BỘ GIÁO DỤCVÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
--------/--------
-----/-----
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐOÀN THU TRANG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH
TỪ THỰC TIỄN QUẬN HAI BÀ TRƯNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: Mã số: 60 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI – 2016
Luận văn được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học:
PTS.TS. TRẦN THỊ CÚC
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Quốc Sửu
Phản biện 2:GS.TS. Phạm Hồng Thái
đai cũng theo đó mà có những biến đổi qua các thời kỳ. Qua mỗi thời kỳ dù ở mức
độ khác nhau nhưng ta đều nhận thấy sự quan tâm của Nhà nước đối với công tác
quản lý nhà nước về địa chính. Quản lý nhà nước về địa chính là tiền đề để quản lý
nhà nước về đất đai.
Công tác quản lý địa chính ở nước ta đã được thiết lập từ cách đây hơn năm
thế kỷ, được chính quyền ở các chế độ khác nhau kế thừa và tiếp tục bổ sung, điều
chỉnh nhằm phục vụ mục đích quản lý đất đai của mình. Tuy nhiên, do hoàn cảnh
chiến tranh, sự chia cắt đất nước, trải qua nhiều giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội
của đất nước mà ranh giới các thửa đất, chủ sử dụng đất có thay đổi gây ra những
bất cập, khó khăn trong quản lý đất đai như việc theo dõi, truy xuất, lưu trữ, xử
lý, cập nhật, chỉnh lý biến động đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất…Việc làm tốt công tác quản lý nhà nước về địa chính để Nhà nước quản lý
chặt chẽ toàn bộ đất đai theo pháp luật, xác lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa
Nhà nước và người sử dụng đất, tạo điều kiện cho việc sử dụng đất đai một cách
đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả là yêu cầu cấp thiết.
Hai Bà Trưng là một quận nội thành có diện tích…..gồm 20 phường. Công
tác quản lý nhà nước về địa chính trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà
Nội cũng còn nhiều bất cập, hạn chế, thiếu sót do nhiều nguyên nhân khách quan
và chủ quan. Hồ sơ của mảnh đất bị thiếu,thậm chí bị thất lạc.Trong quá trình
chuyển đổi, chuyển nhượng đất đai, nhiều trường hợp không đăng ký vào sổ địa
chính, dẫn đến tranh chấp giữa chủ sử dụng cũ và chủ sử dụng mới…Điều này đặt ra
chocông tác quản lý nhà nước về địa chính tại địa bàn Quận Hai Bà Trưng nói riêng
và cả nước nói chung cần khắc phục các hạn chế, tồn tại trong thời gian tới.
Xuất phát từ thực tế trên, việc nghiên cứu vấn đề “Quản lý nhà nước về địa
chính từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng , thành phố Hà Nội” có ý nghĩa cả về mặt lý
luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có một số công trình nghiên cứu về địa chính nhà nước, như:
trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Tiến Lưu với đề tài “Đánh giá thực
trạng công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh
Hòa”, năm 2013. Từ vấn đề cơ sở khoa học về lập hồ sơ địa chính, tác giả đã khái
quát tình hình lập và quản lý hồ sơ địa chính ở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh
Hòa, chỉ ra các kết quả đạt được, khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân và đưa ra
giải pháp để hoàn thiện, đẩy mạnh công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính.
Tác giả Phạm Văn Cường (2012) đề tài: Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính đa
chức năng phục vụ quản lý đất đai và bất động sản tại khu vực phường Bãi Cháy,
thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh. Đại học Nông - Lâm Thái Nguyên. Từ vấn
đề cơ sở khoa học về cơ sở dữ liệu địa chính, tác giả đã khái quát tình hình lập và
quản lý cơ sở dữ liệu địa chính ở phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, chỉ ra các
kết quả đạt được, khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân. Từ đó, tác giả đưa ra giải
pháp để xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính...
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý nhà nước về
địa chính trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, vì vậy đề tài của học viên không trùng
lặp với các đề tài thạc sĩ đã được bảo vệ. Địa chính là lĩnh vực rất rộng, tác giả chỉ
nghiên cứu một phần của địa chính, đó là hồ sơ địa chính.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Phân tích thực trạng lập và quản lý hồ sơ địa chính trên địa bàn quận Hai Bà
Trưngthấy những kết quả đạt được, hạn chế tồn tại, tìm ra nguyên nhân của các
hạn chế, từ đó đề xuất giải pháp khả thinhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý
nhà nước về hồ sơ địa chính trên địa bàn quận Hai Bà Trưng.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóakiến thức khoa họccủa quản lý Nhà nước về hồ sơđịa chính.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng, phân tích những thuận lợi, khó khăn, tồn tại
trong công tác quản lý hồ sơ địa chính trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, qua đó tìm
ra giải pháp để khắc phục các tồn tại và hạn chế trong công tác quản lý hồ sơ địa
của quận Hai Bà Trưng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Đề tài được thực hiện với mong muốn hệ thống hóa về mặt lý luận cho
công tác quản lý nhà nước về hồ sơ địa chính trong phạm vi toàn quốc. Làm rõ
những khái niệm, sự cần thiết và nội dung của quản lý Nhà nước về hồ sơ địa
chính, các yếu tố tác động đến công tác quản lý Nhà nước về hồ sơ địa chính.
6.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn phân tích thực trạng lập và quản lý hồ sơ địa chính trên địa bàn
Quận Hai Bà Trưng , tìm nguyên nhân tồn tại, bất cập, từ đó đề xuất những giải
pháp có tính khả thi nhằm hoàn chỉnh công tác quản lý Nhà nước về hồ sơ địa
chínhtại quận Hai Bà Trưng.Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
cho sinh viên và học viên, cán bộ làm công tác liên quan đến quản lý nhà nước về
địa chính nói chung và quản lý nhà nước về hồ sơ địa chính nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn có kết cấu gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận củaquản lý Nhà nước vềđịa chính.
- Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước về địa chính trên địa bàn quận
Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
- Chương 3: Giải phápvà đảm bảoquản lý Nhà nước vềđịa chínhtừ thực
tiễnquận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀĐỊA CHÍNH
1.1. Quản lý nhà nước vềđịa chính
1.1.1.Khái niệmvề Quản lý nhà nước
Quản lý là một hoạt động tất yếu khách quan, diễn ra ở mọi tổ chức có quy mô từ
nhỏ đến lớn, từ cấu trúc đơn giản đến phức tạp. Xã hội ngày càng phát triển, trình độ hợp
Thứ hai, địa chính là việc quản lý đất đai do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành
gồm ba khâu cơ bản:lập bản đồ địa chính, thống kê số lượng, đánh giá chất lượng làm
căn cứ tính thuế, xác định khía cạnh pháp lý của đất đai nhằm quy định nghĩa vụ và
quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu, chủ sử dụng đất, sản phẩm của ba khâu này phải
được thể hiện cơ bản trong hồ sơ địa chính. Hồ sơ địa chính còn được gọi là hồ sơ pháp
lý về thửa đất.
Vậy, Quản lý nhà nước về địa chính là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền nhằm thực hiện bảo vệ quyền sở hữu nhà nước về đất đai, điều chỉnh các lợi ích
của nhà nước. Quản lý địa chính dựa trên cơ sở Hiến pháp, luật và các văn bản pháp luật
khác. Việc quản lý được thực hiện thông qua hệ thống nhà nước. mà trọng tâm của công
việc là lập HSĐC và quản lý HSĐC.
1.1.3.Khái niệm về hồ sơ địa chính
Khái niệm về hồ sơ địa chính (HSĐC) được quy định tại Thông tư số
24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.Điều 2,
Thông tư 24/2014 qui định: Hồ sơ địa chính là tập hợp tài liệu thể hiện thông tin
chi tiết về hiện trạng và tình trạng pháp lý của việc quản lý, sử dụng các thửa đất,
tài sản gắn liền với đất để phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai và nhu cầu
thông tin của các tổ chức, cá nhân có liên quan…. chứa đựng những thông tin cần
thiết về các mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội, pháp lý của đất đai và những thông tin này
chúng ta có được trong quá trình đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký ban đầu và
đăng ký biến động đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Tất
cả các thông tin đất đai ở trong HSĐC như trên là cơ sở để thực hiện quản lý Nhà
nước về đất đai, để bảo hộ quyền hợp pháp của người sử dụng đất.
1.1.4. Các loại hồ sơ địa chính
Hệ thống địa bạ: là một hệ thống hồ sơ ghi chép, cập nhật những dữ liệu cơ
bản về tình hình đất đai, chứa đựng những thông tin về đất đai do chính quyền
quản lý. Hệ thống địa bạ chứa đựng các thông tin về vị trí, hình thể, kích thước,
ranh giới, loại đất, tên chủ sử dụng đất (SDĐ).
cấp GCNQSDĐ là những tư liệu pháp lý để Nhà nước quản lý tốt về địa chính.
1.1.7. Những yêu cầu đối với việcquản lý lập và quản lý địa chính
Việc lập HSĐC phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Phải đầy đủ các loại tư liệu. Bởi nếu không đầy đủ thì những thông tin về
đất đai sẽ không đầy đủ, tính chất pháp lý không đầy đủ dẫn đến khai thác và sử
dụng các tài liệu khác bị hạn chế.
Bên cạnh việc lập đầy đủ các loại tư liệu thì mỗi loại tư liệu phải đảm bảo
tính pháp lý. Song song với hai yêu cầu trên thì công tác lập HSĐC đòi hỏi các nội
dungthông tin phải thể hiện chính xác, thống nhất trên tất cả các tài liệu của HSĐC.
Yêu cầu về hình thức trình bày các tài liệu hồ sơ HSĐC phải rõ ràng, không được
tẩy, xóa hoặc dùng bút phủ nội dung đã viết, việc chỉnh lý biến động trên tài liệu hồ
sơ phải theo đúng quy định đối với mỗi tài liệu. Để đảm bảo các yêu cầu trên được
thực hiện thì cần thực hiện phân cấp trong việc lập và quản lý HSĐC.
* Về lập HSĐC: công tác ĐKĐĐ, lập HSĐC được tiến hành ngay từ cấp cơ
sở đồng thời có sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát cũng như hướng dẫn của cấp trên do
đó muốn công tác lập HSĐC được tiến hành nhanh cần có sự phối hợp chỉ đạo giữa
các ngành và các cấp chính quyền.
* Về phân cấp lưu trữ HSĐC:Cấp nào hình thành và phê duyệt loại tài liệu
nào thì có quyền lưu trữ tài liệu đó.
1.2. Các yếu tố tác động đến công tác quản lý nhà nước về hồ sơ địa chính
1.2.1. Yếu tố thể chế
Trong lĩnh vực quản lý địa chính, thể chế hành chính là hệ thống các văn bản
quy định tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước
trong công tác quản lý địa chính. Do đó, nếu có thể chế khoa học, phù hợp, đáp ứng
được yêu cầu quản lý nhà nước về địa chính thì kết quả quản lý Nhà nước về đất đai sẽ
đạt hiệu quả tốt . Ngược lại, nếu hệ thống thể chế không tốt, nhiều bất cập, hạn chế,
chậm được sửa đổi, bổ sung, không phù hợp với thực trạng và yêu cầu của quản lý
thì sẽ kìm hãm công tác quản lý Nhà nước về hồ sơ địa chính. Như vậy, thể chế
phiền hà trong cung cấp thông tin đất đai cho công dân và tổ chức.
1.3.Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về hồ sơ địa chính ở một số nước trên
thế giới
Thứ nhất,Hệ thống quản lý nhà nước về hồ sơ địa chính ở Cộng hòa liên
bang Đức: Là loại địa chính theo hướng pháp lý. Bộ HSĐC của Đức bao gồm 1
bình đồ địa chính và một sổ cái dùng để mô tả, cụ thể là được dùng để định vị và
mô tả tổng thể các thửa ruộng đất và nhà cửa.Hệ thống địa chính Đức được tin học
hóa khá sớm, ngày nay đã trở thành hệ thống hồ sơ địa chính đa mục đích.
Thứ hai, hệ thống quản lý nhà nước vềhồ sơ địa chính của Australia: Australia là
một trong những quốc gia áp dụng hệ thống bằng khoán (title System) khá sớm và điển
hình. Hệ thống quản lý nhà nước về hồ sơ địa chính chủ yếu là công tácđăng ký đất đai
Torrens được hình thành từ năm 1857 ở bang Nam Australia. Trong hệ thống này phải
thành lập cơ quan đăng ký đất đai với chức năng đăng ký đất đai và cung cấp thông tin về
đất đai và bất động sản cho cộng đồng.Australia đã phát huy thế mạnh của hệ thống quản
lý nhà nước về hồ sơ địa chính này từ đầu thế kỷ XX. Ngày nay, hệ thống này được tin
học hóa và hiện đại hóa theo hướng đa mục đích.
Thứ ba, hệ thống quản lý nhà nước về hồ sơ địa chínhcủa Pháp: Ở Pháp, ngay sau
thời kỳ cách mạng tư sản năm 1970, Quốc hội lập hiến đã bãi bỏ thuế thân và chỉ còn lại
thuế đất duy nhất đánh vào các diện tích đất đai sử dụng và thu nhập từ đất. Năm 1807,
Pháp quyết định xây dựng lại hệ thống địa chính dựa trên hệ thống địa chính Napoleon.
Các tài liệu địa chính có giá trị to lớn, nó trở thành nền móng của nền địa chính Pháp
đương đại. Khi cần xác định quyền pháp lý về đất đai thì chủ sở hữu tự chứng minh
quyền sở hữu của mình thông qua các chứng thư pháp lý khác được công nhận trong luật
dân sự.
Trên thế giới, nhiều nước đã có kinh nghiệm về quản lý nhà nước về hồ sơ
địa chính , tuỳ vào tình hình kinh tế- xã hội của họ để chọn ra hình thức và nội dung
phù hợp (quản lý địa chính kiểu Australia, quản lý kiểu Pháp...), tuy có nhiều điểm
khác nhau về cả nội dung và hình thức nhưng đều có thể chuyển hoá theo sự phát
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý
Quận Hai Bà Trưng là một trong 4 quận nội thành cũ, nằm ở phía Đông
Nam trung tâm thành phố Hà Nội.
Quận Hai Bà Trưng có diện tích tự nhiên 1.025,80 ha, gồm 20 phường: Bạch
Đằng (109,92 ha), Bách Khoa (52,13 ha), Bạch Mai (25,62 ha), Bùi Thị Xuân (14,05
ha), Cầu Dền (16,96 ha), Đống Mác (15,28 ha), Đồng Nhân (14,93 ha), Đồng Tâm
(51,42 ha), Lê Đại Hành (86,81 ha), Minh Khai (47,20 ha), Ngô Thì Nhậm (19,18
ha), Nguyễn Du (37,00 ha), Phạm Đình Hổ (30,05 ha), Phố Huế (20,16 ha), Quỳnh
Lôi (25,22 ha), Quỳnh Mai (16,83 ha), Thanh Lương (157,14 ha), Thanh Nhàn
(73,61 ha), Trương Định (52,03 ha), Vĩnh Tuy (160,24 ha).
2.1.2. Địa hình
Quận Hai Bà Trưng thuộc vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng, địa hình
bằng phẳng, có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông. Mức chênh
lệch độ cao giữa các vùng không đáng kể, độ cao trung bình từ 4 - 10m so với mực
nước biển.
Phần lớn diện tích đất trên địa bàn quận là đất phi nông nghiệp; đấtnông
nghiệp của quận chiếm tỷ lệ thấp (1,46% diện tích tự nhiên) chủ yếu là các ao hồ
nhỏ nuôi trồng thủy sản, trồng rau màu và đất sân vườn.
2.2. Tổ chức bộ máy nhà nước về quản lý địa chính
2.2.1. Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Nhân dân quận: Chính quyền quận
Hai Bà Trưngthực hiệnnhiệm vụ QLNN về địa chính trên phạm vi hành chính.
Chức năng nhiệm vụ, cơ cấu của HDND và UBND quận được quy định cụ thể tại
Luật tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 ngày 19/6/2015 chịu sự
chỉ đạo trực tiếp của chính quyền thành phố Hà Nội, có trách nhiệm chấp hành sự
phân công, phân nhiệm của thành phố và các quy định của pháp luật về QLNN về
địa chính.
2.2.1. Phòng Tài nguyên và Môi trường
đai.
Tại các phường của Quận Hai Bà Trưng hiện nay, mỗi phường có 02 cán bộ
trong biên chế và 1 hoặc 2 cán bộ hợp đồng giúp việc. Về trình độ chuyên môn
được đào tạo đúng chuyên ngành, một số có trình độ thạc sỹ quản lý đất đai
nhìn chung trình độ chuyên môn của các cán bộ địa chính đã phù hợp với công
tác quản lý đất đai.
Về cơ sở vật chất, hiện nay theo thống kê của phòng Tài nguyên và Môi
trường về cơ sở vật chất đảm bảo đầy đủ cho các cán bộ khi làm việc..
2.3. Thực trạng quản lý và sử dụng đất quận Hai Bà Trưng
2.3.1. Hiện trạng sử dụng đất
Theo số liệu thống kê đất đất đai đến hết ngày 31/12/2015, quận Hai Bà
Trưng có tổng diện tích 1025.80 ha, bao gồm: Nhóm đất nông nghiệp là: 14,94 ha,
chiếm 1,46% tổng diện tích đất tự nhiên; Nhóm đất phi nông nghiệp có diện tích:
1010,51 ha, chiếm 98,51% tổng diện tích đất tự nhiên và Nhóm đất chưa sử dụng
có diện tích là: 0,35 ha, chiếm 0,03% tổng diện tích đất tự nhiên.
2.3.2. Thực trạngthực hiệnqui định pháp luật trên địa bàn Quận liên quan
đến việc lập và quản lý địa chính
Việc xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính,
lập bản đồ hành chính của Quận được thực hiện tốt trên cơ sở kết quả hoạch
địnhlại ranh giới theo Chỉ thị 364/1991/CT của Chính phủ. Ranh giới giữa quận
Hai Bà Trưng và các quận, huyện giáp ranh được xác định bằng các yếu tố địa vật
cố định hoặc mốc giới và được chuyển vẽ lên bản đồ.
Thực hiện Nghị định số 132/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 6/11/2003 về
việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập các quận Long Biên, Hoàng Mai,
thành lập các phường trực thuộc quận Long Biên, Hoàng Mai, thành phố Hà nội.
Quận Hai Bà Trưng cũ 24 đơn vị hành chính được chia tách 04 phường chuyển
sang thành quận Hoàng Mai. Tổng diện tích tự nhiên của Quận là 1025.80 ha. Sau
khi điều chỉnh địa giới, việc cắm và bàn giao mốc giới, lập bản đồ địa giới được
là 12.433giấy chứng nhận.
Việc lập hồ sơ địa chính HSĐC được triển khai thực hiện ở tất cả các
phường cho 3 loại đất (đất ở, đất nông nghiệp và một số loại đất phi nông nghiệp).
Các phườngcơ bản có sổ theo dõi biến động đất đai, sổ mục kê, sổ theo dõi cấp
GCNQSDĐ, sổ địa chính, sổ đăng ký kê khai nhưng việc cập nhật các thông tin biến
động, chỉnh lý biến động trên bản đồ, HSĐC chưa đều đặn.
Kiểm kê đất đai 5 năm 1 lần thường xuyên được Quận duy trì, cụ thể,
quận Hai Bà Trưng đã tiến hành làm tổng kiểm kê đất đai năm 2005, 2010 và
2015 với kết quả được đánh giá với chất lượng tốt.
Thống kê đất đai hàng năm được duy trì, hàng năm công tác thống kê đất
đai được tiến hành cả cấp huyện và xã.
Chấp hành Chỉ thị số 28/2004/CT-TTg ngày 15 tháng 7 năm 2004 của
Thủ tướng Chính phủ về kiểm kê đất đai; Thông tư số 08/2007/TT-BTNMT ngày
02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn thống kê, kiểm kê đất
đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, thông tư số 28/2014/TT-BTNMT của Bộ
tài nguyên và môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố đã triển khai
kế hoạch và phương án thực hiện công tác này đến quận Hai Bà Trưng.
Trong năm 2010, 2015Quận đã tiến hành tổng kiểm kê đất đai theo đúng
quy định, được sự chỉ đạo của UBND thành phố, Sở Tài nguyên và Môi trường
tổ chức triển khai, đôn đốc các phường thực hiện kiểm kê theo hướng dẫn mới
của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
2.4. Thực trạng quản lý nhà nước về địa chính tại quận Hai Bà Trưng
Sau khi quận Hai Bà Trưng được thành lập và đi vào hoạt động ổn định,
UBND quận đã phối hợp với chính quyền cơ sở (phường) và các cơ quan chức
năng tiến hành thực hiện hàng loạt các văn bản dưới Luật nhằm quản lý chặt
chẽ quỹ đất đồng thời đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của thành phố và địa
phương.
Nhìn chung, từ khi Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành, Chính
ở bước điều tra cơ bản. Phần lớn các phường ven ngoại ô mới chỉ có bản đồ giải
thửa được xây dựng bằng phương tiện và công nghệ thủ công lạc hậu. Các biến
động đất đai không được chỉnh lý kịp thời nên độ chính xác của bản đồ chưa cao,
sau khi chỉnh lý không được ký và xác nhận, lưu giữ lộn xộn, khai thác tùy tiện. Hệ
thống bản đồ này tới nay phần lớn không phù hợp với thực tế do không chỉnh lý
biến động kịp thời như: Thanh Lương, Vĩnh Tuy, Bạch Đằng….Kết quả trong giai
đoạn này đã đo đạc, chỉnh lý lập được 84 tờ bản đồ với tỷ lệ 1/1.000. Hiện nay bản đồ
này bị thất lạc nhiều chủ yếu được sử dụng làm tài liệu tra cứu tại các xã, thị trấn.
Sau Luật đất đai năm 1993: Giai đoạn từ năm 1996 đến năm 1997, Quận
Hai Bà Trưng đã tập trung đo đạc lập bản đồ theo phương pháp toàn đạc truyền
thống (dùng máy kinh vĩ để đo),BĐĐC được thành lập theo quy phạm tại Quyết
định 220/QĐ-ĐC ngày 01/7/1991 của Tổng cục Địa chính về ban hành Quy phạm
đo vẽ BĐĐC tỷ lệ 1/500, 1/1000.Trong giai đoạn này,đo vẽ BĐĐC đã được thực
hiện trên toàn bộ các xã của huyện (đạt 100% diện tích toàn Quận) với tổng số tờ
bản đồ trên toàn Quận là644tờ tỷ lệ 1/200.
* Về lập các loại sổ:Kèm theo hệ thống BĐĐC đã đo vẽ tại phường là các
loại hồ sơ kèm theo (cùng thời điểm): sổ mục kê, sổ địa chính, sổ cấp GCNQSDĐ,
biểu mẫu các loại đất.
Sổ Cấp GCNQSDĐ ở cho hộ gia đình, cá nhân
Công tác cấp GCNQSDĐ ở trên địa bàn quận Hai Bà Trưng được thực hiện
theo Luật đất đai năm 1993 và các Quyết định của UBND thành phố Hà Nội: tính
đến hết ngày 31/12/2015, toàn quận đã cấp được là 33.270 GCNQSDĐ.Như vậy,
với tổng số 45.703 trường hợp SDĐ trên địa bàn quận Hai Bà Trưng còn 12.433
trường hợp chưa được cấp GCNQSDĐ. Theo báo cáo của UBND các phường về rà
soát các trường hợp chưa được cấp GCN năm 2015 thì trong tổng số trường hợp
chưa được cấp GCNQSDĐ có 5179trường hợp chưa đủ điều kiện cấp GCN.
*Sổ cấp GCNQSDĐ cho các tổ chức SDĐ
Số GCNQSDĐ đã cấp cho các tổ chức SDĐ là rất ít. Trên địa bàn Quận Hai
2.5. Đánh giá quản lý nhà nước về địa chính của chính quyền quận Hai Bà Trưng
Đánh giá QLNN nước về địa chính là một công việc phức tạp, nhiều tiêu chí,
chỉ tiêu không thể lượng hoá được. Trên cơ sở áp dụng 5 tiêu chí đánh giá chính
sách công của Ngân hàng thế giới, tác giả xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp
nhằm thực hiện việc đánh giá QLNN về địa chính từ thực tiễn của quận Hai Bà
Trưng như sau:
1. Tiêu chí phù hợp: Chất lượng QLNN về địa chính của quận Hai Bà
Trưngphụthuộc vào những yếu tố được xem là đầu vào của quản lý.
2. Tiêu chí hiệu lực: Tính hiệu lực QLNN về địa chính thểhiệnởvai trò
lãnhđạo của cấp uỷ Đảng, việc giám sát thực hiện pháp luật của HĐND, việc tổ
chức thực hiện của UBND, sự phối hợp tham gia của các tổ chức chính trị- xã hội
và người sử dụng đất. Đối quận Hai Bà Trưng công tác này đã được sự quan tâm
của chính quyền, tuy nhiên chưa thật sự thường xuyên và có những chương trình,
mục tiêu cụ thể.
3. Tiêu chí hiệu quả: được xem xét trong QLNN về địa chính của quận Hai
Bà Trưng thể hiện mức độ hoàn thành 3 mục tiêu tổng quát của quản lý. QLNN về
địa chính đã có những tiến bộ đáng kể, góp phần ổn định KT- XH tại quận.
4. Tiêu chí tác động: QLNN về địa chính của quận Hai Bà Trưng đã có
những tácđộng nhất định đối sự phát triển kinh tế xã hội quận như: các khoản thu
ngân sách tăng bình quân hàng năm; ý thức pháp luật của người dân đã được nâng
cao; tình hình an ninh chính trị trên địa bàn ổn định; cảnh quan môi trường, di tích
lịch sử được và hệ thống hạ tầng kỹ thuật được cải thiện, quận đã có dáng dấp của
một đô thị hiện đại, đời sống văn hoá tinh thần cho người dân ngày càng được
nâng cao.
5. Tiêu chí bền vững: Để được sựbền vững trong QLNN về địa chính
củaquận cần 3 yếu tố chính là: bền vững về tài chính, bền vững về nghiên cứu khoa
học và áp dụng công nghệ, bền vững về mức độ tham gia vào các hoạt động quản
lý của người sử dụng đất, các tổ chức chính trị xã hội.
công cụ để đảm bảo tính thực thi. Như vậy, cần xây dựng một lực lượng có kinh
nghiệm và trình độ cao để thực hiện công tác kiểm tra phương án quy hoạch đồng
thời kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp.
Thứ hai, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước về địa chính.
Cần xác định ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực quản lý địa chính
nhất . Việc này có vai trò quan trọng, tạo bước đột phá trong công tác quản lý, cải
cách thủ tục hành chính. Do vậy, để công tác quản lý địa chính được chặt chẽ, khoa
học thì ứng dụng công nghệ thông tin, tin học hóa các quy trình nghiệp vụ, dịch vụ và
tác nghiệp chuyên môn tại cơ sở là rất cần thiết nhằm:
Tăng cường khả năng tiếp cận, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác
chuyên môn cho đội ngũ cán bộ cơ sở, nhằm nâng cao quả công tác quản lý, xử lý
và khai thác dữ liệu đất đai. Đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất
đai trong tình hình mới.
UBND các phường phải ứng dụng các phần mềm chuyên ngành( phần mềm
Landinfo) phục vụ công tác quản lý.Cần áp dụng nhiều phần mềm hỗ trợ trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai trong tình
hình hiện nay.
Thứ ba, tạo lập cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai thuận lợi cho tra cứu, xây
dựng cơ sở dữ liệu địa chính thay thế cho việc lập hồ sơ địa chínhdạng giấy hiện nay.
Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai sẽ phục vụ đắc lực tác nghiệp chuyên môn
như đăng ký cấp GCNQSDĐ, quy hoạch, đền bù giải phóng mặt bằng... được thực
hiện chính xác, rút ngắn thời gian. Thông tin đất đai được truy vấn, khai thác đơn
giản, thuận tiện làm tăng hiệu quả công việc. Thay đổi cách các điều hành công
tác HSĐC theo phương pháp hiện đại, phát hiện và làm chuẩn hóa kết quả giải
quyết công việc của cán bộ cấp dưới, tăng cường tư duy, năng lưc cán bộ.
Thứ tư, tăng cường pháp chế trong quản lý Nhà nước về đất đai
Xây dựng, hoàn thiện Luật đất đai với nội dung đáp ứng cho được nhu cầu
của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá: một là tiếp tục xác lập chế độ sở hữu
“cha chung không ai khóc”.
Đầu tiên, ta cần rà soát lại chức năng, nhiệm vụ của cơ quan địa chính theo
hướng gọn nhẹ, phân công, phân cấp, phối hợp chặt chẽ và đồng bộ đảm bảo sự điều
hành tập trung, thống nhất, thông suốt đảm bảo bộ máy hoạt động nhịp nhàng có
hiệu quả.
Bên cạnh đó, cần phải xây dựng một đội ngũ cán bộ ổn định, am hiểu tình hình
địa phương, nâng cao chế độ giám sát theo đúng tiêu chuẩn. Tăng cường giám sát, xử lý
nghiêm minh các trường hợp sai phạm khi thực hiện công tác.Đào tạo nhằm năng cao
trình độ chuyên môn, trình độ lý luận và thực tiễn.
Cần thiết áp dụng và thực hiện nghiêm túc cơ chế “một cửa” nhằm đơn giản
hóa các thủ tục hành chính, các thủ tục được quy về một mối, giảm thiểu phiền hà
cho tổ chức, cá nhân.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về địa chính
3.2.1. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các
văn bản quản lý địa chính
* Xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về trình tự,
thủ tục quản lý địa chính
Quy trình quản lý địa chính được xây dựng dựa trên quy định của Luật đất
đai và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành luật đất đai. Để các cơ quan
chuyên môn về quản lý địa chính dễ thực hiện công đoạn của quá trình quản lý địa
chính, nhà nước nên ban hành Luật về thủ tục quản lý địa chính.
* Hệ thống văn bản do UBND Quậnhướng dẫn thực hiện văn bản của cơ
quan quản lý cấp trên
Hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành của UBND Quận là cơ sở để
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng
đất thực hiện giải quyết hồ sơ, quản lý hồ sơ địa chính cần được tập hợp hóa thành
cơ sở dữ liệu văn bản về địa chính, được quản lý tại một Trung tâm dữ liệu địa
chính trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận. Một hệ thống văn bản
hướng dẫn đầy đủ, đồng bộ và kịp thời sẽ giúp cho công tác quản lý địa chính đơn
giản, hiệu quả và khoa học.
Đo đạc, lập BĐĐC là cơ sở quan trọng cho khâu kê khai đăng ký, lập HSĐC
và cấp GCNQSDĐ, phục vụ đắc lực trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai
trên địa bàn quận Hai Bà Trưng.
Để đáp ứng cho yêu cầu quản lý đất đai và sử dụng đất trong giai đoạn hiện
nay của quận Hai Bà Trưng đòi hỏi phải có bản đồ địa chính chính quy nhằm đảm
bảo độ chính xác thông tin của từng thửa đất. Vì vậy tiến hành triển khai dự án
hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (VILAP) trên địa bàn
quận và xây dựng thực hiện các dự án khác cho mục đích đo đạc lập bản đồ địa
chính trên phạm vi toàn quận là rất cần thiết.
* Đẩy mạnh, nhanh việc đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
UBND quận chỉ đạo các phường thực hiện việc rà soát, xác định lại kết quả
cấp GCNQSDĐ, thống kê tình hình tồn đọng chưa cấp GCNQSDĐ.Căn cứ vào
khối lượng tồn đọng, mục tiêu cơ bản của từng địa phương, UBND quận cần giao
chỉ tiêu khối lượng cần cấp GCNQSDĐ cho từng phường phải thực hiện và hoàn
thành trong năm 2016.Rà soát cải cách thủ tục hành chính trong cấp GCNQSDĐ cho
phù hợp với quy định của pháp luật đất đai hiện hành, rút ngắn thời gian, giảm phiền
hà cho người sử dụng. Các văn bản giải quyết vướng mắc, tồn tại trong cấp
GCNQSDĐ cần phải cụ thể, rõ ràng, phù hợp với thực tế, không quá cầu toàn mà nên
phân chia các vướng mắc, tồn tại thành nhiều nhóm để ban hành thành nhiều văn bản
cho thống nhất, bảo đảm tính kịp thời.
Các trường hợp đang có tranh chấp, vi phạm pháp luật đất đai đối với một
phần diện tích mà chưa thể giải quyết ngay thì xem xét cấp GCBQSDĐ trước đối
với phần diện tích đất không tranh chấp, vi phạm.
Các trường hợp do quản lý yếu kém, để dân lấn chiếm hoặc tự ý chuyển mục
đích SDĐ từ đất nông nghiệp thành đất ở hay người dân lấn chiếm đất công đã ổn
định từ trước 1/7/2014 cần rà soát, xem xét cấp GCNQSDĐ cho người sử dụng để
thực hiện quản lý và tạo nguồn thu ngân sách nhà nước.
Mặt khác, UBND quận và UBND các phường cũng tăng cường tuyên truyền,
Cán bộ địa chính phường phải là người am hiểu chính sách, pháp luật quản lý
đô thị nói chung và quản lý đất đai nói riêng; hướng dẫn ngời sử dụng đất chấp hành
chính sách, pháp luật đất đai, nhà cửa; thực hiện việc hoà giải khi có tranh chấp đất
đai, nhà cửa; nắm chắc hiện trạng và quy hoạch sử dụng đất đai, quy hoạch đô thị
của phường; có ý thức tổ chức kỷ luật trong công tác; trung thực, gắn bó mật thiết
với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.Đảm bảo chế độ chính sách thoả đáng và ổn
định cho cán bộ địa chính phường, quan tâm và có hướng bồi dưỡng lâu dài cho
đội ngũ làm cán bộ hợp đồng.
Đảm bảo tính ổn định, chuyên nghiệp cho cán bộ địa chính. Cán bộ địa
chính cấp cơ sở phải công tác liên tục ở địa bàn, ít luân chuyển, không kiêm nhiệm
công tác khác (quản lý xây dựng đô thị, giao thông…).
*Đầu tư tài chính, kỹ thuật
Ngoài đầu tư bằng ngân sách hàng năm dành cho hoạt động sự nghiệp địa
chính, cần tận dụng các nguồn tài chính khác để nhanh chóng hoàn thiện và hiện
đại hệ thống quản lý đất đai, thông qua ứng dụng các tiến bộ của công nghệ thông
tin. đảm bảo cho hệ thống hoạt động kết nối được với hệ thống cơ sở dữ liệu các
cấp thông suốt.
Trước mắt ưu tiên đầu tư kinh phí để cập nhật tốt các loại quy hoạch (chi tiết
xây dựng, giao thông, thủy lợi…) lên BĐĐC đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật (về tỷ
lệ, hệ tọa độ bản đồ….) để phục vụ tốt việc khai thác sử dụng thống nhất, hiệu quả
kết quả đo đạc.
*Một số giải pháp khác:
Tăng cường tuyên truyền, phổ biến đến toàn thể cán bộ, nhân dân trong quận
tự giác thực hiện các chính sách hiện hành liên quan đến lĩnh vực nhà, đất, vận
động nhân dân tự giác chấp hành .
Phối hợp với các ngành chức năng của thành phố, các Phòng, ban chuyên
môn của quận tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giám sát việc quản lý, sử
dụng đất của các tổ chức cá nhân, có biện pháp xử lý kiên quyết, kịp thời xử lý đối
với các trường hợp cố tình vi phạm Luật đất đai.
Tiến hành rà soát, kiến nghị với thành phố và xử lý dứt điểm các trường hợp