ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------
TRẦN VĂN TRỌNG
THƠ LỤC BÁT
TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2017
i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------
TRẦN VĂN TRỌNG
THƠ LỤC BÁT
TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 62 22 01 20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS LÝ HOÀI THU
TRẦN VĂN TRỌNG
iv
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài ……………………………………………………………… .................. ………..1
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu …………………………………………………… .................. ……….3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ……………………………………………................... ………......3
4. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………………………… ................... …………...3
5. Đóng góp mới của luận án ………………………………………………… .................. ………………....4
6. Cấu trúc luận án ……………………………………………………………………… ................... …………...4
Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. 1. Vấn đề thể loại và thể lục bát …………………………………………………................... …………5
1.1.1. Thể loại nói chung và thơ nói riêng …………………………………… .................. …………...5
1.1.2. Các thể thơ và thể lục bát ……………………………………………………................... ………….8
1.2. Tình hình nghiên cứu thơ lục bát ……………………………………………................... ………..16
1.2.1. Nghiên cứu các vấn đề chung của thơ lục bát ………………………................... ……….16
1.2.2. Nghiên cứu các hiện tượng, tác giả, tác phẩm, phong cách tiêu
biểu của thơ lục bát……………………………………………………………………… ...................………..20
1.2.3. Nghiên cứu về truyền thống và hiện đại trong thơ lục bát ………................... ……..22
Chƣơng 2. THƠ LỤC BÁT - LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN,
ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI
2.1. Lịch sử hình thành, phát triển thể lục bát ……………………………................... ……………24
2.1.1. Nguồn gốc, sự hình thành thể lục bát ………………………………… .................. …………24
2.1.2. Các giai đoạn phát triển của thể lục bát …………………………… ................... ………….26
2.2. Đặc trưng thể loại của thơ lục bát ……………………………………… .................. …………….38
2.2.1. Cấu trúc hình thức thể lục bát ………………………………………… .................. ……………38
4.3.4. Lục bát Bùi Giáng ……………………………………………………………… ................ ………..133
4.3.5. Lục bát Nguyễn Duy ………………………………………………………… ................ ………….137
4.3.6. Lục bát Đồng Đức Bốn …………………………………………………… ................ ………… 142
KẾT LUẬN .......................................................................................................................................... ................147
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ………................. …….151
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………… ................ ………...152
vi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Thơ lục bát là thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam. Nếu như người
Trung Quốc có Đường thi, người Nhật có thơ Haikư, người Anh và người Italia tự
hào vì có thơ Sonnet..., thì chúng ta cũng có quyền tự hào vì có thơ lục bát. Nó từng
được mệnh danh là “quốc phong”, “quốc túy” của thi pháp thơ Việt, là “quốc thi”
của người Việt. Đó là một trong những thể thơ đã có từ lâu đời, tồn tại và phát triển
thông qua lời ăn, tiếng nói của cha ông ta truyền lại cho con cháu, qua tục ngữ, ca
dao và qua các làn điệu dân ca ở khắp mọi miền đất nước. Có thể nói, ở đâu có văn
hóa Việt Nam, ở đó có lục bát. Không thể thơ nào có khả năng bám sát đời sống của
người dân Việt Nam như thơ lục bát. Thơ lục bát đã luôn được các thế hệ nhà thơ
Việt Nam yêu mến và dành nhiều suy cảm để làm mới, hấp dẫn thông qua ngôn từ,
nhạc điệu trong thơ.
Người Việt Nam ai cũng ít nhất một lần trong đời được nghe, được đọc, hoặc
thuộc vài ba câu, vài ba bài thơ thuộc thể lục bát, thậm chí cũng có thể sáng tác một
bài thơ lục bát. Lục bát có trong lời ru ngọt ngào của những người bà, người mẹ, êm
đềm trong làn điệu ca dao, sắc nét trong hát xẩm ký... Lục bát có trong kho tàng thi
ca nước Việt từ những câu nói có vần điệu, đến những câu hò điệu lý, câu hát giao
duyên cho đến những tác phẩm văn học đồ sộ như Truyện Kiều (Nguyễn Du), Lục
quyển lục bát. Dân ta nói vần nói vè chủ yếu bằng lục bát. Dân ta đối đáp giao
duyên, than thân trách phận, tranh đấu tuyên truyền, trào lộng giải trí chủ yếu bằng
lục bát. Và dân ta hát ru các thế hệ, truyền nguồn sữa tinh thần của giống nòi cho
lớp lớp cháu con cũng chủ yếu bằng lục bát. Thơ lục bát không chỉ là hồn của đất
nước, hơi thở của thời đại, bóng dáng của lịch sử, mà sâu xa hơn nó chính là linh
hồn con người non nước này, hồn cốt đời sống người Việt, nó lay động và cuốn hút
con người bởi nó chính là tâm hồn, hình bóng của họ.
Chính sự tích hợp hai phẩm tính truyền thống và hiện đại đã tạo nên giá trị lâu
bền của lục bát trong địa lý thơ ca dân tộc. Nghiên cứu và tìm hiểu thơ lục bát một
cách toàn diện, hệ thống để thấy được những cái hay, cái đẹp truyền thống và thấy
2
cả những sáng tạo mang màu sắc hiện đại của nó là một nhu cầu cấp thiết của tiến
trình văn học Việt Nam, của đời sống dân tộc Việt Nam.
2. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án là thể thơ lục bát với các phương diện
biểu hiện từ khi mới hình thành, qua các giai đoạn phát triển, cho đến hôm nay.
2.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án là các sáng tác tiêu biểu trong tiến trình vận
động lịch sử của thơ lục bát.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài hướng tới mục tiêu là phát hiện và khẳng định giá trị tư tưởng, giá trị thẩm
mỹ của thơ lục bát truyền thống, sự tiếp biến của thơ lục bát hiện đại, các hiện
tượng thơ, các nhà thơ, các phong cách thơ lục bát tiêu biểu.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Luận án làm sáng rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thể loại và thể lục bát, nét
độc đáo của thể lục bát trong các thể thơ, đồng thời phân tích, đánh giá các xu
hướng nghiên cứu thơ lục bát trên các vấn đề chung, đặc biệt là vấn đề truyền thống
nghiên cứu khác.
5. Đóng góp mới của luận án
5.1. Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống thơ lục bát
với cấu trúc, đặc trưng thể loại, những giá trị bền vững, những hiện tượng tiêu biểu
trong diễn trình vận động lịch sử từ truyền thống đến hiện đại.
5.2. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần khẳng định vị thế và đóng góp to
lớn của thơ lục bát cho thi ca, văn nghệ, văn hoá dân tộc, cho cuộc sống đất nước từ
xa xưa đến hôm nay.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thơ lục bát - lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại
Chương 3: Giá trị của thơ lục bát truyền thống
Chương 4: Tiếp biến của thơ lục bát hiện đại
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. 1. Vấn đề thể loại và thể lục bát
1.1.1. Thể loại nói chung và thơ nói riêng
Thể loại văn học là dạng thức tồn tại của chỉnh thể các tác phẩm văn học, nó
phản ánh những khuynh hướng phát triển bền vững và tương đối ổn định của văn
học. Sự vận động của mỗi thời kỳ văn học luôn gắn liền với sự biến động về thể
loại, điều đó biểu hiện rõ sức sống của một nền văn học. Không có một nền văn học
nào, một thời kỳ, một giai đoạn văn học nào được coi là phát triển mà lại đơn điệu
và nghèo nàn về thể loại.
Thể loại vừa rất cổ sơ vừa luôn luôn mới mẻ. Những thay đổi của thể loại, của
cách thức biểu hiện bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa là cảm hứng sáng tạo, tư duy
Việt Nam là thơ lục bát,… Mỗi thể loại cũng thường xuyên tự điều chỉnh để hoàn
thiện chính mình. Nó song song hai quá trình kế thừa truyền thống quá khứ và cách
tân, sáng tạo cái mới.
Một đặc điểm cũng cần phải đề cập đến là tính giao thoa của thể loại. Ranh giới
giữa các thể loại mang tính chất tương đối, không phải là sự ngăn cách và phân chia
tuyệt đối. Giữa các thể loại luôn luôn có hiện tượng giao kết, sự chuyển hoá, thâm
nhập, vay mượn lẫn nhau và từ đó sản sinh ra những thể có thể coi là cầu nối giữa
hai thể loại như thơ văn xuôi, kịch thơ, tiểu thuyết phóng sự v.v…
Thơ là một thể loại trong văn học. Chia theo phương thức biểu hiện, khả năng
phản ánh hiện thực và khả năng vận dụng ngôn ngữ, thơ (trong loại hình trữ tình)
đặt ngang hàng với loại hình tự sự, loại hình kịch. Trong thơ lại có những thể nhỏ
hơn, từ thể bi ca, tụng ca, thơ đồng quê,… cho đến các thể thơ trữ tình trong thời kỳ
hiện đại. Thơ là hình thái văn học đầu tiên của loài người. Suốt một thời gian dài, từ
thế kỷ XVII trở về trước, nói đến văn học tức là nói đến thơ ca.
Thơ có lịch sử lâu dài. Định nghĩa sớm nhất ở châu Âu về thơ có thể bắt đầu từ
nhà triết học người Hy Lạp Aristotle (384 - 322 trước Công nguyên). Ở Việt Nam,
thơ có thể bắt nguồn từ tục ngữ, ca dao mà ra. Những câu có vần điệu, dễ nhớ như
Sấm bên đông, động bên tây vốn là những kinh nghiệm có được thông qua sự từng
trải, sự quan sát các hiện tượng thiên nhiên, mà đúc kết lại, truyền từ đời nọ sang
6
đời kia, giống như một thứ mật mã trong ngôn ngữ để truyền thông tin vậy. Những
đúc kết bao gồm đủ mọi mặt trong cuộc sống, sau này khi được biến thành những
câu ca dao, câu vè, chúng trở thành một hình thức văn nghệ, giải trí.
Thơ sinh ra cùng cuộc sống phong phú, muôn màu muôn vẻ, được nuôi dưỡng
bởi những tâm hồn thiết tha yêu sự sống, yêu cái đẹp. Thơ gắn liền với cảm xúc, với
trí tưởng tượng, tuy nhiên vẫn có một sợi dây vô hình gắn kết thơ với thực tại hiện
hữu xung quanh. Sống với thơ, tâm hồn con người sẽ được “thanh lọc” (Aristotle).
cuộc sống, chống lại sự han gỉ tình người, vượt qua “bi kịch của con người trong
thời đại chúng ta là thừa trí tuệ mà thiếu tâm hồn” như Octavio Paz đã nói trong
Diễn từ khi nhận giải Nobel.
Dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển đã chứng tỏ sự
phong phú, giàu có của kho tàng thơ ca. Những biến chuyển và đổi mới liên tục ở
từng thời kỳ, từng giai đoạn đã mang đến cho thi ca Việt Nam những thay đổi đáng
kể. Trong suốt tiến trình phát triển ấy, các thể thơ ca cổ truyền được sử dụng phổ
biến hơn cả và là cơ sở cho sự hình thành những thể thơ mới. Ban đầu là những
sáng tạo dân gian, dần dần thu nhận những yếu tố mới và nâng cao theo sự tiến triển
của tư duy, cảm xúc, của đời sống con người. Các thể cổ truyền của thơ ca Việt
Nam như thể bốn chữ, năm chữ, bảy chữ, tám chữ, thể lục bát, thể song thất lục
bát,… đều là cơ cở cho sự đổi mới, nhưng những ảnh hưởng đó diễn ra không đồng
đều. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX và cho đến tận ngày nay, trải qua một quá trình
phát triển rất dài, những thể thơ Việt Nam, những thể thơ du nhập của nước ngoài
đều có những dòng, những chặng phát triển và để lại những thành tựu đáng ghi
nhận.
1.1.2. Các thể thơ và thể lục bát
Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng từ ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ
cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một hình thức logic nhất định tạo nên
hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mỹ cho người đọc, người nghe. Từ thơ
thường được đi kèm với từ câu để chỉ một câu thơ, hay với từ bài để chỉ một bài
thơ. Mỗi câu thơ là một hình thức câu cô đọng, truyền đạt một hoặc nhiều hình ảnh,
có ý nghĩa với người đọc, và hoàn chỉnh trong cấu trúc ngữ pháp. Một bài thơ là tổ
hợp của các câu thơ. Tính cô đọng trong số lượng từ, tính tượng hình và dư âm
8
thanh nhạc trong thơ biến nó thành một hình thức nghệ thuật độc đáo, tách biệt hẳn
khỏi các hình thức nghệ thuật khác.
Cấu trúc thơ theo đặc trưng kiểu loại tạo nên các thể thơ. Có nhiều quan niệm về
kiểu loại, nhưng phổ biến hơn cả là quan niệm kiểu loại theo số chữ tạo nên câu thơ,
từ đó định danh thể thơ: thơ bốn chữ, thơ năm chữ, thơ sáu chữ, thơ bảy chữ, thơ
tám chữ, thơ lục bát, thơ song thất lục bát v.v… Mỗi thể thơ có những quy luật kiến
tạo riêng về âm, thanh, vần, điệu; tuy nhiên, trong một số trường hợp vẫn chấp nhận
sự phá cách.
Trong thơ bốn chữ, ở từng câu thơ, nếu tiếng thứ 2 là thanh trắc thì tiếng thứ 4 là
thanh bằng; ngược lại, tiếng thứ 2 bằng thì tiếng thứ 4 trắc: “Bão đến ầm ầm/ Như
đoàn tàu hoả/ Bão đi thong thả/ Như con bò gầy” (Mặt bão - Trần Đăng Khoa).
Trong thơ năm chữ (ngũ ngôn), luật thơ tương tự như thơ bốn chữ: “Hôm nay đi
chùa Hương/ Hoa cỏ mờ hơi sương/ Cùng thầy me em dậy/ Em vấn đầu soi gương”
(Chùa Hương - Nguyễn Nhược Pháp); về cách gieo vần (ở chữ cuối câu), có khi là
vần ba tiếng, hoặc vần ôm, có khi là vần chéo: “Nắng hè đỏ hoa gạo/ Nước sông
Thương trôi nhanh/ Trên đường đê bước rảo/ Gió nam giỡn lá cành” (Tiếng chim tu
hú - Anh Thơ).
Trong thơ sáu chữ, chữ cuối câu có thể được gieo vần chéo: “Quê hương là gì hở
mẹ/ Mà cô giáo dạy phải yêu/ Quê hương là gì hở mẹ/ Ai đi xa cũng nhớ nhiều”
(Quê hương - Đỗ Trung Quân), hoặc gieo vần ôm: “Xuân hồng có chàng tới hỏi/ Em thơ, chị đẹp em đâu?/ - Chị tôi tóc xoã ngang đầu/ Đi bắt bướm vàng ngoài
nội” (Tình sầu - Huyền Kiêu).
Do ảnh hưởng của thể thất ngôn tứ tuyệt trong thơ Đường, thơ bảy chữ vẫn mang
ảnh hưởng thi luật chặt chẽ, nghĩa là hạn định tiếng bằng tiếng trắc trong câu thơ, có
đối, có vần, cả bài theo một vần, thường là vần bằng: “Quanh năm buôn bán ở mom
sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng/ Lặn lội thân cò khi quãng vắng/ Eo sèo mặt
nước buổi đò đông” (Thương vợ - Tú Xương); cũng có khi chỉ cần chữ cuối câu thứ
hai vần với chữ cuối câu thứ tư: “Xa quá rồi em người mỗi ngả/ Bên này đất nước
nhớ thương nhau/ Em đi áo mỏng buông hờn tủi/ Dòng lệ thơ ngây có dạt dào”
(Đôi bờ - Quang Dũng).
10
11
thơ đọc lên mà cứ ngỡ là câu hát hay một bản nhạc, vừa có vần vừa có điệu nghe rất
thanh thoát và êm tai. Có nhiều câu lục bát đã đi vào lòng người như một lời ru:
“Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương/ Nhớ ai dãi
nắng dầm sương/ Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao” (Ca dao). Lại có câu lục bát
khiến người ta nhớ mãi bởi lời thơ ý nhị, sâu sắc: “Anh ngồi uống cạn dòng sông/
Lo em nhan sắc về không có đò” (Lời ru năm tháng - Trương Nam Hương). Không
phải ngẫu nhiên thi sĩ Bùi Giáng khẳng định: “Lục bát Việt Nam là cõi thi ca hoằng
viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu bốn biển ba bảy sông hồ” (Thi ca tư tưởng).
Ba thể thơ lục bát, tuyệt cú và haikư đều là thể thơ cách luật ngắn nhất trong văn
học dân tộc của Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản. Ba thể thơ này có nhiều điểm
giống hoặc gần gũi nhau.
Về sự hình thành, có thể thấy chúng đều có nguồn gốc từ thơ ca dân gian, được
các nhà thơ sống gần gũi với nhân dân tiếp thu và phát triển để rồi đạt đến đỉnh cao
ở các nhà thơ lớn thời trung đại của mỗi dân tộc. Đó là Lý Bạch và Đỗ Phủ ở Trung
Quốc, Basho ở Nhật Bản và Nguyễn Du ở Việt Nam. Đương nhiên đó là nhìn đại
thể, còn con đường hình thành và phát triển của chúng cũng có những sự khác biệt
sẽ đề cập đến sau.
Về mặt tính chất, nếu chỉ xét lục bát ở cấp độ một đơn vị chỉnh thể tối thiểu, tức
là một chu kỳ 6+8, đủ để làm nên một bài lục bát đơn giản nhất, thì cả ba thể thơ
tuyệt cú, haikư và lục bát đều chủ yếu là thể thơ trữ tình. Nói “chủ yếu” là vì trong
quá trình phát triển chúng đều có thể thích dụng với trào phúng, triết lý…
Cả ba thể thơ này đều có một đặc trưng cơ bản giống nhau: hàm súc cao độ.
Điều này như một lẽ đương nhiên và là lý do tồn tại của thể thơ. Bởi vì chúng rất
ngắn, nếu chúng không có khả năng ngụ ý và gợi ý thì chúng đã chẳng có sức sống
lâu bền đến thế. Tiền đề của sự hàm súc là sự ngắn gọn. Trong ba thể thơ, dài nhất
là tuyệt cú cũng chỉ 4 câu với 28 âm (nếu là thất ngôn tuyệt cú) hoặc 20 âm (nếu là
một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” (Truyện Kiều - Nguyễn
Du); “Măng non là búp măng non/ Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre” (Tre
Việt Nam - Nguyễn Duy). Như vậy, trọng tâm ý nghĩa được dồn vào phần cuối là
một đặc trưng thể loại của cả ba thể thơ.
Mặt khác, ba thể thơ này cũng có nhiều điểm khác nhau, trong đó có sự khác
nhau ngay trong những điểm tương đồng.
13
Về nguồn gốc, điểm chung của chúng là bắt nguồn từ trong thơ ca dân gian
nhưng con đường định hình của chúng lại khác nhau. Tên gọi của các thể thơ này
cũng xuất hiện sau trước khác nhau. Cái tên “tuyệt cú” đã được xuất hiện từ đời
Lương (502-557) cách đây 1.500 năm. Thể thơ lục bát được định danh muộn hơn,
khoảng đời Hậu Lê. Còn ở Nhật Bản, thể thơ 3 dòng 5-7-5 đạt đến đỉnh cao ở thế kỷ
XVII với Basho nhưng mãi đến cuối thế kỷ XIX mới được nhà thơ Shiki định danh
là haikư. Thực ra, nguồn gốc, con đường phát triển, định hình và định danh rồi lại
phát triển của ba thể này cần những công trình nghiên cứu công phu tường tận.
Chẳng hạn như thể thơ lục bát ở ta quá chừng quen thuộc nhưng nguồn gốc của nó
cũng còn nhiều ý kiến tranh luận.
Nguồn gốc, con đường phát triển khác nhau của ba thể thơ này cũng phản ảnh vị
trí, số phận của chúng trên văn đàn của mỗi dân tộc cũng như ảnh hưởng của chúng
đến văn học các dân tộc khác. Trong thơ ca của ba dân tộc Trung Quốc, Nhật Bản,
Việt Nam ba thể thơ này đều có vị trí quan trọng nhưng ảnh hưởng của chúng đối
với thơ ca các nước ngoài thì rất khác nhau. Hình thành từ rất sớm (thế kỷ VI), lại
theo con đường ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đến các nước láng giềng “đồng
văn”, thơ tuyệt cú được các nhà thơ Nhật Bản, Việt Nam tiếp thu từ rất sớm, có thể
nói là ngay từ buổi đầu xây dựng nền thơ ca dân tộc. Nhật Bản, từ thế kỷ thứ VII đã
xuất hiện thơ tuyệt cú bằng chữ Hán và cho đến thế kỷ XIX, thơ tuyệt cú vẫn chiếm
tỉ lệ rất cao trong thơ chữ Hán của người Nhật (chẳng hạn trong cuốn Nhật Bản Hán
Người ta có thể sáng tác liền một hơi hai vạn bài haikư nhưng không thành một
truyện thơ. Người ta có thể sáng tác từng chùm tuyệt cú xoay quanh một chủ đề
như Hí vi lục tuyệt cú của Đỗ Phủ, Luận thi thi của Triệu Dực, chùm 100 bài Giang
hành vô đề nhất bách thủ, chùm 315 bài Kỷ Hợi tạp thi của Củng Tự Trân, nhưng
cũng không phải là truyện thơ. Nghĩa là thơ haikư và tuyệt cú không lắp ghép được.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng lắp ghép các chu kỳ lục bát thành truyện
thơ, nhưng hai nguyên nhân có thể coi là cơ bản: một là khả năng “sinh nở” bằng
cách lắp ghép của thể thơ lục bát; một nữa là nhu cầu sáng tác những câu chuyện
(tiểu thuyết) trường thiên, nhưng ở thời trung đại trong văn học Việt Nam thể tài
văn xuôi tự sự chưa kịp phát triển. Người ta bèn dùng hình thức văn vần để sáng tác
truyện. Một điều thú vị là những truyện thơ đầu tiên của người Việt lại không phải
bằng thơ lục bát mà bằng thể thơ Đường luật, như Truyện Vương Tường, Tô Công
15
phụng sứ. Nhưng những thử nghiệm ấy đã không thành công. Chứng cớ là sau đó
không ai làm theo lối ấy nữa và những tác phẩm ấy chỉ được các nhà nghiên cứu
nhắc đến trong văn học sử chứ không được lưu truyền rộng rãi về sau. Lục bát được
thử nghiệm trong diễn ca lịch sử, trong truyện Nôm bình dân thành công, rồi các
nhà thơ lớn cũng dùng nó để viết truyện thơ. Trong ba thể thơ tuyệt cú, haikư và lục
bát, chỉ có lục bát được dùng để sáng tác tác phẩm tự sự trường thiên. Đó là cái
năng lực biến hoá, co giãn tùy nhu cầu của thể lục bát. Thế rồi, đôi khi người ta rút
từng cặp sáu tám ra nó vẫn có thể đứng độc lập có nghĩa được. Chẳng hạn: “Tiếc
thay chút nghĩa cũ càng/ Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng” (Truyện Kiều); “Trai
thời trung hiếu làm đầu/ Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình” (Lục Vân Tiên).
“Khắc xuất khắc nhập” thật linh hoạt. Có so ra như thế mới thấy cái sở trường kỳ
diệu của lục bát Việt Nam.
1.2. Tình hình nghiên cứu thơ lục bát
1.2.1. Nghiên cứu các vấn đề chung của thơ lục bát
vật thể của thế giới.
Vì sao chúng ta tôn vinh thơ lục bát? Vì thơ lục bát có quốc tịch Việt Nam và chỉ
ở Việt Nam ta mới có thơ lục bát. Đại thi hào lục bát Việt Nam được cả hành tinh
này tôn vinh là Danh nhân văn hóa thế giới. Thơ lục bát là nơi hội tụ tinh hoa của
thơ ca dân tộc, bản sắc văn hoá dân tộc. Trong bài Sức sống mãnh liệt của thơ lục
bát, Chu Văn Sơn viết: “Lục bát là phương tiện phổ dụng để người Việt giải toả tâm
sự, ký thác tâm trạng, thăng hoa tâm hồn. Gắn với tiếng Việt, gắn với hồn Việt, thơ
lục bát đã thuộc về bản sắc dân tộc này... Lục bát mãi mãi là một tài sản thiêng liêng
của nền văn hoá Việt. Chừng nào thế giới còn chưa thấu tỏ vẻ đẹp của lục bát,
chừng ấy họ chưa thực sự hiểu vẻ đẹp của thơ Việt. Và, chừng nào ta còn chưa làm
cho thế giới tiếp nhận được vẻ đẹp của lục bát, chừng ấy nền thơ Việt vẫn còn chưa
thực sự làm tròn sứ mạng của mình” (lucbat.vn, 29/12/2013).
1.2.1.2. Khuynh hướng nghiên cứu nguồn gốc, lịch sử, đặc trưng thể loại của thơ
lục bát
Chu Xuân Diên trong Tục ngữ Việt Nam khẳng định sự ra đời của lục bát có chịu
ảnh hưởng và khả năng nhiều bắt nguồn từ trong tục ngữ: “Tục ngữ (vần và nhịp) là
nguồn gốc ra đời lục bát và song thất lục bát”. Bửu Cầm, trong bài Ca dao, nền tảng
văn học dân tộc (Nội san Viện khảo cổ, số 2, Sài Gòn, tháng 3/1956), khẳng định:
17
“Lục bát sinh thành từ ca dao”. Các nhà nghiên cứu Hoa Bằng, Nguyễn Đổng
Chi,… cũng có ý kiến tương tự. Khi viết bài Thể lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều,
Nguyễn Văn Hoàn đã ngầm thừa nhận rằng lục bát bắt nguồn từ ca dao (Tạp chí
Văn học, số 1/1974). Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức tuy chưa đổ nhiều công sức
nhưng cũng đã quan tâm đến vấn đề này trong việc khẳng định lục bát là thể thơ dân
tộc (Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978).
Nguyễn Xuân Kính khi dành 20 trang viết để khảo sát thể thơ này trong ca dao, dù
chỉ phác thảo sơ bộ, cũng ngầm định thể lục bát là thể thơ dân gian (Thi pháp ca
thiệu các thể thơ, luật thơ và cách làm thơ (Hoàng Xuân Soạn, Nxb Văn hoá dân
tộc, Hà Nội, 2004) v.v… Thơ lục bát mới mẻ bởi nó đan xen giữa cổ điển với hiện
đại, giữa mộc mạc của dân gian với uyên thâm của bác học, giữa say đắm của tình
cảm với tỉnh táo của lý trí. Vì vậy nó không chỉ khẳng định được vị trí của mình
trong cái bộn bề của các thể thơ mà nó ngày càng độc đáo, hấp dẫn và cuốn hút bạn
đọc. Tuy nhiên, việc làm thơ lục bát không phải là một công việc đơn giản: “Lục bát
là thể thơ ngỡ như dễ làm, ai cũng làm được nhưng để đạt tới hay thì khó thay, nếu
không nói là khó nhất” (Nguyễn Quang Sáng). Người làm thơ lục bát nếu dụng
công quá, “khôn chữ quá” thì không hay bởi nó thiếu tự nhiên, nó bị gò ép trong cái
khuôn âm luật chật hẹp nhưng đồng thời nếu dễ dãi quá nó cũng “dễ tuồn tuột trở
thành bài thơ thường” (Đinh Nam Khương). Lục bát là một thể thơ có nhiều thành
tựu và chứa đựng trong nó nhiều khả năng biến đổi, cách tân. Vấn đề âm luật, vần,
ngôn ngữ, nhịp điệu, chức năng,… của lục bát đã được xem xét và nghiên cứu dưới
nhiều góc độ, có nhiều công trình công phu dày công tìm hiểu và đưa ra những nhận
xét chính xác, khái quát, như bài viết của Võ Bình (Vần trong thơ lục bát, Tạp chí
Ngôn ngữ, số 2/1985), Mai Ngọc Chừ (Vần, nhịp, thanh điệu và sức mạnh biểu hiện
ý nghĩa của lục bát biến thể, Tạp chí Văn hoá dân gian, Hà Nội, số 2/1989),… Với
công trình Khảo sát một số đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại, tác giả Hồ Văn
Hải đã nghiên cứu thể thơ lục bát dưới góc độ của chuyên ngành ngôn ngữ. Thơ lục
bát có một phẩm chất thẩm mỹ đặc biệt, kết tinh tinh hoa văn hoá - ngôn ngữ dân
tộc, nó thể hiện cảm thức cộng đồng ở mọi thời đại, vì thế nó đồng hành với tiến
trình phát triển văn hoá xã hội.
19