Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ thực tiễn Thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH PHƯƠNG HOA

CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH PHƯƠNG HOA

CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành:
Mã số:

Chính sách công
60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG


2.4. Những hạn chế đặt ra đối với chính sách thu hút FDI của thành phố Hà Nội ...49
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH
SÁCH THU HÚT FDI CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI.........................................61
3.1. Phương hướng hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của thành
phố Hà Nội.............................................................................................................. 61
3.2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thu hút FDI của thành phố Hà Nội..........66
KẾT LUẬN............................................................................................................ 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................. 81


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4

Từ viết tắt
BHTN
BHXH
BHYT
BT

5

BOT

6

BTO

KCN
KH & ĐT
KT - XH
NSNN
NXB CTQG
QLNN
KCX & KCN
TNDN
TP.
UBND
XTĐT
WTO

26

ODA

Ý nghĩa
Bảo hiểm tự nguyện
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
Build - Transfer
Xây dựng - chuyển giao
Build - Operate - Transfer
Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao
Build - Transfer - Operate
Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chính sách kinh tế
Doanh nghiệp

hoạt động tại thời điểm 32/12/2016.........................................................................45
Bảng 2.6: Tốc độ tăng trưởng GRDP của thành phố Hà Nội...................................46
Bảng 2.7: Giá trị hàng hóa xuất khẩu của thành phố Hà Nội...................................47
Bảng 2.8: Dòng chảy FDI giữa các nước trong khu vực (2012 - 2013)...................49
Bảng 2.9: Sai phạm thuế của doanh nghiệp FDI năm 2013.....................................50
Bảng 3.1: Mục tiêu tăng trưởng kinh tế của TP. Hà Nội giai đoạn 2011 – 2030......61
Bảng 3.2: Dự báo nhu cầu và khả năng huy động vốn đầu tư của thành phố Hà Nội 63


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1:

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) thành phố Hà Nội

27

Biểu đồ 2.2:

Số lao động trong khu vực FDI của thành phố Hà Nội

46

Biểu đồ 2.3:

Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố Hà Nội

48

Biểu đồ 2.4:


Đối với nước ta chủ trương tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn FDI được thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước. Văn kiện Đại hội
Đảng lần thứ XII khẳng định: “Tăng cường thu hút FDI có công nghệ cao, thân
thiện môi trường, sử dụng nhiều lao động. Khuyến khích đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng và các ngành công nghiệp hỗ trợ, năng lượng tái tạo, vật liệu mới, điện tử,
công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, giống cây trồng, vật nuôi, đào tạo nhân
lực và chăm sóc sức khỏe chất lượng cao,... Có cơ chế ưu đãi linh hoạt đối với các
dự án đặc thù. Khuyến khích thành lập các trung tâm nghiên cứu triển khai của
doanh nghiệp FDI tại Việt Nam”.
Thành phố Hà Nội là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội của đất
nước và là một trong những địa phương dẫn đầu trong việc thu hút vốn FDI. Trong
những năm qua, FDI đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, tạo
động lực đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
8


chuyển giao công nghệ, chủ động trong hội nhập kinh tế với khu vực và trên thế
giới của thủ đô.
Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực, hoạt động thu hút FDI thời gian
qua ở Việt Nam nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng cũng gây ra những tác
động tiêu cực, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển KT - XH của thành phố. Một
trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những tác động tiêu cực là môi trường
chính sách đối với FDI vẫn còn nhiều bất cập, chưa được hoàn thiện, gây khó khăn
phiền hà các nhà đầu tư. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài và một số chuyên gia kinh tế
Việt Nam gần đây đã đưa ra cảnh báo, nếu không tiếp tục cải thiện môi trường đầu
tư hơn nữa Việt Nam có thể bị tụt lại so với các quốc gia trong khu vực trong thu
hút các dự án FDI.
Vì vậy, nghiên cứu thực trạng chính sách thu hút FDI của Hà Nội nhằm làm rõ
những điểm mạnh, những hạn chế của các chính sách và nguyên nhân của chúng,
trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách của Thành phố là đề tài

- Trần Quang Lâm - An Như Hải (2006), Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt
Nam hiện nay, NXB CTQG, Hà Nội và Nguyễn Bích Đạt (2006), “Khu vực kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam, NXB CTQG, Hà Nội. Nội dung hai cuốn sách nêu lên một cách khái
quát về những vấn đề lý luận chung nhất của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài ở Việt Nam, và những giải pháp cho Việt Nam để tận dụng được tốt nhất
những lợi ích mà khu vực kinh tế này mang lại và hạn chế tối đa những rủi ro có thể
gặp phải.
- Nguyễn Hoài Long (2008), Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của địa
phương trong việc thu hút đầu tư, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số tháng 9. Bài báo
phân tích các nhân tố, các điểm mạnh, điểm yếu ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh
của các địa phương trong việc thu hút đầu tư. Từ đó, bài báo gợi mở cho các địa
phương hướng đi hợp lý để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
- Phạm Việt Dũng (tháng 2, 2013), Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài, Tạp chí Cộng sản, (số 844), tr.71-75. Tác giả tập trung chỉ ra những


biện pháp chung nhất và những biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam hiện nay.
- Trần Thanh Tùng (2011), Thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của
Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận
chính trị - Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn hệ thống hóa một số vấn đề lý luận
về thu hút và sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đồng thời đưa ra và phân
tích kinh nghiệm thực tiễn về thu hút, sử dụng FDI của một số thành phố trên thế
giới để rút ra bài học kinh nghiệm cho Hà Nội. Phân tích và đánh giá thực trạng thu
hút, sử dụng FDI trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2000 - 2009. Đề xuất một
số giải pháp nhằm đổi mới việc thu hút, sử dụng FDI của thủ đô Hà Nội, giai đoạn
2010 - 2020.
- Nguyễn Thị Thìn (2012), Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với việc
nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế,

- Đề xuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chính sách thu
hút FDI trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) của thành phố Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng chính sách thu hút FDI tại
thành phố Hà Nội; phân tích và đánh giá những ưu điểm và hạn chế của các chính
sách; trên cơ sở đó đề xuất những phương hướng và giải pháp phù hợp.
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu chính sách thu hút FDI trên địa bàn thành phố
Hà Nội mở rộng (gồm 29 quận, huyện, thị xã).
- Về thời gian: Luận văn phân tích, đánh giá tình hình chính sách thu hút FDI của
thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2016 và đề ra các giải pháp đến năm 2030.


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin: nguồn thông tin và số liệu là các nguồn thứ cấp,
được thu thập từ các nguồn thôn tin được công bố chính thức từ các cơ quan nhà
nước các cấp, các nghiên cứu của các cá nhân tổ chức trong và ngoài nước về chính
sách thu hút FDI tại Việt Nam nói chung và tại Hà Nội nói riêng (bao gồm các báo
cáo của WB, IMF, VCCI, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Sở kế hoạch và Đầu tư thành phố
Hà Nội, Cục thống kê Hà Nội,…), tài liệu từ các trang Web trên Internet, các công
trình nghiên cứu và các tài liệu khác có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp xử lý thông tin, số liệu đã thu thập: Sử dụng phương pháp phân bổ
thống kê để hệ thống hóa, tổng hợp tài liệu; phân chia theo các nội dung phù hợp
với việc nghiên cứu về chính sách thu hút FDI tại địa bàn nghiên cứu.
Công cụ sử dụng tính toán trong luận văn là phần mềm máy tính Excel.
- Phương pháp phân tích định tính: nhằm phân tích và đánh giá thực trạng chính sách
thu hút FDI của thành phố Hà Nội, làm rõ những ưu điểm cũng như hạn chế của các

1.1. Cơ sở lý luận về chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những hình thức của đầu tư
quốc tế, được đặc trưng bởi quá trình di chuyển tư bản giữa các quốc gia và các
vùng lãnh thổ trên thế giới.
Ủy ban Liên hợp Quốc về Thương mại và phát triển (UNCTAD) cũng đã đưa
ra định nghĩa: “FDI là hoạt động đầu tư bao gồm mối quan hệ dài hạn, phản ánh
lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế
(nhà đầu tư nước ngoài hoặc công ty mẹ nước ngoài) trong một doanh nghiệp
thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài
(doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trực tiếp, doanh nghiệp liên doanh hoặc chi
nhánh nước ngoài)”. [49, tr. 465]
Năm 2005, Luật đầu tư của Việt Nam được điều chỉnh và đã đưa ra định
nghĩa: “FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các
tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”. [19, Điều 3, Chương I]
Như vậy, mặc dù còn nhiều quan niệm khác nhau về FDI, nhưng theo tác giả
luận văn có thể rút ra một kết luận chung là: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình
thức mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư
tại một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ khác nhằm mục đích kinh doanh có lãi.
Qua định nghĩa trên cho thấy bản chất của FDI là đầu tư, là hoạt động tìm
kiếm lợi nhuận bằng con đường kinh doanh của chủ ĐTNN. Bởi thế, FDI mang
những đặc điểm quan trọng khác với các hình thức đầu tư khác như sau:


Thứ nhất, FDI là loại hình chu chuyển vốn quốc tế, trong đó chủ sở hữu vốn
đầu tư là nước ngoài, tiến hành hoạt động đầu tư ở nước ngoài, có nghĩa là doanh
nghiệp tiếp nhận vốn FDI không thuộc quốc gia của chủ đầu tư.
Thứ hai, FDI gắn liền với việc di chuyển các yếu tố đầu tư ra khỏi biên giới
quốc gia. Các yếu tố đầu tư có thể là tài sản vô hình hoặc tài sản hữu hình. Ngoài ra,

chủ định hành động hoặc không hành động, thay vì những tác động của các lực
lượng có quan hê với nhau”. Quan niệm khác lại cho rằng chính sách là những hành
động có tính toán của chủ thể để đối phó với đối tượng quản lý theo hướng đồng
thuận hay phản đối. [1, tr.46]
Như vậy, có thể thấy khó có thể đưa ra một định nghĩa duy nhất đúng về chính
sách. Các chính sách đôi khi có thể được nhận thấy dưới hình thức các quyết định
đơn lẻ, nhưng thông thường nó bao gồm một tập hợp các quyết định hoặc được nhìn
nhận như là một sự định hướng hành động cụ thể. Những nỗ lực đưa ra các định
nghĩa khác nhau về chính sách cũng hàm ý rằng khó có thể xác định được thời điểm
cụ thể mà chính sách cần được ban hành. Chính sách thường sẽ tiếp tục tiến hóa
trong giai đoạn thực hiện, chứ không chỉ cố định như trong giai đoạn hoạch định
chính sách.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để
thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất
định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của
chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính tri, kinh tế, văn
hóa.”
- Khái niệm chính sách kinh tế
Chính sách kinh tế đề cập đến các hành động của chính phủ áp dụng vào lĩnh
vực kinh tế trong một giai đoạn, một thời kì lịch sử, nhằm đạt được những yêu cầu
và những mục tiêu kinh tế, chính trị nhất định. Chính sách có thể mang tính chất
đường lối, chiến lược lâu dài, có thể mang tính chất sách lược ngắn hạn. CSKT
được xây dựng trên cơ sở những điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và những
xu hướng phát triển của xã hội. CSKT thường bị chi phối từ các chính đảng, nhóm
lợi ích có quyền lực trong nước, các cơ quan quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân
hàng thế giới hay tổ chức thương mại thế giới. [19]


Ở Việt Nam, CSKT hiện nay của Nhà nước là xây dựng nền kinh tế sản xuất
hàng hoá nhiều thành phần phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện

thu hút đầu tư nước ngoài vào trong nước và chính sách đầu tư ra nước ngoài.
- Khái niệm chính sách thu hút FDI
Có thể thấy rằng, chính sách FDI là một bộ phận của chính sách kinh tế đối
ngoại, được ban hành nhằm thu hút đầu tư nước ngoài để tận dụng các nguồn lực
trong nước như tài nguyên, đất đai, lao động, phục vụ cho việc hoàn thành các mục
tiêu kinh tế vĩ mô đã định. Chính sách thu hút FDI của nhà nước là các quyết định
thu hút đầu tư nước ngoài theo quy hoạch tổng thể của nền kinh tế để phát triển kinh
tế, đảm bảo sự phân bổ hợp lý về lực lượng sản xuất, sử dụng có hiệu quả nguồn lực
quốc gia nhằm hoàn thành các mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản. Chính sách thu hút
FDI còn là cầu nối quan trọng nối liền nền kinh tế quốc gia vào hệ thống phân công
lao động quốc tế.
Một cách khái quát, có thể hiểu chính sách thu hút FDI như sau: Chính sách
thu hút FDI bao gồm một hệ thống các quyết định thích hợp mà nhà nước áp dụng
để điều chỉnh các hoạt động thu hút và sử dụng FDI vào các ngành, các lĩnh vực
của nền kinh tế quốc gia trong một thời kỳ nhất định, nhằm đạt được mục tiêu kinh
tế vĩ mô đã định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó.
1.1.2. Đặc điểm của chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.1. Tính hệ thống
Chính sách thu hút FDI phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích của nước chủ nhà
và lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài, do vậy có tính hệ thống cao. Tính hệ
thống được thể hiện ở tập hợp các nguyên tắc, công cụ, biện pháp thực hiện và mối
liên hệ tác động qua lại giữa chúng. Tính hệ thống còn được biểu hiện ở sự gắn kết
và phù hợp với định hướng chiến lược phát triển quốc gia, các nguyên tắc và cam
kết quốc tế.
1.1.2.2. Mục đích của chính sách thu hút FDI là thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI
Một mặt, chính sách thu hút FDI hướng tới việc bảo vệ lợi ích của các nhà đầu
tư nước ngoài, đặc biệt là bảo hộ quyền sở hữu (về vốn, bí quyết kinh doanh, nhãn
hiệu hàng hóa). Chính sách thu hút FDI phải rõ ràng minh bạch trong quá trình




1.1.3.3. Nhóm chính sách bổ sung
Nhóm chính sách bổ sung cho hai nhóm trên bao gồm các quy định về sở hữu,
các quy định về xuất nhập khẩu, bảo vệ môi trường, sử dụng đất, chính sách về lao
động, thị trường,…
1.1.4. Vai trò của chính sách thu hút FDI
1.1.4.1. Đối với nước tiếp nhận FDI
- Thể hiện rõ ràng quan điểm của nước chủ nhà đối với thu hút FDI (mục đích, quy
định lĩnh vực đầu tư, ưu đãi và bảo hộ đối với FDI,…)
- Tạo khung khổ pháp lý ổn định để thu hút và điều tiết nguồn vốn FDI theo mục tiêu
của nước chủ nhà.
- Chính sách hoạch định đúng sẽ tạo điều kiện huy động các nguồn lực FDI (vốn,
công nghệ, kinh nghiệm quản lý) một cách hiệu quả, phù hợp với định hướng phát
triển chung.
- Là công cụ quan trọng góp phần định hướng hành vi của các chủ thể kinh tế có yếu
tố nước ngoài hướng tới mục tiêu phát triển chung của đất nước.
- Để giải quyết những vấn đề bức xúc phát sinh và điều tiết những mất cân đối,
những hành vi không phù hợp, nhằm tạo một hành lang pháp lý cho các hoạt động
đầu tư nước ngoài theo các mục tiêu đã đề ra.
1.1.4.2. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài
- Là đối tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách thu hút FDI (Tác động trực tiếp
đến sở hữu vốn, sở hữu trí tuệ, mục tiêu lợi nhuận của nhà ĐTNN).
- Chính sách thu hút FDI là căn cứ để các nhà ĐTNN xem xét lợi ích thu được từ dự
án đầu tư (lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, đối tác kinh doanh,…)
- Là cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp phát sinh.
- Là cơ sở để bảo vệ tài sản và lợi ích hợp pháp.
1.1.4.3. Đối với các nhà đầu tư trong nước
- Tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho tất cả các nhà đầu tư
- Tạo sự bình đẳng trong ứng xử của chính phủ đối với các nhà đầu tư trong và ngoài
nước.

114,734

123,985

2012

2013

121,080 123,911

đầu tư
(Nguồn: UNCTAD, Báo cáo đầu tư Thế giới 2014)
Chính sách thu hút FDI của Trung Quốc bao gồm các chính sách cơ bản sau:
- Hoàn thiện cơ sở pháp lý đối với FDI: Năm 1979, Luật liên doanh cổ phần
giữa nhà đầu tư nước ngoài và Trung Quốc và Luật liên doanh hợp đồng hợp tác
kinh doanh được thông qua, đánh dấu bước chuyển hướng cơ bản từ chính sách
đóng cửa sang cải cách, mở cửa nền kinh tế, đặt nền móng cho quá trình hình thành
khuôn khổ pháp lý đối với FDI ở Trung Quốc. Năm 1986, Trung Quốc ban hành
Luật doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, quy định về khuyến khích đầu tư nước
ngoài với 22 điều khoản, đơn giản hóa thủ tục liên doanh. 04/1986, ba luật trên
được hợp nhất và sửa đổi thành Luật các doanh nghiệp sử dụng vốn FDI. Năm
1991, Luật thu nhập thống nhất đối với các doanh nghiệp FDI chấm dứt tình trạng
phân biệt đối xử đối với các hình thức FDI khác nhau. Cuối năm 1992, thông qua
chính sách mới cho phép các công ty nước ngoài đầu tư vào nhiều lĩnh vực trước đó
còn bị cấm hoặc hạn chế như: dịch vụ bán lẻ, bất động sản, vận tải, tài chính ngân


hàng và được thành lập các công ty cổ phần. Từ năm 1993, một loạt các luật và quy
định mới được thông qua như: Luật bản quyền, Quy định về bảo vệ phần mềm, Luật
phát minh sáng chế sửa đổi, Luật nhãn hiệu, Luật công ty, Luật chứng khoán, Luật

giảm ½ trong 3 năm tiếp theo.
+ Chính sách tiền tệ: Trung Quốc chủ trương sử dụng chính sách tiền tệ thắt
chặt nhằm đảm bảo sự ổn định cho hệ thống tài chính tiền tệ của Trung Quốc, hạn
chế nghiêm ngặt việc sử dụng đồng ngoại tệ như đô la Mỹ trong nội địa, duy trì một
tỷ giá đồng Nhân dân tệ yếu so với đồng đô la Mỹ. Chính sách này phù hợp với
định hướng chiến lược phát triển kinh tế của Trung Quốc là đẩy mạnh xuất khẩu
đồng thời ngăn chặn nguy cơ của khủng hoảng tài chính tiền tệ. [13]
1.2.1.2. Kinh nghiệm của Bangkok, Thái Lan
Là một nước có khá nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, Thái Lan đã sớm
có những nhận thức đúng đắn về nguồn vốn FDI để phát triển đất nước. Thái Lan có
thị trường thu hút đầu tư rất cạnh tranh và hấp dẫn trong khu vực châu Á. Nhật Bản,
Hàn Quốc, Trung Quốc chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn FDI vào Thái Lan.
Thái Lan là một quốc gia có nền nông nghiệp tương đồng với Việt Nam,
thậm chí những điều kiện còn hạn chế hơn so với Việt Nam, tuy nhiên, Thái Lan đã
vươn lên trở thành một nước đứng đầu về xuất khẩu nông sản và với giá trị nông
sản xuất khẩu cao hơn hẳn so với Việt Nam. Nguyên nhân có được điều đó là do
Thái Lan đã định hướng FDI vào việc khai thác đặc sản của từng vùng thậm chí cả
những vùng khó khăn nhất. Chính sách này làm cho nền nông nghiệp Thái Lan có
được những lợi thế về chất lượng và giá cả trên thị trường nông sản thế giới và hơn
nữa, nông sản Thái Lan đã tạo được một thương hiệu tốt trên thị trường, điều mà
nông sản Việt vẫn đang tìm kiếm.
Trong chiến lược mới được Thái Lan thông qua đầu tháng 9/2014, để bắt kịp
với AEC nhằm thu hút thêm vốn FDI, Thái Lan và Bangkok sẽ tiếp tục ưu tiên thu
hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, chế biến và phân phối hàng nông sản, khai
khoáng, công nghiệp nhẹ, chế tạo máy và thiết bị vận tải, thiết bị điện và điện tử,
hóa chất, sản xuất nhựa, giấy, dịch vụ, phát triển khu sinh thái, xa dựng hệ thống


bệnh viện hiện đại và cơ sở hạ tầng như quy hoạch đường giao thông liên khu vực
nối với Lào và Myanmar,…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status