Nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý của Chi Cục Dự trữ Nhà nước Sơn La – Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Tây Bắc giai đoạn 2015 – 2020 - Pdf 45

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
----------

LÊ TIẾN DŨNG

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CỦA CHI CỤC
DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC SƠN LA – CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC
KHU VỰC TÂY BẮC GIAI ĐOẠN 2015 - 2020

ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CCLL CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

Hà Nội, tháng 9 năm 2015


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
----------

ĐỀ ÁN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CỦA CHI CỤC
DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC SƠN LA – CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC
KHU VỰC TÂY BẮC GIAI ĐOẠN 2015 - 2020

Người thực hiện:

Lê Tiến Dũng

Lớp:

CCLLCT – HC Sơn La, K8 (2013 - 2015)

Sơn La, tháng 9 năm 2015
Người viết

Lê Tiến Dũng


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNTT
DTNN
DTQG
ĐN
GDP
QLDTVT NN
TB
TCVN
XHCN

Công nghệ thông tin
Dự trữ Nhà nước
Dự trữ quốc gia
Đông nam
Tổng sản phẩm quốc nội
Quản lý Dự trữ vật tư Nhà nước
Tây bắc
Tiêu chuẩn Việt Nam
Xã hội chủ nghĩa


MỤC LỤC



2
Khi sản xuất hàng hóa và nền kinh tế thị trường phát triển. Nhà nước nào có
tiềm lực dự trữ đủ mạnh và hợp lý, sẽ trở nên vững vàng trước các biến cố.
Ngày nay trên thế giới, mặc dù có chế độ chính trị khác nhau, nhưng
Nhà nước nào cũng phải tổ chức và chăm lo quỹ "Dự trữ Quốc gia". Các nước
có nền kinh tế phát triển và cả những nước nghèo đều quan tâm củng cố tiềm
lực dự trữ và sử dụng nó rất hữu hiệu như: khi xảy ra chiến tranh vùng Vịnh,
chỉ trong ít ngày Mỹ đã tung ra 4 triệu tấn xăng dầu Dự trữ Quốc gia để đảm
bảo cho nhu cầu chiến tranh và đầu năm 2000 khi giá dầu trên thế giới tăng
trên 35 USD/ thùng thì Mỹ đã xuất 30 triệu thùng dầu Dự trữ Quốc gia để giữ
giá xăng dầu trong nước không tăng; Nhật Bản dự trữ xăng dầu đủ dùng trong
7 tháng với tổng khối lượng 40 triệu tấn. Chỉ tính riêng gạo Indonesia có mức
dự trữ bình quân 16kg/người/năm; Ấn Độ 39,5kg/người/năm; Malaysia dự trữ
cho toàn dân ăn đủ trong một tháng; Trung Quốc hiện có 250 triệu tấn lương
thực Dự trữ Quốc gia và 130 triệu tấn dự trữ trong dân bảo đảm cho 1,2 tỷ
người ăn trong 6 tháng ... và tiềm lực Dự trữ Quốc gia của các nước đều tăng
hàng năm so với GDP. Còn ở Việt Nam xăng dầu dự giữ Quốc gia chỉ đủ
dùng trong khoảng 5 ngày, phấn đấu mức dự trữ xăng dầu đến năm 2020 là
đáp ứng nhu cầu cho 10 ngày sử dụng và lương thực Dự trữ Quốc gia chỉ bảo
đảm được 3 ngày cho toàn dân.
Ở nước ta, cách đâu hàng ngàn năm, Dự trữ Quốc gia đã được chú
trọng tới. Ngay thời nhà Lý, Uy minh hầu Nhật Quang đã cho đặt kho lương
thực ở các nơi để thu thuế mà chứa sẵn phòng cấp quân lương. Lê Lợi vị anh
hùng dân tộc, người đã lãnh đạo dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống giặc
Minh đã coi binh, lương hai việc ấy trong lúc gây dựng nước nhà là vô cùng
bức thiết, công trạng giữ gìn căn cứ ngang với công đánh giặc. Ngay từ khi
nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, phát huy truyền thống "Tích cốc,
phòng cơ" của dân tộc ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động và tổ chức

+ Hệ thống Dự trữ Quốc gia bao gồm: Tổng Cục dự trữ nhà nước quản
lý trực tiếp và Tổng cục dự trữ nhà nước quản lý gián tiếp các bộ ngành khác
về dự trữ.
+ Hoạt động dự trữ quốc gia là việc xây dựng, thực hiện chiến lược,
quy hoạch, kế hoạch, dự toán ngân sách về dự trữ quốc gia; xây dựng hệ
thống cơ sở vật chất - kỹ thuật; quản lý, điều hành và sử dụng dự trữ quốc gia.
+Điều hành dự trữ quốc gia là hoạt động quản lý, nhập, xuất, mua, bán,
bảo quản, bảo vệ hàng dự trữ quốc gia.
+ Nguyên tắc quản lý, sử dụng hàng dự trữ quốc gia:


7
- Hàng dự trữ quốc gia phải được quản lý chặt chẽ, an toàn, bí mật theo
quy định của pháp luật; chủ động đáp ứng kịp thời yêu cầu, mục tiêu của dự
trữ quốc gia. Hàng dự trữ quốc gia sau khi xuất phải được bù lại đủ, kịp thời.
- Hàng dự trữ quốc gia phải được sử dụng đúng mục đích, đúng quy
định của pháp luật; không được sử dụng hàng dự trữ quốc gia để kinh doanh.
+Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia là bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ trực tiếp quản lý hàng dự trữ quốc gia theo phân công
của Chính phủ.
+ Đơn vị dự trữ quốc gia là tổ chức thuộc bộ, ngành quản lý hàng dự
trữ quốc gia được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý, nhập, xuất, mua, bán, bảo
quản, bảo vệ hàng dự trữ quốc gia.
+ Các đơn vị Dự trữ Quốc gia có trách nhiệm từng bước hoàn thiện,
hiện đại và bố trí theo quy hoạch, đặt tại các vùng chiến lược kinh tế - quốc
phòng của đất nước bằng hệ thống kho dự trữ Quốc gia, vừa đảm bảo an toàn
bí mật, vừa thuận tiện cho việc nhập, xuất hàng.
+ Về quản lý hàng dự trữ quốc gia: Vừa thực hiện chức năng quản lý
Nhà nước trong lĩnh vực dự trữ, vừa quản lý trực tiếp một số mặt hàng của dự
trữ Quốc gia như: Thóc, gạo, nhà bạt cứu sinh, kim khí, xe máy, thiết bị ... chủ

tiến vào lĩnh vực bảo quản và quản lý dự trữ Quốc gia; Từng bước đổi mới và
hiện đại hóa hệ thống kho tàng, trang thiết bị và công nghệ bảo quản hàng hóa
dự trữ
+ Chỉ đạo thực hiện việc mua, bán, tăng, giảm lực lượng hàng dự trữ
Quốc gia được Chính phủ giao cho Cục trực tiếp quản lý. Được trực tiếp xuất
nhập khẩu một số hàng phục vụ cho dự trữ Quốc gia theo quyết định của Thủ
tướng Chính phủ.
+ Tổ chức hợp tác Quốc tế về lĩnh vực dự trữ Quốc gia theo quy định
của Chính phủ.


9
+ Xây dựng quy hoạch, kế hoạch và tổ chức thực hiện việc đào tạo, bồi
dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ công chức, viên chức Ngành dự
trữ Quốc gia.
+ Quản lý tổ chức bộ máy, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước,
biên chế, tài sản, tài chính thuộc Cục theo quy định của Chính phủ.
1.1.3. Yêu cầu cụ thể của việc tổ chức quản lý đối với hoạt động của
Chi cục Dự trữ Nhà nước Sơn La
Hoạt động quản lý của Chi cục Dự trữ Nhà nước Sơn La là hoạt động
quản lý vi mô thuộc hệ thống dự trữ Quốc gia; Quản lý trực tiếp hàng hóa dự
trữ quốc gia trên địa bàn khu vực lãnh thổ được phân công, cho nên hoạt động
quản lý của Chi cục thực hiện một số nhiệm vụ là:
+ Căn cứ vào tình hình nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn
được phân công mà có nhiệm vụ tiến hành lập, xin ý kiến địa phương tham
gia và trình Cục Dự trữ nhà nước khu vực Tây Bắc về chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch cũng như chính sách chế độ quản lý dự trữ Quốc gia và triển khai
thực hiện nó trên địa bàn.
+ Triển khai thực hiện, kiểm tra báo cáo và kiến nghị về quy chế quản
lý, quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật thuộc phạm vi

- Quyết định số 139/2007/QĐ-TTg ngày 23/8/2007 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt ''Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2010,
định hướng đến năm 2020''
- Quyết định số 106/2009/QĐ-TTg ngày 20/8/2009 cuả Thủ tướng
Chính phủ về việc nâng cấp Cục Dự trữ Quốc gia thành Tổng Cục Dự trữ Nhà
nước.
- Pháp lệnh Dự trữ Quốc gia đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa
11 thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/9/2004, được Chủ tịch nước ký
lệnh công bố số 05/2004/L-CTN ngày 12/5/2004.
- Nghị định số 196/2004/NĐ-CP ngày 02/12/2004 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành pháp lệnh dự trữ Quốc gia.


13
- Thông tư số 48/2005/TT-BTC ngày 9/6/2005 của Bộ Tài chính hướng
dẫn thực hiện Nghị định số 196/2004/NĐ-CP ngày 02/12/2004 của Chính phủ
quy định chi tiết thi hành pháp lệnh dự trữ Quốc gia.
- Nghị quyết 63/NQ-CP ngày 23/12/2009 của Chính phủ về đảm bảo
an ninh lương thực Quốc gia.
- Quyết định số 1371/QĐ-TTg ngày 6/8/2010 của thủ tướng Chính phủ
lấy ngày 07/8 hàng năm là “Ngày truyền thống ngành Dự trữ Nhà nước”
- Quyết định số 94/QĐ-TTg ngày 17/01/2011 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống kho Dự trữ Nhà nước
đến năm 2020
- Quyết định số 2091/QĐ-TTg ngày 28/12/2012 của Thủ tướng Chính
phủ : Phê duyệt Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2020
- Luật Dự trữ Quốc gia, luật số 22/2012/QH13 ngày 20/11/2012 đã
được Quốc Hội thông qua tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa VIII.
- Quyết định số 403/QĐ-BTC ngày 10/6/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính phê duyệt Quy hoạch chi tiết mạng lưới kho DTNN thuộc Tổng cục Dự

chính, trách nhiệm vật chất của các bộ, ngành, các đơn vị trực tiếp quản lý
hàng dự trữ quốc gia; quy định cơ chế thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
trong công tác quản lý chất lượng hàng dự trữ quốc gia.
1.3. Cơ sở thực tiễn
Kể từ ngày đầu thành lập đến nay, ngành dự trữ quốc gia (DTQG) đã
trải qua gần 60 năm xây dựng và phát triển. Chặng đường dài hơn nửa thế kỷ
này là sự tiến bước từ truyền thống vẻ vang mà toàn ngành đã vượt qua bao
gian khó ở cả thời chiến lẫn thời bình để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính
trị đặc biệt quan trọng mà Đảng và Nhà nước giao phó là “tích cốc phòng cơ”
để phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai; đáp ứng nhu cầu của quốc phòng
và giữ vững an ninh chính trị; góp phần ổn định kinh tế - xã hội.


15
Khi Cục QLDTVT NN được thành lập, hệ thống tổ chức quản lý
DTQG của nước ta đã hình thành và hoạt động độc lập với chức năng, nhiệm
vụ và vị trí của một tổ chức chuyên ngành trong nền kinh tế. Trong hai cuộc
kháng chiến, Cục QLDTVT NN đã tiếp nhận hàng hoá, kho tàng dự trữ từ các
bộ chuyển sang và thực hiện nhiệm vụ trực tiếp quản lý lương thực, vật
tư DTQG; đồng thời thực hiện việc nhập, xuất hàng trăm ngàn tấn lương thực,
hàng ngàn xe máy các loại và nhiều thiết bị, vật tư DTQG phục vụ cho nhu
cầu của chiến trường và đời sống nhân dân. Với những nỗ lực vượt qua bao
khó khăn, hoạt động DTQG đã đóng góp có tích cực đối với đất nước trong
giai đoạn đầu khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân miền Bắc, chi
viện miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà.
Sau ngày miền Nam giải phóng, dù phải đối mặt với những thách thức
to lớn trước những biến động về tổ chức của ngành (5 lần đổi tên), song
ngành DTQG luôn phục vụ kịp thời cho các nhu cầu cấp bách của nền kinh tế
và quốc phòng. Đặc biệt trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc và
Tây Nam (1978 - 1979), DTQG vừa phải di chuyển an toàn một khối lượng

vùng bị cô lập. Dẫu vậy, mỗi cán bộ dự trữ vẫn luôn vượt mọi khó khăn, gian
khổ để đem hàng dự trữ đến tận tay người dân kịp thời, đầy đủ và đảm bảo
chất lượng.
Bên cạnh nhiệm vụ góp phần đảm bảo an sinh xã hội, hàng DTQG còn
được xuất cấp để phục vụ nhiệm vụ quốc phòng bảo vệ biên giới và hải đảo
của Tổ quốc; thực hiện nhiệm vụ an ninh, bảo vệ các ngày Lễ lớn của dân
tộc. Điển hình là, riêng trong 6 tháng đầu năm 2014, toàn ngành đã thực hiện
xuất hàng dự trữ đột xuất, cấp bách để đảm bảo an ninh, quốc phòng tổng số
921,50 tỷ đồng. Trong đó, Tổng cục DTNN đã xuất cấp tổng số lương thực,
vật tư, thiết bị trị giá 620,5 tỷ đồng, trong đó có 61.965 tấn gạo, 04 bộ xuồng
DT4 cho Bộ Quốc phòng để trang bị cho lực lượng Cảnh sát biển thực hiện
nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc; xuất cấp 200 bộ máy bơm chữa


17
cháy cho Bộ Công an để trang bị cho các lực lượng phục vụ công tác phòng
cháy chữa cháy tại các địa phương.
Với ngành DTQG, công tác quản lý chất lượng hàng DTQG luôn là
nhiệm vụ cơ bản, quan trọng hàng đầu trong quá trình triển khai thực hiện
nhiệm vụ. Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác quản lý chất lượng hàng
DTQG, nhất là sau khi Luật DTQG có hiệu lực thi hành (01/7/2013), Tổng
cục DTNN đã xây dựng, hoàn thiện và trình Bộ Tài chính ban hành các Thông
tư hướng dẫn về quản lý chất lượng hàng DTQG và được triển khai thực hiện
trong toàn ngành..
Để thực hiện xuất sắc các nhiệm vụ quan trọng đó, trong những năm
qua, Tổng cục DTNN luôn chú trọng đến việc kiện toàn và phát triển tổ chức;
rèn luyện và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức với nhiều giải pháp quan
trọng và đồng bộ nhằm xây dựng hệ thống tổ chức của ngành ngày càng hợp
lý, hiệu qủa. Đó là việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ công chức trong mỗi vị trí
công tác, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất chính trị vững

mục mặt hàng DTQG theo hướng lựa chọn những mặt hàng thiết yếu, đảm
bảo thực hiện mục tiêu của DTQG, đáp ứng được nhu cầu trong tình hình
mới. Đồng thời, tiếp tục kiến nghị Chính phủ, Quốc hội bố trí nguồn lực
ngân sách tăng cường tiềm lựcDTQG, đảm bảo tổng mức DTQG được tăng
dần hàng năm, đến năm 2015 tổng mức dự trữ quốc gia đạt khoảng 0,8%
đến 1% GDP, đến năm 2020 đạt khoảng 1,5% GDP.
Để bảo quản tốt hàng DTQG với quy mô như trên, các bộ, ngành quản
lý hàng DTQG và Tổng cục DTNN tiếp tục triển khai việc bố trí hệ thống
kho DTQG theo quy hoạch chi tiết đến năm 2020. Công việc này thực
hiện theo quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và theo Quyết
định số 403/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính để từng bước xây dựng hệ
thống kho đồng bộ, hiện đại, được bố trí theo các vùng tuyến chiến lược, có
quy mô lớn, đủ điều kiện để triển khai các giải pháp công nghệ bảo quản tiên
tiến, đáp ứng các yêu cầu tại chỗ khi xảy ra thiên tai, biến cố.


19

2. Nội dung thực hiện của đề án
2.1. Bối cảnh thực hiện đề án
Cục Dự trữ nhà nước khu vực Tây Bắc là một trong 22 đơn vị trực thuộc
Tổng cục Dữ trữ nhà nước nằm rải rác khắp mọi miền tổ quốc. Trước đây là
Tổng kho A -26 tiền thân của Ban 51 thuộc Cục Dự trữ lương thực Nhà nước.
Ngày 18/2/1984 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ra Nghị định
31/HĐBT về việc thành lập Cục Quản lý dự trữ vật tư Nhà nước thuộc Hội đồng
Bộ trưởng, trên cơ sở Cục Dự trữ Vật tư Nhà nước thuộc Bộ vật tư và một bộ
phận quản lý dự trữ vật tư Nhà nước của các Bộ, Tổng cục chuyển sang.
Với Nghị định này, ngày 3/7/1984 Tổng kho A -26 được thành lập và
thực hiện nhiệm vụ quản lý hàng hóa dự trữ Quốc gia phục vụ yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội trên các tỉnh miền Tây Bắc Tổ quốc (Sơn La, Lai Châu

ngành khác và chính quyền địa phương tặng cờ, bằng khen và giấy khen.
Các cơ sở (Chi cục) trực thuộc Cục đã được củng cố với đội ngũ cán bộ
quản lý và kỹ thuật viên bảo quản được đào tạo qua trường lớp hoạt động
ngày một hiệu quả.
* Về tổ chức bộ máy:
Tổ chức bộ máy quản lý của Cục Dự trữ nhà nước Tây Bắc là tổng hợp
các phòng ban nghiệp vụ và các chi cục được chuyên môn hóa với những
trách nhiệm, quyền hạn nhất định, có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, nhằm
thực hiện các chức năng quản lý hàng hóa dự trữ Quốc gia.
Trong đó:
Cấp quản lý Cục là hệ thống các phòng nghiệp vụ chuyên môn, các chi
cục trong phạm vi Cục do Cục trưởng đứng đầu.
Khâu quản lý trong Cục là các phòng nghiệp vụ chuyên môn, làm tham
mưu cho Cục trưởng về các lĩnh vực chức năng quản lý.
Ở Cục Dự trữ nhà nước khu vực Tây Bắc cơ cấu tổ chức quản lý được
bố trí như sau:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status