VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐOÀN HỮU PHONG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DƯỢC LIỆU TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VŨ THƯ
Hà Nội – 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi. Các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử
dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện bài luận văn này đã được cảm ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tác giả luận văn
Đoàn Hữu Phong
YDHCT
Y dược học cổ truyền
YHCT
Y học cổ truyền
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
DƯỢC LIỆU ..............................................................................................................6
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về dược liệu ...................6
1.2. Nội dung, nguyên tắc và phương pháp quản lý nhà nước về dược liệu ........21
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về dược liệu ............................31
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DƯỢC LIỆU TẠI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI ...........................................................................................37
2.1. Tình hình dược liệu tại Hà Nội ......................................................................37
2.2. Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về dược liệu .........................................43
2.3. Thực tiễn quản lý nhà nước về dược liệu tại Hà Nội .....................................48
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ DƯỢC LIỆU Ở HÀ NỘI.....................................................................63
3.1. Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước về dược liệu .................................63
3.2. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về dược liệu ...................................65
KẾT LUẬN ..............................................................................................................74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................75
MỞ ĐẦU
Điều này đặt ra những vấn đề cấp bách mà các cơ quan nhà nước phải vào cuộc.
Quản lý nhà nước, với công cụ quyền lực của mình bằng pháp luật và những chính
sách có vai trò định hướng, chỉ đạo điều hành các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ
về lĩnh vực y dược cổ truyền với mục tiêu kế thừa, bảo tồn và phát triển y dược học
cổ truyền dân tộc, kết hợp với y dược học hiện đại trong việc chăm sóc và bảo vệ
sức khoẻ nhân dân; xây dựng nền y dược Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc và
đại chúng.
Thành phố Hà Nội là trung tâm Kinh tế - chính trị - văn hóa- khoa học của cả
nước, là đầu mối giao thông, buôn bán giữa các tỉnh thành. Hà Nội cũng có một
trong hai khu trung tâm sản xuất kinh doanh, sử dụng dược liệu lớn, là đầu mối
phân phối thuốc dược liệu cho các khu vực khác. Hà Nội cũng là nơi tập trung
những cơ quan đầu não quản lý nhà nước về y tế, dược liệu, ngoài ra Hà Nội còn có
đặc trưng riêng là hai khu vực truyền thống tập trung nhiều cơ sở kinh doanh, sản
xuất bào chế dược liệu như: Làng nghề Ninh Hiệp huyện Gia Lâm và khu vực Lãn
Ông quận Hoàn Kiếm. Các hoạt động về dược liệu ở Hà Nội cũng nằm trong tình
trạng chung của cả nước đã nêu ở trên và cũng cần có nhu cầu cao về quản lý.
Xuất phát từ những trình bày trên tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về dược
liệu từ thực tiễn tại Thành phố Hà nội” làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong thời gian qua, việc nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước về dược liệu còn
ít, chưa được quan tâm đầy đủ qua tham khảo các tài liệu hiện hành cho thấy, các
công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này chủ yếu lồng ghép trong một số đề
tài như:
- Luận án tiến sĩ dược học: “Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc y học cổ truyền
và tân dược ở khu vực Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thanh Bình năm 2003;
- Đề tài nghiên cứu của tác giả Trần Thúy và cộng sự “Kết quả nghiên cứu hiện
trạng nhân lực và hiện trạng sử dụng thuốc cổ truyền” năm 1998;
2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với
dược liệu, luận văn đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với lĩnh
vực này.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là mang tới một cái nhìn tổng quan về mặt lý
luận và pháp lí về quản lý nhà nước đối với dược liệu. Đồng thời chỉ ra những điểm
đáng ghi nhận và những điểm còn thiếu sót trong thực trạng của vấn đề và những
ảnh hưởng của pháp luật trong vấn đề này. Từ đó đưa ra những kiến nghị giải pháp
nhằm nâng cao công tác quản lý hiện hành, đảm bảo vai trò của dược liệu trong việc
chăm sóc sức khỏe toàn dân.
Mục đích trên được cụ thể trong những nhiệm vụ chính của luận văn là:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về Quản lý nhà nước đối với Dược liệu.
- Đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về Dược liệu trên địa bàn Thành phố Hà
nội.
Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp khả thi để hoàn thiện công tác quản lý nhà
nước hiện nay về dược liệu tại Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Quản lý nhà nước về dược liệu bao gồm rất nhiều các vấn đề như: xây dựng các
văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các
chương trình, dự án, đề án về dược liệu; quản lý về sản xuất, kinh doanh, buôn bán,
cung ứng, xuất nhập khẩu dược liệu; quản lý về giá dược liệu, giá thuốc y học cổ
truyền; quản lý chất lượng dược liệu; nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế về dược
liệu...
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là những vấn đề lý luận về quản lý
nhà nước đối với dược liệu từ thực tiễn thành phố Hà Nội. Thông qua đó, luận văn
đúc kết một số kết quả đạt được, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế, bất
cập.
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Tác giả nghiên cứu quản lý nhà nước về
dược liệu trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1- Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về dược liệu
Chương 2- Thực trạng quản lý nhà nước về dược liệu tại Thành phố Hà Nội
Chương 3- Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về dược liệu ở
Hà Nội
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
DƯỢC LIỆU
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về dược liệu
1.1.1. Các hoạt động về dược liệu - đối tượng của quản lý nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm dược liệu
Việt Nam là một quốc gia được biết đến bởi sự đa dạng của nguồn tài nguyên
thiên nhiên, đứng thứ 16 trong tổng số 25 quốc gia có sự đa dạng về sinh học. Có
tới 3.830 loài có khả năng sử dụng làm thuốc chữa bệnh trong tổng số 10.386 loài
thực vật. Trong tổng số 5.577 loại thuốc đang sản xuất kinh doanh ở Việt Nam thì
có 1340 loại thuốc y học cồ truyền (24%) trong đó có 1296 loại (96,56%) sản xuất
từ cây thuốc và 46 loại (3.44%) nguyên liệu từ động vật [21]. Dược liệu có vai trò to
lớn trong công cuộc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân của ngành y tế
nước nhà.
Khái niệm dược liệu được quy định giống nhau tại Khoản 6 Điều 2 Nghị định
102/2016/NĐ-CP của Chính phủ và Khoản 5 Điều 2 Luật Dược năm 2016. Theo đó,
dược liệu là nguyên liệu làm thuốc có nguồn gốc tự nhiên từ thực vật, động vật,
khoáng vật và đạt tiêu chuẩn làm thuốc. Trong luận văn tác giả đi sâu, tập trung chủ
yếu vào dược liệu có nguồn gốc từ thực vật.
Theo khái niệm trên có thể hiểu dược liệu được dùng có thể là tất cả các bộ
nhiều hơn trong điều trị bệnh bởi tính an toàn và sẵn có của nó. Theo ước tính của
tổ chức Y tế thế giới, trong tổng số 50% số người trên toàn thế giới được CSSK thì
có tới 80% người được chăm sóc bằng các vị thuốc từ dược liệu. Loài người từ xưa
đến nay đều được hưởng lợi ích từ các chế phẩm từ dược liệu trong CSSK, ở mỗi
quốc gia dược liệu được coi như là một nhân tố quan trọng bảo đảm sự thành công
trong chiến lược CSSK của ngành y tế.
Công tác phát triển dược liệu là một trong những vấn đề mà Đảng, Chính phủ
và Bộ Y tế rất quan tâm. Dược liệu sẽ đóng góp những tiềm năng to lớn để sản xuất
thuốc phục vụ cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. Chính sách quốc gia về
thuốc năm 1996 đã nêu rõ: “Phát huy phát triển thuốc cổ truyền, khai thác có chọn
lọc các bài thuốc gia truyền cũng như kinh nghiệm của tình hình nhân dân. Tăng
7
cường đầu tư, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực thuốc cổ truyền, tiêu chuẩn hóa
kỹ thuật bào chế, chế biến và sử dụng thuốc cổ truyền; Kế hoạch hóa nhiệm vụ phát
triển nguồn dược liệu, xây dựng các vùng nuôi trồng cây, con làm thuốc, kết hợp
trồng rừng với trồng cây thuốc; Chọn lọc, bảo tồn phát triển nguồn giống và gen
cây thuốc, xây dụng vườn quốc gia về cây thuốc; Xây dựng bộ tiêu chuẩn chất
lượng nhà nước về dược liệu”.
Nghiên cứu sử dụng dược liệu có hiệu quả và sản xuất các loại thuốc từ dược
liệu đã và đang trở thành một lĩnh vực đặc biệt, đang dần được áp dụng những thành
tựu khoa học mới nhất nhằm mục đích giúp con người tìm ra các liệu pháp chống
lại sự phát triển của bệnh tật có xu hướng ngày càng phức tạp và nguy hiểm. Ngày
nay, vai trò của dược liệu trong chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân không
những đã được các nhà hoạch định chính sách y tế quan tâm, mà còn được đông đảo
người bệnh và cộng đồng nhân dân chú ý.
Việc thiếu hụt thuốc men có thể gây nên tâm lí lo lắng, ảnh hưởng tiêu cực đến
đời sống chính trị - xã hội, bởi vậy vấn đề đảm bảo nguồn thuốc là vấn đề xã hội
nước; Sự tách biệt giữa nhiệm vụ quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh sản xuất
với rất nhiều bất cập. Trên báo chí thường xuyên đăng tin thu hồi các lô thuốc tân
dược, dược liệu không đảm bảo chất lượng làm nhiều người lo ngại về chất lượng
thuốc, vấn đề này đòi hỏi nhà nước phải tăng cường hơn nữa chức năng, công tác
quản lý đối với dược liệu. Điều này đòi hỏi từng bước phải điều chỉnh các văn bản
pháp luật sao cho phù hợp với tình hình hiện nay về công tác quản lý nhà nước về
dược liệu.
b. Hoạt động nghiên cứu, phát triển dược liệu
Đây là hoạt động hướng đến ứng dụng các kết quả nghiên cứu, tạo sản phẩm
phục vụ nhu cầu thị trường; xây dựng vùng trồng dược liệu nhằm phát triển kinh tế
xã hội; bảo tồn, lưu giữ nguồn gen dược liệu và tri thức bản địa của vùng đó. Quy
hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 tại
Quyết định 1976/QĐ-TTg là cơ sở triển khai các hoạt động của công tác phát triển
dược liệu, đặc biệt là hoạt động khoa học công nghệ nhằm thúc đẩy phát triển dược
liệu ở Việt Nam. Để phát triển dược liệu thành ngành sản xuất hàng hóa, tạo ra các
9
sản phẩm có chất lượng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước, trong khu
vực và trên thế giới thì nhất thiết phải đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi
mới trang thiết bị trong nghiên cứu về dược liệu.
Trong những năm gần đây, dược liệu đã đóng góp vai trò quan trọng trong công
tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp
dược để sản xuất thuốc, nguyên liệu để sản xuất thực phẩm chức năng, chữa bệnh
bằng phương pháp YHCT... Hoạt động nghiên cứu khoa học về dược liệu với mục
đích ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học để tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu
thị trường như: Xây dựng các vùng trồng dược liệu nhằm phát triển kinh tế xã hội;
Bảo tồn, lưu giữ nguồn gen dược liệu, nghiên cứu thành phần dược lý của các cây
thuốc dược liệu. Một số kết quả nghiên cứu khoa học đã mang lại nhiều ứng dụng
sáng 12/4/2017 tại Lào Cai, theo báo cáo của Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim
Tiến, tại Việt Nam, nhu cầu dược liệu trong nước khoảng gần 60-80.000 tấn/năm.
Xuất khẩu dược liệu theo thống kê đạt gần 5.000 tấn, đem lại giá trị trên 6 triệu
USD mỗi năm.
Thị trường tiêu thụ dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu của Việt Nam là rất
lớn. Hệ thống khám, chữa bệnh bằng YHCT hiện có 63 bệnh viện YHCT công lập;
92,7% bệnh viện đa khoa tỉnh có bộ phận YHCT; khoảng 80% trạm y tế xã có hoạt
động khám, chữa bệnh bằng YHCT và gần 7.000 cơ sở hành nghề YHCT tư nhân
sử dụng dược liệu trong khám chữa bệnh. Nhu cầu sử dụng dược liệu chiếm khoảng
10%/năm; trong đó, khối bệnh viện YHCT sử dụng khoảng 300 loại dược liệu khác
nhau ở mức khoảng 3.000 tấn mỗi năm. Theo số liệu của Cục Quản lý Dược, trong
năm 2010 thuốc sản xuất từ dược liệu đạt doanh thu khoảng 92 triệu USD, chiếm tỷ
trọng khoảng 10% tổng doanh thu thuốc sản xuất trong nước. Bộ Y tế đã và đang
triển khai tiêu chuẩn hóa điều kiện sản xuất thuốc theo lộ trình thực hiện GMP, với
mục tiêu đến năm 2014 tất cả các doanh nghiệp sản xuất thuốc từ dược liệu sẽ phải
đạt tiêu chuẩn GMP. Đây là chủ trương đúng đắn của Bộ Y tế để đảm bảo nâng cao
chất lượng thuốc sản xuất trong nước, và là giải pháp để khuyến khích người Việt
ưu tiên dùng thuốc Việt [23].
11
Nước ta là nước có nền kinh tế thị trường nên các cơ sở buôn bán, cung cấp
dược liệu cũng phải thích nghi để phù hợp. Một số cơ sở có truyền thống kinh
doanh dược liệu có hệ thống kho tàng và chế biến khá tốt đạt các tiêu chuẩn của Bộ
y tế yêu cầu và có đội ngũ cán bộ chuyên sâu nên đáp ứng được việc cung ứng dược
liệu, thuốc nam thuốc bắc với chất lượng dịch vụ khá đảm bảo, có độ tin cậy cao và
có phòng kiểm tra chất lượng GLP như Công ty CP dược TW Mediplantex,
Vimedimex, Công ty CP Dược liệu TW2. Ngoài các đơn vị cung ứng chủ yếu như
trên, còn có một số tư nhân mua bán trao đổi trực tiếp với các thương nhân Trung
Việc nhập khẩu dược liệu, thuốc đông y không rõ nguồn gốc đang là vấn nạn
trong những năm gần đây. Hiện tượng xuất khẩu lậu một số dược liệu quý hiếm và
xuất khẩu dược liệu khai thác tự nhiên qua biên giới Trung Quốc theo đường tiểu
ngạch trong thời gian qua có dấu hiệu gia tăng. Hoạt động này đã làm suy giảm
nghiêm trọng nguồn tài nguyên cây thuốc, suy giảm tính đa dạng sinh học và có thể
làm biến mất nhiều loài cây thuốc quý hiếm cùng với tri thức bản địa của địa
phương và quốc gia.
Hàng năm, ngành dược sử dụng khoảng 60.000 - 80.000 tấn dược liệu các loại,
trong đó dược liệu sử dụng có nguồn gốc nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quôc chiếm
khoảng 80-85 %. Do trong nước không có một số các loại dược liệu trồng trong
nước hoặc chất lượng loại dược liệu đấy không bằng các nước có điều kiện tự nhiên
thuận lợi cho sự phát triển loại đó, do tính chất mùa vụ, do giá thành dược liệu....
nên nhiều loại dược liệu cần phải nhập khẩu với số lượng lớn. Mặc dù nước ta có
tiềm năng thế mạnh rất lớn về tài nguyên dược liệu nhưng có một nghịch lý là hiện
nay Việt Nam mới chủ động được 25% nhu cầu, 75% còn lại phải phụ thuộc nguồn
nhập khẩu. Điều này đặt ra cho chúng ta thấy rõ việc quản lý dược liệu hiện nay là
vô cùng cấp thiết.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của quản lý nhà nước về dược liệu
a. Khái niệm của quản lý nhà nước về dược liệu:
Trên thực tế, chưa có một khái niệm nào chuẩn xác liên quan đến quản lý nhà
nước đối với dược liệu. Vì vậy, để dễ hình dung được nội hàm của cụm từ này,
chúng ta đi từ khái niệm quản lý.
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, nhiều lĩnh vực khác
nhau. Theo quan điểm của điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ
13
thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được
những mục đích đã định trước.
của pháp luật. Nhìn tổng quát, khái niệm quản lý nhà nước về dược liệu có thể hiểu
như sau:
Quản lý Nhà nước về dược liệu là tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng
pháp luật trên cơ sở quyền lực nhà nước đối với các hoạt động về dược liệu do các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của
nhân dân.
Cách hiểu trên tuy chỉ mang tính tương đối về quản lý nhà nước đối với dược
liệu, nhưng xét trên phương diện điều khiển học có thể được coi là khá hoàn chỉnh
khi đã xác định được chủ thể quản lý, khách thể của hoạt động quản lý, đối tượng
của hoạt động quản lý. Khái niệm trên có một số đặc điểm đáng chú ý như sau:
- Thứ nhất, chủ thể của hoạt động quản lý: Chủ thể của quản lý là các cơ quan
nhà nước trong bộ máy nhà nước quản lý chuyên ngành liên quan đến dược liêu –
một bộ phận của bộ máy nhà nước được trao quyền về quản lý những hoạt động liên
quan đến dược liệu.
- Thứ hai, khách thể của hoạt động quản lý: là các quan hệ xã hội chịu sự tác
động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý liên quan đến hành vi của con người và
các quá trình xã hội có mối liên quan đến các hoạt động về dược liệu
- Thứ ba, đối tượng của hoạt động quản lý: Tất cả những tổ chức, cá nhân... thực
hiện những hoạt động liên quan đến dược liệu.
- Thứ tư, mục đích của hoạt động quản lý: Phát huy mọi nguồn lực, tạo ra một
cơ chế hợp lý cho các hoạt động về dược liệu, đảm bảo quyền bảo vệ và chăm sóc
sức khỏe của người dân.
b. Đặc điểm của quản lý nhà nước về dược liệu:
Một là, Nhà nước là người tổ chức và quản lý các hoạt động liên quan đến dược
liệu trong điều kiện nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường có những đặc trưng mang tính phức tạp, năng động và
nhạy cảm. Vì vậy, hoạt động quản lý về dược liệu đòi hỏi phải có một chủ thể có
tiềm lực về mọi mặt để đứng ra tổ chức và điều hành, chủ thể ấy không ai khác
chính là Nhà nước, vừa là người quản lý, vừa là người tổ chức các hoạt động liên
vực, đồng thời cũng chịu sự chi phối và tác động của nền kinh tế thị trường. Nhất là
khi nó gắn liền với sức khỏe và tính mạng của mỗi người dân nên đòi hỏi phải có
16
một hệ thống chính sách, pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp không chỉ với điều kiện ở
trong nước mà còn với thông lệ và luật pháp quốc tế.
1.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước về dược liệu
Quản lý Nhà nước đối với dược liệu là một yêu cầu tất yếu, việc nâng cao năng
lực quản lý nhà nước là điều kiện rất quan trọng để đạt được những mục tiêu mong
muốn trên cơ sở phát huy tối đa những mặt tích cực của dược liệu trong việc chăm
sóc và bảo vệc sức khỏe của nhân dân, đồng thời hạn chế tối thiểu những tiêu cực
do nền kinh tế thị trường, ngăn chặn những hành vi vì hám lợi mà bất chấp lương
tâm, đạo đức gây hại cho an toàn, sức khỏe của người dân. Điều này thể hiện ở các
vai trò:
a. Vai trò định hướng
- Nhà nước xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, chiến lược, đề án
phát triển về dược liệu cổ truyền của đất nước trong từng giai đoạn nhất định,
khuyến khích người dân chữa bệnh bằng y học cổ truyền nói chung và dược liệu nói
riêng. Xây dựng nền y học cổ truyền Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc là mục
tiêu hướng đến của Đảng và Nhà nước ta. Năm 2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Quyết định số 2166/QĐ-TTg về việc ban hành Kế hoạch hành động của Chính
phủ về phát triển y, dược cổ truyền Việt nam đến năm 2020 mà một trong các nội
dung nhiệm vụ chủ yếu đó là: Bảo đảm, nâng cao chất lượng dược liệu, thuốc đông
y, thuốc từ dược liệu.
Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 65/2017/NĐ-CP ngày 19 tháng 5
năm 2017 về chính sách đặc thù về giống, vốn và công nghệ trong phát triển nuôi
trồng, khai thác dược liệu...
Những cây thuốc dược liệu với đặc tính an toàn, cũng như gần gũi với con
thực hiện những vấn đề thuộc về quản lý nhà nước nhằm đưa chính sách quản lý
phù hợp với thực tiễn các hoạt động liên quan đến dược liệu.
- Hình thành cơ chế phối hợp hữu hiệu giữa cơ quan quản lý nhà nước về dược
liệu với các cấp trong hệ thống tổ chức quản lý về y tế của trung ương, tỉnh (thành
phố), và quận (huyện, thị xã).
- Tổ chức và quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực
về quản lý cũng như về chuyên môn cho ngành dược liệu, nghiên cứu ứng dụng
18
khoa học, công nghệ nhằm phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược liệu của
nước ta.
- Tạo điều kiện, chính sách nhằm khuyến khích nghiên cứu, phát triển tri thức
khoa học về dược liệu cũng như công nghệ trồng, chế biến và sản xuất dược liệu.
- Việc nghiên cứu, kế thừa các bài thuốc và kinh nghiệm của đông y, kết hợp
hài hòa đông y với y dược học hiện đại; tìm kiếm, khai thác, sử dụng dược liệu mới,
xuất khẩu dược liệu; thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ nuôi trồng dược liệu, khai
thác dược liệu hợp lý, bảo đảm lưu giữ và phát triển nguồn gen dược liệu; hiện đại
hóa sản xuất thuốc từ dược liệu.
- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài nghiên cứu khoa học về công nghệ bào chế, công nghệ
sinh học để sản xuất các thuốc mới; đầu tư sản xuất nguyên liệu làm thuốc, thuốc
thành phẩm phù hợp với cơ cấu bệnh tật và nhu cầu sử dụng thuốc của nhân dân.
c. Vai trò điều tiết các hoạt động về dược liệu và can thiệp thị trường
Điều tiết các hoạt động về dược liệu và can thiệp về thị trường bao gồm các mặt:
- Nhà nước là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể sản xuất, kinh
doanh nói chung và sản xuất, kinh doanh liên quan đến dược liệu nói riêng, khuyến
khích và đảm bảo bằng pháp luật cạnh tranh bình đẳng, chống các hành vi vi phạm,
nhất là khi các hoạt động về dược liệu có liên quan đến an toàn sức khỏe của mọi
dược liệu, từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh thích hợp nhằm tăng cường hiệu
quả của quản lý nhà nước.
- Nhà nước cũng phải kiểm tra, đánh giá hệ thống tổ chức quản lý về dược liệu
cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ công chức quản lý nhà nước về các hoạt
động liên quan đến dược liệu.
e. Vai trò thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm
Thanh tra, kiểm tra là hoạt động thiết yếu của quản lý nhà nước, không có nó thì
xem như không có quản lý.
Nhà nước thực hiện các hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải
quyết các vấn đề của các đơn vị kinh doanh, sản xuất, khám chữa bệnh bằng dược
liệu. Chất lượng của dược liệu có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và cuộc sống
của người dân (những người sử dụng trực tiếp các sản phẩm từ dược liệu). Do đó,
20
việc đảm bảo chất lượng dược liệu là rất quan trọng, các cơ quan QLNN có thẩm
quyền cần tăng cường thực hiện các hoạt động thanh tra, kiểm tra việc chấp hành
các quy định của pháp luật, đặc biệt là các quy định về tiêu chuẩn chất lượng dược
liệu của các cơ sở cung ứng và sản xuất. Xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp
luật đối với những cơ sở vi phạm để tạo ra tính răn đe, đồng thời, các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền còn tiến hành việc giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo về
các vấn đề liên quan đến dược liệu.
1.2. Nội dung, nguyên tắc và phương pháp quản lý nhà nước về dược liệu
1.2.1. Nội dung của quản lý nhà nước về dược liệu
Nội dung của QLNN bằng pháp luật về dược liệu bao gồm nhiều vấn đề, nhưng
tựu chung lại có những vấn đề cơ bản:
Thứ nhất, ban hành các quy phạm pháp luật về quản lý dược liệu.
Đây là một nội dung cơ bản của QLNN bằng pháp luật về dược liệu vì các văn
bản pháp luật về dược liệu là cơ sở đầu tiên và quan trọng để QLNN bằng pháp luật