BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
***
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Đánh giá tình hình tài chính và biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động tài chính của Tổng công ty đầu tư nước và môi trường Việt
Nam-VIWASEEN
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Vũ Công Ty
Sinh viên thực hiện : Hoàng Thị Trang
Líp : CQ 46/11.03
Hà Nội - 2012
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong chuyên đề là trung thực xuất phát
từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập.
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2012
Sinh viên thực hiện:
Hoàng Thị Trang
2
LỜI MỞ ĐẦU
Với mỗi doanh nghiệp, Quản trị tài chính là một trong những bộ phận
vô cùng quan trọng trong quản trị doanh nghiệp. Tất cả các hoạt động kinh
doanh đều tạo nên tình hình tài chính của doanh nghiệp và ngược lại tình
hình tài chính của doanh nghiệp tụt hay xấu lại có tác động thúc đẩy hay kìm
hãm sự phát triển của quá trình kinh doanh. Do đó, để phục vụ công tác quản
lý hoạt động kinh doanh có hiệu quả ác nhà quản trị cần phải thường xuyên
tổ chức phân tích tài chính cho tương lai. Bởi vì thông qua việc tính toán,
phân tích tài chính cho ta iết điểm mạnh điểm yếu về hoạt động kinh doanh
1.1.Tổng quan về phõn tích tài chính doanh nghiệp:
1.1.1 Khái niệm:
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một tập hợp các khái niệm,
phương pháp, công cụ theo một hệ thống nhất định cho phép thu thập và xử
lý thông tin kế toán cũng như các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp
nhằm đưa ra những đánh giá chính xác, đúng đắn về tình hình tài chính, khả
năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp nhà quản lý kiểm soát được tình
hình kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như
dự đoán trước những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai để đưa ra các quyết
định xử lý phù hợp theo mục tiêu theo đuổi.
1.1.2. Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp:
Phân tích tài chính đáp ứng được những yêu cầu khác nhau đối với
mỗi đối tượng phân tích, cụ thể là:
- Đối với cỏc cỏc nhà quản lý doanh nghiệp: Mục tiêu các nhà quản lý
là nắm bắt được tình hình doanh nghiệp, đưa ra những quyết định từ tổng thể
đến chi tiết để ngày càng nâng cao hơn hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
do mình quản lý. Phân tích tài chính là công cụ trực tiếp để họ có thể thực
hiện được mục tiêu của mình bằng những chính sách phù hợp nhất, cụ thể là:
+ Tạo ra chu kỳ sản xuất kinh doanh đều đặn, thực hiện cân băng tài
chính, tăng khả năng sinh lời, tăng khả năng thanh toán và giảm rủi ro tài
chính.
+ Tăng cường hay cắt giảm đầu tư, phân phối lợi nhuận đáp ứng nhu
cầu phát triển của doanh nghiệp trong từng thời kỳ mà vẫn đảm bảo lợi ích
của chủ sở hữu và người lao động.
+ Dự đoán tài chính
5
+ Kiểm tra, kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp.
- Đối với các nhà đầu tư: Dựa vào kết quả phân tích tài chính, các nhà
đầu tư có thể đánh giá hiệu quả hoạt động của đồng vốn mà mỡnh đó giao
cho các nhà quản lý, xem xét khả năng sinh lời, triển vọng phát triển, chính
Trong số các phương pháp trờn thỡ người ta thường sử dụng một số phương
pháp sau:
1.1.3.1 Phương pháp đánh giá:
Phương pháp này bao gồm: phương pháp so sánh, phương pháp phân
chia (chi tiết) và phương pháp liên hệ đối chiếu.
• Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp luôn được sử dụng trong phân tích tài chính
doanh nghiệp , đồng thời được sử dụng trong nhiều giai đoạn của quá trình
phân tích . Khi sử dụng phương pháp so sánh cần chú ý những vấn đề sau:
Thứ nhất : về điều kiện so sánh:
- phải tồn tại ít nhất 2 đại lượng.
- các đại lượng phải đảm bảo tính chất so sánh được . Đó là sự thống
nhất về nội dung kinh tế , thống nhất về phương pháp tính toán , thống nhất
về thời gian và đơn vị đo lường.
Thứ hai : xác định gốc để so sánh:
- Kỳ gốc để so sánh tuỳ thuộc vào mục đích phân tích, có thể xác
định tại từng thời điểm, cũng có thể xác định trong từng thời kì.
Thứ ba : kỹ thuật so sánh thường được sử dụng là so sánh bằng số
tuyệt đối , so sánh bằng số tương đối.
- So sánh bằng số tuyệt đối để thấy sự biến động về số tuyệt đối của
chỉ tiêu phân tích
7
- So sánh bằng số tương đối để thấy thực tế so với kì gốc chỉ tiêu tăng
giảm bao nhiêu %.
• Phương pháp phân chia
Đây là phương pháp để chia nhỏ quá trình và kết quả thành những bộ
phận khác nhau , phục vụ cho mục tiêu nhận thức quá trình và kết quả đó
dưới những góc độ khác nhau phù hợp với mục tiêu quan tâm của từng đối
tượng trong từng thời kỳ. Thông thường trong phân tích người ta thường chi
tiết quá trình phát sinh và kết quả đạt được thuộc tài chính doanh nghiệp thể
thông qua việc chỉ rõ và giải quyết các vấn đề như: chỉ rõ mức độ ảnh
hưởng, xác định tính chất chủ quan, khách quan của từng nhân tố ảnh
hưởng, phương pháp đánh giá và dự đoán cụ thể, đồng thời xác định ý nghĩa
của nhân tố tác động đến chỉ tiêu đang nghiên cứu, xem xét.
1.1.3.3. Phương pháp phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hệ số tài
chính (Dupont)
Mức sinh lời của vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp là kết quả
tổng hợp của hàng loạt các biện pháp và quyết định quản lý của doanh
nghiệp, để thấy được sự tác động của mối quan hệ giữa việc tổ chức sử dụng
vốn và tổ chức tiêu thụ sản phẩm tới mức sinh lời của doanh nghiệp người ta
xây dựng hệ thống chỉ tiêu để phân tích sự tác động đó. Dupont là công ty
đầu tiên ở Mỹ đã thiết lập và phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hệ số
tài chính. Phương pháp này có ý nghĩa áp dụng trong thực tế rất cao. Từ việc
phân tích:
9
ROI=
Lợi nhuận ròng
=
Lợi nhuận ròng
x
Doanh thu
Tổng số vốn Doanh thu Tổng sô vốn
Dupont đã khái quát hóa và trình bày chỉ số ROI một cách rõ ràng ,
nú giỳp cho các nhà quản trị tài chính có một bức tranh tổng hợp để có thể
đưa ra các quyết định tài chính phù hợp.
1.1.4 Nguồn dữ liệu phân tích tài chính doanh nghiệp:
Để phân tích tài chính doanh nghiệp, người phân tích phải thu thập
đầy đủ những thông tin cần thiết.
Những thông tin đó trước tiên là ở các báo cáo tài chính:
+ Bảng cân đối kế toán:là một báo cáo tài chính, mô tả tình trạng tài
được báo chí hay các thông tin đại chúng công bố, hoặc cũng có thể là thông
tin mà chỉ những người trong nội bộ doanh nghiệp được biết.
Tuy nhiên tất cả những số liệu này không phải tất cả đều được thể
hiện bằng số lượng và số liệu cụ thể, mà có những tài liệu chỉ được thể hiện
thông qua sự miêu tả đời sống kinh tế của doanh nghiệp. Vì vậy, người phân
tích tài chính cần sưu tầm thông tin đảm bảo đầy đủ và thích hợp.
1.1.5. Tổ chức công tác phõn tích:
1.1.5.1 Tổ chức phân tích trong doanh nghiệp
Quá trình tổ chức công tác phân tích tài chính được tiến hành tùy theo loại
hình tổ chức kinh doanh ở các doanh nghiệp nhằm mục đích cung cấp, đáp
ứng nhu cầu thông tin cho quá trình lập kế hoạch, công tác kiểm tra và ra
quyết định.
11
-Công tác phân tích tài chính có thể nằm ở một bộ phận riêng biệt đặt
dưới quyền kiểm soát trực tiếp của ban giám đốc và làm tham mưu cho giám
đốc. Theo hình thức này thì quá trình phân tích được thể hiện toàn bộ nội
dung của hoạt động kinh doanh. Kết quả phân tích sẽ cung cấp thông tin
thường xuyên cho lãnh đạo trong doanh nghiệp. Trên cơ sở này các thông tin
qua phân tích được truyền từ trên xuống dưới theo chức năng quản lý và quá
trình giám sát, kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh, chấn chỉnh đối với từng bộ
phận của doanh nghiệp theo cơ cấu từ ban giám đốc đến cỏc phũng ban.
- Công tác phân tích tài chính được thực hiện ở nhiều bộ phận riêng biệt
theo các chức năng của quản lý nhằm cung cấp thông tin và thoả mãn thông
tin cho các bộ phận của quản lý được phân quyền.
+ Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về chi
phí, bộ phận này sẽ tổ chức thực hiện thu nhập thông tin và tiến hành phân
tích tình hình biến động chi phí, giữa thực hiện so với định mức nhằm phát
hiện chênh lệch chi phí cả về hai mặt động lượng và giá để từ đó tìm ra
nguyên nhân và đề ra giải pháp.
+ Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về
Kết quả phân tích giúp phát hiện ngay ra sai lệch, giúp doanh nghiệp đưa ra
được các diều chỉnh kịp thời và thường xuyên trong quá trình hoạt động kinh
doanh. Tuy nhiên biện pháp này thường công phu và tốn kém.
+ Phân tích định kỳ.
Được đặt ra sau mỗi chu kỳ kinh doanh khi cáo báo cáo đã đựoc thành
lập. Phân tích định kỳ là phân tích sau quá trình kinh doanh, vì vậy kết quả
phân tích nhằm đánh giá tình hình thực hiện, kết quả hoạt động kinh doanh
của từng kỳ và là cơ sở cho xây dựng kế hoạch kinh doanh kỳ sau.
13
- Căn cứ theo nội dung phân tích.
+ Phân tích chỉ tiêu tổng hợp.
Phân tích theo chỉ tiêu tổng hợp là việc tổng kết tất cả các kết quả
phân tích để đưa ra một số chỉ tiêu tổng hợp nhằm đánh giá toàn bộ hoạt
động sản xuất kinh doanh trong mối quan hệ nhân quả giữa chúng cũng như
dưới tác động Của các yếu tố thuộc môi trường.
Ví dụ: - Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả khối lượng, chất lượng sản
xuất kinh doanh.
- Phõn tớch các chỉ tiêu phản ánh kết quả doanh thu và lợi nhuận.
+ Phân tích chuyên đề.
Còn được gọi là phân tích bộ phận, là việc tập trung vào một số nhân
tố của quá trình kinh doanh tác động, ảnh hưởng đến những chỉ tiêu tổng
hợp.
Ví dụ: - Các yếu tố về tình hình sử dụng lao động; các yếu tố về sử dụng
nguyên vật liệu.
1.2. Nội dung phân tích:
1.2.1.Phõn tích theo chiều dọc:
Là kỹ thuật phân tích sử dụng để xem xét tỷ trọng của từng bộ phân
trong tổng quy mô chung. Điều quan trong khi sử dụng kỹ thuật phân tích
này là xác định quy mô chung được làm tổng thể để xác định tỷ trọng của
từng thành phần. Đây thực chất là áp dụng phương pháp phân chia. Theo đó
tổng nguồn vốn.
Để đánh giá chính xác và có những kết luận đứng đắn về tình hình
huy động và tạo lập vốn của doanh nghiệp chúng ta cần đi sâu phân tích cơ
15
cấu và sự biến động của nguồn vốn thông qua số liệu phần nguồn vốn trên
bảng cân đối kế toán, so sánh từng nguồn vốn giữa cuối kỳ và đầu năm cả về
số tương đối lẫn số tuyệt đối, tỷ trọng từng loại vốn trong tổng thể để xác
định chênh lệch cả về số tiền, tỷ lệ và tỷ trọng giữa số đầu năm và số cuối kỳ.
Bên cạnh đó để đánh giá khả năng tự tài trợ về mặt tài chính và mức độ tự chủ
trong kinh doanh chúng ta cần xem xét đến chỉ tiêu hệ số nợ và hệ số vốn chủ
sở hữu.
Hệ số nợ phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh có mấy đồng hình
thành từ nợ vay bên ngoài, đồng thời xác định nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp
đối với chủ nợ và ngược lại hệ số vốn chủ sở hữu lại cho thấy trong 1 đồng
vốn kinh doanh có bao nhiêu đồng được đảm bảo từ nguồn vốn chủ sở hữu.
Hệ số nợ cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn vay trong
nguồn vốn kinh doanh, tức là sử dụng đòn bẩy tài chính ở mức độ cao, nếu
doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, nó sẽ giúp cho tỷ suất sinh lời của vốn chủ
được khuếch đại tăng. Nhưng việc sử dụng nhiều vốn vay trong cơ cấu
nguồn vốn cũng làm cho rủi ro tài chính của doanh nghiệp tăng cao, tính tự
chủ về vốn bị hạn chế. Tuy nhiên để có đánh giá chính xác nhất về mức độ
hợp lý về chính sách tạo lập vốn của doanh nghiệp cần xem xét đến các yếu
tố khác như đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp, các giai
đoạn phát triển khác nhau của doanh nghiệp.
1.2.3.2. Đánh giá tình hình sử dụng vốn:
16
Hệ số nợ =
Tổng số nợ
Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Hệ số vốn chủ sở hữu =
Tổng tài sản
1.2.3.3. Đánh giá mức độ đảm bảo nguyên tắc cân bằng tài chính trong
chính sách tài trợ của doanh nghiệp:
Ngoài những nội dung cơ bản trên, khi đánh giá việc tạo lập và sử
dụng vốn của doanh nghiệp cần xem xét đến sự cân đối giữa nguồn vốn và
tài sản. Bảng cân đối kế toán chỉ cho ta thây sự cân đối giữa giá trị hình
thành tài sản và nguồn hình thành tài sản, do đó để xem xét đến sự cân đối
trong thời gian vận động của tài sản (nghĩa là một tài sản được tài trợ trong 1
thời gian không thấp hơn thời gian chuyển hóa tài sản ấy) chúng ta cần tìm
hiểu việc thực hiên nguyên tắc cân bằng tài chính trong doanh nghiệp.
Nội dung phân tích là so sanh giữa tài sản dài hạn (TSCĐ và ĐTDH) và
nguồn vốn dài hạn trong doanh nghiệp, các trường hợp có thể xảy ra là:
- Nguồn vốn dài hạn < Tài sản dài hạn: Trong trường hợp này doanh
nghiệp đó dựng một phần nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư cho tài sản dài hạn,
điều này làm cho tình hình tài chính của công ty có thể gặp rủi ro song nó
đem lại chi phí sử dụng vốn thấp.
- Nguồn vốn dài hạn ≥ Tài sản dài hạn : trường hợp này nguồn vốn dài
hạn của doanh nghiệp đủ tài trợ cho tài sản dài hạn và doanh nghiệp đó dựng
một phần nguồn vốn dài để tài trợ cho tài sản ngắn, theo đó tình hình tài
chính của doanh nghiệp được đảm bảo an toàn, nhưng chi phí sử dụng vốn
cao làm giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường.
1.2.4.Phân tích các hệ số tài chính đặc trưng:
1.2.4.1. Hệ số đánh giá khả năng thanh toán:
Việc đánh giá tình hình thanh toán và khả năng thanh toán là một nội
dung quan trọng khi đánh giá tình hình tạo lập và sử dụng vốn của doanh
nghiệp. Thông qua nội dung này chúng ta có thể phần nào đánh giá được
hiệu quả trong chính sách phân bổ vốn của doanh nghiệp và ngược lại chính
18
sách phân bổ vốn ảnh hưởng đến khả năng thanh toán như thế nào, thể hiện
sự lành mạnh về mặt tài chính của doanh nghiệp.
Thông thường khi hệ số này thấp thể hiện khả năng thanh toán nợ của
doanh nghiệp là yếu, hay doanh nghiệp đang gặp phải khó khăn về mặt tài
chính, rủi ro tài chính là cao. Ngược lại, nếu hệ số này cao chứng tỏ doanh
nghiệp có khả năng cao trong việc sẵn sàng thanh toán các khoản nợ. Tính
hợp lý của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh. Ngành nghề nào
mà tài sản lưu động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản thì hệ số này lớn và
ngược lại. Nếu hệ số này lớn hơn 1 thì được coi an toàn, ngược lại thì doanh
nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
+ Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
Đây là hệ số phản ánh tốt nhất khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Nó cho ta biết doanh nghiệp có thể thanh toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn
ngay khi các chủ nợ yêu cầu không? Hệ số này được xác định như sau:
+ Hệ số khả năng thanh toán tức thời:
Đây là một tiêu chuẩn khắt khe hơn đối với khả năng thanh toán các
khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp.
+ Hệ số khả năng thanh toán lãi vay:
20
Hệ số khả năng thanh toán
hiện thời
=
Tổng tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán
nhanh
=
TSNH – hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán
tức thời
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Lãi vay phải trả
Chỉ tiêu này chịu ảnh hưởng của đặc điểm ngành nghề kinh doanh,
chiến lược kinh doanh và trình độ quản lý sử dụng vốn của doanh nghiệp, do
vậy khi phân tích cần dựa vào những đặc trưng này để đánh giá khả năng sử
dụng tài sản, khả phát huy triệt để năng lực sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Hiệu quả sử dụng vốn cố định : Được thể hiện qua các chỉ tiêu sau
+ Hiệu suất sử dụng vốn cố định và vốn dài hạn khác:
Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá mức độ sử dụng vốn cố định của
doanh nghiệp trong kỳ, nó cho biết mỗi đồng vốn cố định bình quân tham
gia vào sản xuất kinh doanh có thể mang lại bao nhiêu đồng doanh thu
thuần. Nói chung, hệ số này càng cao càng thể hiện được hiệu quả trong sử
dụng vốn cố định, tuy nhiên DTT và vốn cố định bình quân đều là những chỉ
tiêu tổng quát do vậy khi đánh giá cần kết hợp với tình hình cụ thể của
doanh nghiệp để có những kết luận hợp lý.
+ Hiệu suất sử dụng tài sản cố định: cho biết 1 đồng nguyên giá TSCĐ
mang lại bao nhiêu đồng DTT.
+ Tỷ lệ sinh lời trên vốn cố định:
22
Vòng quay toàn bộ TS hay
toàn bộ vốn
=
Doanh thu thuần trong kỳ
Tổng TS hay VKD bình quân
Hiệu suất sử dụng VCĐ và
vốn dài hạn khác
=
Doanh thu thuần trong kỳ
VCĐ bình quân trong kỳ
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
VLĐ bình quân trong kỳ
Kỳ luân chuyển VLĐ =
360
Vòng quay VLĐ
Thông thường, số vòng quay hàng tồn kho cao so với doanh nghiệp
trong ngành chỉ ra rằng: Việc tổ chức và quản lý dự trữ của doanh nghiệp là
tốt, doanh nghiệp chỉ có thể rút ngắn được chu kỳ kinh doanh và giảm được
lượng vốn bỏ vào hàng tồn kho. Nếu hệ số này thấp thì chỉ có thể doanh
nghiệp dữ trữ quá mức, dẫn đến tình trạng bị ứ đọng hoặc việc tiêu thụ sản
phẩm chưa tốt. Từ đó có thể làm cho dòng tiền vào của doanh nghiệp giảm
đi và đặt doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn về mặt tài chính trong tương
lai.
+ Số ngày 1 vòng quay HTK:
+ Vòng quay các khoản phải thu:
Vòng quay các khoản phải thu
DTT (DTBH & CCDV)
Số dư bình quân các khoản phải thu
+ Kỳ thu tiền trung bình:
Là một hệ số hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó phản ánh độ
dài thời gian thu tiền bán hàng của doanh nghiệp bắt đầu kể từ lúc xuất hàng
cho đến khi thu được tiền bán hàng. Kỳ thu tiền trung bình của doanh nghiệp
chủ yếu phụ thuộc vào chính sách bán chịu và việc tổ chức thanh toán của
doanh nghiệp. Do vậy, khi xem xét kỳ thu tiền trung bình cần xem xét trong
mối liên hệ với sự tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp.
Kỳ thu tiền trung bình
Số dư bình quân các khoản phải thu
DTBH bình quân 1 ngày trong kỳ
24
Số vòng quay HKT =
trên DTT
=
Chi phí bán hàng trong kỳ
DTT trong kỳ
Tỷ suất chi phí QLDN trên
DTT
=
Chi phí QLDN trong kỳ
DTT trong kỳ