh dân số nói riêng. Ngoài ra, các văn bản quy phạm
pháp luật cần quy định về quy mô dân số, cơ cấu dân số, chất lượng dân số.
Tính toàn diện, đồng bộ của chính sách dân số đã góp phần quan trọng trong
việc nâng cao trách nhiệm của công dân, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân trong việc kiểm soát sinh sản, lựa chọn nơi cư trú,
thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số.
Sự thành công trong việc ban hành và thực hiện chính sách DS - KHHGĐ
trong những năm qua đến từ nhiều yếu tố. Hầu hết các tổ chức Đảng, chính
quyền đã coi công tác dân số là bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển
KT - XH, bước đầu chúng ta đã tạo được những cơ sở cho việc thay đổi hành vi
một cách bền vững, hạn chế được tác động tiêu cực của tâm lý xã hội. Tuy
nhiên do chưa nhận thức được hết tính chất khó khăn, phức tạp và lâu dài của
công tác DS - KHHGĐ, ở một số nơi đã xuất hiện những dấu hiệu của sự chủ
quan, thỏa mãn với những thành tích bước đầu trong công tác DS - KHHGĐ.
Có không ít địa phương, chính quyền và cơ quan chức năng đã thể hiện sự
thiếu kiên quyết trong khâu tổ chức thực hiện. Chính vì vậy, công tác dân số
cũng bộc lộ một số hạn chế. Những hạn chế tiêu biểu có thể kể ra đó là:
21