Xây dựng và phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam - Pdf 45

LỜI NÓI ĐẦU
Sau khi giành độc lập Đảng và Nhà nước chủ trương xây dựng Việt Nam
thành nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ
nghĩa (TBCN). Xây dựng Nhà nước ta thành Nhà nước của dân, do dân và vì
dân, lấy dân làm gốc. Đảng cũng đã xác định nước ta trước kia là nước nửa thuộc
địa phong kiến, nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, xuất phát thấp đi lên chủ nghĩa
xã hội (CNXH).
Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước đã xây dựng một hệ thống các chính
sách nhằm phát triển trong thời gian dài, trải qua nhiều giai đoạn.
Đại hội VI (1986) của Đảng là mốc lịch sử quan trọng trên con đường đổi
mới và phát triển kinh tế của nước ta . Đại hội VI đã xem xét lại một cách căn
bản những vấn đề xây dựng CNXH và từ đó đưa ra quyết định chuyển đổi nền
kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của
nhà nước . Đó là nền kinh tế có nhiều thành phần kinh tế, , đa dạng hóa hình thức
sở hữu. Nhà nước quản lý nền kinh tế thông qua các kế hoạch phát triển và hiến
pháp, pháp luật, sử dụng hình thức phân phối theo lao động là chủ yếu đi đôi với
phát triển sản xuất là từng bước nâng cao đời sống nhân dân, giải quyết các vấn
đề xã hội.
Trên cơ sở những học thuyết về KTTT và KTTT của nước ta trong giai đoạn
hiện nay, tôi đã chọn đề tài: “ Xây dựng và phát triển KTTT định hướng XHCN
ở Việt Nam” Qua nghiên cứu vấn đề này đã giúp cho tôi hiểu sâu hơn và nắm
vững hơn những chính sách của Đảng và Nhà nước để phát triển kinh tế nước ta
và những thành tựu, hạn chế, giải pháp và hướng phát triển đúng đắn của Đảng
và Nhà nước trong quá trình đổi mới nền kinh tế nước ta .
1
Phần thứ nhất
LÝ LUẬN VỀ SỰ HÌNH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG (KTTT)
I.1. Những tiến trình kinh tế khách quan của sự hình thành và
phát triển kinh tế hàng hóa – KTTT

thù là định hướng XHCN, lấy mục tiêu và những nguyên lý xây dựng xã hội mới
XHCN làm chủ đạo trong quá trình kết hợp.
Với tư cách là cái chung – KTTT – đòi hỏi trong quá trình kết hợp phải tạo
lập và vận dụng nghiêm túc và đồng bộ các yếu tố như cơ sở kinh tế mang tính
đa dạng về sở hữu và thành phần kinh tế: các phạm trù kinh tế vốn có của KTTT
như hàng hóa, tiền tệ, thị trường, cạnh trang, cung cầu, giá cả và lợi nhuận: các
quy luật kinh ế củ KTTT như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu
thông tiền tệm quy luật cạnh tranh: cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước. Với tư cách là cái đặc thù - định hướng
XHCN – trong quá trình kết hợp phải tuân theo các mục tiêu, nguyên tắc và
những nhiệm vụ kinh tế cơ bản hướng đến mục tiêu và các đặc trưng của CNXH
mà nước ta cần xây dựng. Đó là mục tiêu độc lập dân tộc gắn với CNXH, phát
triển lực lượng sản xuất, tăng trưởng và phát triển nền kinh tế bền vững đặt dưới
sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, của dân do dân và vì dân. Lấy
việc giải phóng sức sản xuất làm căn cứ chủ yếu để hoạch định cơ cấu loại hình
và hình thức sở hữu cũng như thành phần kinh tế tập thể làm nền tảng của chế độ
3
XHCN. Thực hiện chế độ phân phối đa dạng vừa có nguyên tắc phân phối theo
kiểu KTTT vừa có phân phối theo nguyên tắc CNXH.
Trong việc kết hợp giữa KTTT và định hướng XHCN phải lấy định hướng
XHCN làm chủ đạo. Đây là nguyên tắc cơ bản vì chúng ta không chủ trương xây
dựng mô hình KTTT bất kỳ, trừu tượng hay mô hình KTTT TBCN mà xây dựng
KTTT định hướng XHCN. Vì vậy lấy định hướng XHCN làm chủ đạo là nguyên
tắc cơ bản chi phối lương tâm trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành và toàn xã
hội.
2.TÍNH TẤT YẾU TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN KTTT DƯỚI CNXH
2.1- Phân công lao động xã hội
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội ra thành các
ngành, các nghề khác nhau của nền sản xuất xã hộ. Phân công lao động xã hội đó
là việc mỗi người lao động chỉ chuyên môn sản xuất một loại sản phẩm cho nhu

định. Nó là một phạm trù vĩnh viễn.
Giá trị hàng hóa: Đó là thuộc tính xã hội của hàng hóa. Là lao động của con
người sản xuất hàng hóa được kết tinh trong hàng hóa và là giá trị biểu hiện quan
hệ sản xuất giữa người với người được biểu hiện thành quan hệ giữa vật và vật.
b) Tiền tệ:
Bản chất của tiền tệ đó là một hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang
giá nói chung cho các loại hàng hóa khác. Khi tiền tệ ra đời thì thế giới hàng hóa
5
được phân chia thành hai cực: Một bên là cực hàng hóa thông thường, một bên là
cực hàng hóa đóng vai trò là tiền tệ.
Tiền tệ có các chức năng đặc biệt: Thước đo giá trị, phương tiện lưu thông,
phương tiện cất giữ, phương tiện thanh toán, tiền tệ thế giới ( trao đổi mua bán
vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới)
c) Giá cả
Giá cả thị trường là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thường được hình
thành trên thị trường do sự thỏa thuận của người bán và người mua. Giá cả thị
trường phản ánh quan hệ cung cầu - cầu về hàng hóa khi thị trường nào đó chịu
sự biến động của giá cả thì sẽ có tác động đến người bán và người mua. Khi cầu
cao hơn cung thì người bán tăng giá điều đó thúc đẩy người sản xuất mở rộng
quy mô để làm tăng cung. Trong trường hợp cung cao hơn cầu giá cả giảm
xuống thì người sản xuất sẽ giảm quy mô để làm giảm cung cuối cùng để làm
cân đối quan hệ giữa cung và cầu.
Giá cả thị trường có các chức năng như . Giá cả dưới dạng thông tin, tin tức
của giá cả trên thị trường sẽ giúp cho các đơn vị kinh tế các cá nhân, người tiêu
dùng, đưa ra những quyết định và sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của mình.
Giá cả phân bố các nguồn lực khi giá cả biến động thì các nguồn lực sản xuất sẽ
di chuyển giữa các ngành ( lao động, tư liệu sản xuất ).
d) Lợi nhuận
Lợi nhuận là giá trị thặng dư được quan niệm là kết quả của toàn bộ tư bản
ứng trước được gọi là lợi nhuận. Lợi nhuận là hình thái biến tướng của giá trị

của hàng hóa . Lưu thông tiền tệ và lưu thông hàng hóa là hai mặt của quá trình
thống nhất nhau. Lưu thông tiền tệ xuất hiện dựa trên cơ sở của lưu thông hàng
hóa . ở mỗi thời kỳ nhất định lưu thông hàng hóa bao giờ đòi hỏi một lượng tiền
cần thiết cho sự lưu thông hàng hóa bao giờ cũng đòi hỏi một lượng tiền cần
thiết cho sự lưu thông. Số lượng tiền này được xác định bởi quy luật tiền tệ. Quy
luật này được xác định như sau: Số tiền cần thiết trong lưu thông bằng tổng số
giá cả hàng tổng só giá hàng hóa bán chịu và tổng số giá cả hàng hóa bán chịu
đến kỳ thanh toán. Tất cả chia cho số lần luân chuyển trung bình của tiền tệ.
Ngoài ra còn có quy luật cạnh tranh…
8
Phần thứ hai
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
1. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CHUYỂN TỪ CƠ CHẾ KẾ
HOẠCH HÓA TẬP TRUNG SANG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG CÓ SỰ
QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC
Đại hội VII của Đảng đã xác định đổi mối cơ chế kinh tế ở nước ta là một tất
yếu khách quan. Đổi mới để nâng cao chất lượng cuộc sống, để phát triển kinh tế
phù hợp với xu thế phát triển chung của kinh tế thế giới bởi vì chúng ta chịu ảnh
hưởng lớn của cuộc khủng hoảng hệ thống XHCN ở Liên Xô, Đông Âu và thế
giới. Chúng ta đã trải qua thời gian dài nằm trong cơ chế cũ : đó là cơ chế kế
hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp. Nền kinh tế này hoạt động dựa trên chế
độ về công hữu về tư liệu sản xuất phân phối theo kiển bình quân chủ nghĩa, cơ
chế cũ này đã tồn tại trong một thời gian khá dài, từ sau 1945 đến 1986 nó đã
không còn tác dụng đáng kể trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển mà còn sinh
ra nhiều hiện tượng tiêu cực làm giảm năng suất chất lượng và hiệu quả của sản
xuất.
Nhà nước can thiệp quá sâu vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp , làm cho các doanh nghiệp có tư tưởng chậm tiến, ỷ lại dù sản
xuất có lãi hay không đều được Nhà nước bảo hộ. Và các doanh nghiệp muốn

thời kỳ quá độ lên CNXH. Vì vậy phát triển KTTT là một tất yếu khách quan,
chỉ có vậy ta mới khai thác được nguồn lực kinh tế, nâng cao được hiệu quả kinh
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status