BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐOÀN THU TRANG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH
TỪ THỰC TIỄN QUẬN HAI BÀ TRƯNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐOÀN THU TRANG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH
TỪ THỰC TIỄN QUẬN HAI BÀ TRƯNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Xin cám ơn Ban giám hiệu, Ban đào tạo sau đại học, các thầy, cô thuộc
khoa Nhà nước và Pháp luật - Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện Luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Văn phòng đăng ký đất đai Hà nộichi nhánh quận Hai Bà Trưng, anh chị em đồng nghiệp nơi tôi đang công tác,
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập.
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo và cán bộ phòng Tài nguyên và môi
trường quận Hai Bà Trưng, Văn phòng đăng ký đất đai Hà nội - chi nhánh
quận Hai Bà Trưng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
và thực hiện Luận văn.
Xin cảm ơn tới các cơ quan, đoàn thể, UBND các phường đã giúp đỡ
tôi trong quá trình điều tra và thu thập số liệu.
Xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, các anh chị em học viên lớp HC19B7 đã
động viên và giúp đỡ tôi trong những lúc tôi gặp khó khăn để hoàn thành luận
văn này.
Học viên
Đoàn Thu Trang
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐĐC:
Bản đồ địa chính
BNV:
Bộ Nội vụ
BTC:
QĐ:
Quyết định
QH:
Quốc hội
QLNN:
Quản lý nhà nước
STNMT:
Sở Tài nguyên môi trường
TCĐC:
Tổng cục địa chính
TNMT:
Tài nguyên môi trường
TT:
Thông tư
TTLT:
1.2.1. Yếu tố thể chế........................................................................................ 19
1.2.2. Yếu tố con người ................................................................................... 20
1.2.3. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện quản lý nhà
nước về địa chính ............................................................................................ 21
1.2.4. Tổ chức bộ máy chuyên trách ............................................................... 21
1.2.5. Công nghệ thông tin và các yếu tố kỹ thuật khác ................................. 23
1.3. SƠ LƯỢC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚCVỀ ĐỊA CHÍNH QUA CÁC THỜI
KỲ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM ............................................................. 24
1.4. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH Ở MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI................................................................................ 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1................................................................................ 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ...... 31
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN .......................................................................... 31
2.1.1. Vị trí địa lý ............................................................................................ 31
2.1.2. Địa hình ................................................................................................. 32
2.2. TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VỀ QUẢN LÝ ĐỊA CHÍNH.......... 33
2.2.1. Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Nhân dân quận .................................... 33
2.2.2. Phòng tài nguyên và môi trường quận .................................................. 34
2.2.2. Văn phòng đăng ký đất đai- Chi nhánh Quận Hai Bà Trưng ............... 36
2.2.3. Cán bộ địa chính tại các phường ........................................................... 37
2.3. PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH TẠI QUẬN
HAI BÀ TRƯNG ............................................................................................ 41
2.3.1. Phương pháp hành chính: ...................................................................... 42
2.3.2. Phương pháp kinh tế ............................................................................. 42
2.3.3. Phương pháp tuyên truyền giáo dục...................................................... 42
2.4. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH TẠI QUẬN HAI
BÀ TRƯNG .................................................................................................... 43
Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, tại
chương 3, điều 53 quy định “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng
sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài
sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Ở Việt Nam, Nhà
nước là đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai nhưng không trực tiếp
khai thác và sử dụng, mà trao quyền sử dụng cho các tổ chức, hộ gia đình và
cá nhân.
Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó
cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và
các sinh vật khác trên trái đất. Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với
loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản
xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp”. Bởi vậy, nếu không
có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể
tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống
đến ngày nay. Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài con người chiếm hữu đất
đai, biến đất đai từ một sản vật tự nhiên thành một tài sản của cộng đồng, của
một quốc gia. Luật Đất đai năm 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu
sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là
địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội,
an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức,
xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay”.
1
Tại điều 4 Luật đất đai 2013 cũng khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu
toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước
trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật”.
phục các hạn chế, tồn tại trong thời gian tới.
Xuất phát từ thực tế trên, việc nghiên cứu vấn đề “Quản lý nhà nước về
địa chính từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội” có ý nghĩa cả
về mặt lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có một số công trình nghiên cứu về địa chính Nhà nước, như:
Đề tài “Nghiên cứu hoàn chỉnh lý luận địa chính Nhà nước và xây dựng
bộ HSĐC các cấp giai đoạn 1983 - 1993” của nhóm nghiên cứu thuộc Tổng
cục Quản lý đất đai, chủ nhiệm đề tài là kỹ sư Nguyễn Trinh Thạch và các cán
bộ tham gia nghiên cứu: kỹ sư Đặng Thị Vân, Phạm Tiến Lợi, Bùi Sỹ Dũng,
Nguyễn Hữu Thắng. Các tác giả đã đưa ra được một hệ thống lý luận về QLNN
về địa chính, bao gồm nhiều khái niệm, nội dung và nguyên tắc cơ bản của
quản lý nhà nước về địa chính. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, phân tích tình
hình sử dụng đất đai và cơ cấu kinh tế xã hội của nước ta, đã xác định được nội
dung và nhiệm vụ địa chính trong thời gian qua, vạch ra hướng tiến hành công
tác địa chính trong thời gian tới. Đề tài đã xác lập được nội dung các bước xây
dựng hệ thống HSĐC trước mắt cho các đơn vị sử dụng và đơn vị Nhà nước
cấp xã, đảm bảo tính khoa học, dễ sử dụng, dễ lưu trữ, phù hợp với trình độ và
thực tế khó khăn hiện nay ở địa phương. Đặc biệt, đề tài đã chú ý xem xét đến
những điều kiện khó khăn hiện tại và những tiến bộ khoa học kỹ thuật có thể
ứng dụng được như sử dụng máy tính điện tử trong các khâu xây dựng bản đồ,
tính toán diện tích, thống kê và lưu trữ số liệu, ứng dụng ảnh máy bay trong
công tác bản đồ và thống kê đất đai...
3
Đề tài“Hoàn thiện hệ thống HSĐC phục vụ yêu cầu đổi mới quản lý Nhà
nước về đất đai giai đoạn 1983 - 1993” của Tổng cục quản lý đất đai do chủ
nhiệm đề tài là kỹ sư Bạch Gia Tế cùng các cán bộ tham gia nghiên cứu: kỹ
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Phân tích thực trạng quản lý địa chính trên địa bàn quận Hai Bà Trưng
thấy những kết quả đạt được, hạn chế tồn tại, tìm ra nguyên nhân của các hạn
chế, từ đó đề xuất giải pháp khả thinhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý
nhà nước về địa chính trên địa bàn quận Hai Bà Trưng .
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa kiến thức khoa học của QLNN vềđịa chính.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng, phân tích những thuận lợi, khó khăn,
tồn tại trong công tác quản lý địa chính trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, qua
đó tìm ra giải pháp để khắc phục các tồn tại và hạn chế trong công tác quản lý
địa chính trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu việc quản lý về mốc giới địa chính, địa giới
hành chính, HSĐC và các công tác khác có liên quan đến địa chính tại Quận
Hai Bà Trưng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Công tác quản lý địa chính trên địa bàn quận Hai Bà Trưng,Thành phố
Hà Nội từ khi có Luật đất đai 1993 đến hết năm 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1.Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, đây là hệ thống lý
5
luận nền tảng đối với toàn bộ khoa học xã hội ở nước ta, tức là đặt việc xây
dựng hệ thống địa chính trong mối quan hệ của đất đai cũng như nội dung khác
của quản lý nhà nước.
Luận văn phân tích thực trạng lập và quản lý địa chính trên địa bàn
Quận, tìm nguyên nhân tồn tại, bất cập, từ đó đề xuất những giải pháp có tính
khả thi nhằm hoàn chỉnh công tác quản lý nhà nước về địa chínhtại quận Hai
Bà Trưng. Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên
và học viên, cán bộ làm công tác liên quan đến quản lý nhà nước về địa chính.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn có kết cấu gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về địa chính.
- Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về địa chính trên địa bàn
quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước về
địa chính từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH
1.1. Quản lý nhà nước về địa chính
1.1.1. Khái niệm về quản lý nhà nước
Quản lý là một hoạt động tất yếu khách quan, diễn ra ở mọi tổ chức có quy
mô từ nhỏ đến lớn, từ cấu trúc đơn giản đến phức tạp. Xã hội ngày càng phát
triển, trình độ hợp tác và phân công lao động ngày càng cao thì yêu cầu về công
tác quản lý ngày càng hoàn thiện. Quản lý với tư cách là một khoa học độc lập
thì còn rất mới, như Laurence Lowell nhận xét : “quản lý là nghiệp xưa nhất và
là nghề mới nhất”. Những tư tưởng về quản lý xã hội đã xuất hiện từ xa xưa,
nhưng càng về sau thì mới xuất hiện thêm các trường phái quản lý. Cho đến nay
có một cách tiếp nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà khoa học và quản lý thực
tiễn về khái niệm quản lý là sự tác động có tổ chức, có đích hướng của chủ thể
trên đất, quyền sử dụng đất làm cơ sở cho việc phân bổ, thu thuế đất, quản lý
địa chính thông qua việc lập, cập nhật, và bảo quản các tài liệu địa chính.Có
thể hiểu ngắn gọn,địa chính là khoa học về đo đạc bản đồ và quản lý địa chính
trên cơ sở dữ liệu do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tạo ra, bởi vậy,địa
chính là công việc của Nhà nước mà trọng tâm của công việc là lập HSĐC và
quản lý HSĐC.
“Địa” là đất,mảnh đất, thửa đất, lãnh thổ, còn “Chính” là công việc của
Nhà nước đề ra các phép tắc, luật lệ để quản lý đất đó (Theo Từ điển Hán Việt năm 1998). Chi tiết về“địa chính” được hiểu các công việc sau:
Thứ nhất, địa chính là bản kê về tài sản gắn liền với đất và quyền sử dụng
đất, trong đó chứa đựng những thông tin đầy đủ về chủ sử dụng đất, loại đất, vị
trí tọa lạc của thửa đất.
9
Thứ hai, địa chính là việc quản lý địa chính do cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền tiến hành gồm ba khâu cơ bản:lập BĐĐC, thống kê số lượng, đánh giá
chất lượng làm căn cứ tính thuế, xác định khía cạnh pháp lý của đất đai nhằm
quy định nghĩa vụ và quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu, chủ sử dụng đất, sản
phẩm của ba khâu này phải được thể hiện cơ bản trong HSĐC. HSĐC còn được
gọi là hồ sơ pháp lý về thửa đất.
Vậy, quản lý nhà nước về địa chính là hoạt động của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền nhằm thực hiện bảo vệ quyền sở hữu Nhà nước về đất đai, điều
chỉnh các lợi ích của Nhà nước. Quản lý địa chính dựa trên cơ sở Hiến pháp,
luật và các văn bản pháp luật khác. Việc quản lý được thực hiện thông qua hệ
thống Nhà nước mà trọng tâm của công việc là lập và quản lý HSĐC.
1.1.3. Khái niệm về HSĐC
Khái niệm về HSĐCđược quy định tại Thông tư số 24/2014/TTBTNMT ngày 19/5/2014 của B.TNMT.Điều 2, Thông tư 24/2014 qui định:
HSĐC là tập hợp tài liệu thể hiện thông tin chi tiết về hiện trạng và tình trạng
pháp lý của việc quản lý, sử dụng các thửa đất, tài sản gắn liền với đất để
tin chứa dựng thông tin về đất đai, thường do cơ quan chính quyền cấp xã
(cấp cơ sở) cấp và quản lý; thứ hai là các giấy tờ chứng minh xác định quyền
sử dụng đất, những giấy tờ này do người nắm giữ quản lý. Việc sử dụng hệ
thống địa bạ đơn giản, dễ thực hiện, là hệ thống đạt được mục tiêu cấp cơ sở,
sử dụng trong phạm vi hẹp. Bên cạnh những ưu điểm trên thì nó có nhược
điểm đó là thông tin về đất đai không chính xác, không thống nhất trong công
tác quản lý địa chính do việc quản lý chỉ sử dụng ở đơn vị hành chính nhỏ và
quản lý trên từng mảnh đất, lô đất. Nếu quản lý đất trong phạm vi rộng hơn
thì khó thực hiện, sử dụng trong trường hợp điều kiện kỹ thuật chưa phát
triển, điều kiện đất đai ít biến động, ít có sự thay đổi về mục đích sử dụng,
cũng như chủ thể sử dụng và các quan hệ sử dụng.
11
- Hệ thống bằng khoán (bằng khoán điền thổ): là hệ thống hồ sơ quản
lý địa chính một cách thống nhất, trên cơ sở đó hệ thống BĐĐC cùng với các
hệ thống quản lý hoàn chỉnh và đồng bộ. Hệ thống này được áp dụng thời
Pháp thuộc ở nước ta.
Hệ thống này ra đời sau khi hệ thống địa bạ ra đời. Sự ra đời của hệ
thống này là khách quan bởi cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội các
quan hệ đất đai phát triển đặc biệt là quan hệ hàng hoá tiền tệ (mua - bán) cho
thuê, chuyển nhượng… Do đó mà hệ thống thông tin về quản lý địa chính
phát triển đó là việc xác lập BĐĐC.
Nội dung của hệ thống bằng khoán bao gồm: hệ thống BĐĐC quy định
thống nhất trong cả nước; thứ hai là hệ thống hồ sơ sổ sách để ghi chép, quản lý
thông tin về mảnh đất, và cuối cùng là GCNQ sử dụng đất trong cả nước. Với
nội dung trên thì hệ thống bằng khoán đảm bảo thông tin thống nhất, chặt chẽ,
việc quản lý diễn ra trên cả nước. Việc sử dụng hệ thống này tạo điều kiện để
phát triển quan hệ hàng hoá tiền tệ về đất đai một cách chính xác, đầy đủ sẽ
ngăn chặn tình trạng thông tin ngầm tạo điều kiện cho thị trường bất động sản
tọa độ thống nhất; bản đồ giải thửa toàn xã đo vẽ bằng nhiều phương pháp
khác nhau; hồ sơ kỹ thuật thửa đất đối với đất đô thị hoặc sơ đồ trích thửa đối
với thửa đất nông, lâm nghiệp nhiều chủ sử dụng nhưng ranh giới giữa các
chủ chưa thể hiện bằng bờ cố định; bản đồ trích lục ô phố, xứ đồng, thôn ấp,
bản hoặc từng thửa đất trong trường hợp chưa có BĐĐC mà có nhu cầu cần
đăng ký lập hồ sơ, cấp GCNQ sử dụng đất đến hộ gia đình, cá nhân, từng tổ
chức trên từng thửa đất.
+ Sổ địa chính gồm Sổ địa chính ở nông thôn và Sổ địa chính thành thị.
Sổ địa chính và BĐĐClà hai tài liệu chứa đựng thông tin mang tính pháp lý của
đất đai.
13
+ Sổ mục kê: thường dùng cho khu vực nông thôn được dùng để thống
kê, kiểm kê đất đai tiện lợi hơn, vì hệ thống công nghệ thông tin nhiều địa
phương chưa tốt.
+ Sổ cấp GCNQ sử dụng đất
+ Sổ theo dõi biến động đất đai.
+ Biểu số liệu thống kê diện tích: cho biết diện tích từng đơn vị đất đai
và từng đơn vị hành chính giúp cho nhà quản lý có được thông tin cụ thể.
Tất cả các tài liệu trên phục vụ cho công tác trực tiếp quản lý địa chính,
đây là hồ sơ thường trực, hồ sơ này được sử dụng thường xuyên.Bên cạnh các
tài liệu được sử dụng thường xuyên thì có tài liệu chỉ được sử dụng khi cần
thiết có thể sử dụng như tài liệu gốc lưu trữ. Các tài liệu này dùng xác nhận
thông tin đảm bảo hệ thống hồ sơ trên mang tính pháp lý và dùng để thẩm tra,
kiểm tra. Các tài liệu này hình thành trong quá trình đo đạc, lập BĐĐC gồm
toàn bộ thành quả giao nộp theo luận chứng kinh tế kỹ thuật đã được duyệt
của mỗi công trình đo vẽ, lập BĐĐC và các thông tin, tư liệu hình thành trong
quá trình đăng ký lần đầu và đăng ký biến động đất đai gồm: các giấy tờ do
vai trò quản lý của Nhà nước. Nhà nước muốn quản lý chặt chẽ toàn bộ đất
đai trước hết cần nắm vững các thông tin về tình hình đất đai bao gồm:
Đối với đất đai Nhà nước đã giao quyền sử dụng đất, các thông tin cần
biết gồm: tên chủ sử dụng, hình thể, vị trí, kích thước, diện tích, hạng đất,
mục đích sử dụng, hạn mức sử dụng đất, những ràng buộc về quyền sử dụng,
những thay đổi trong quá trình sử dụng đất và cơ sở pháp lý.
Đối với đất chưa giao quyền sử dụng, các thông tin cần biết: vị trí, hình
thể, diện tích, loại đất. Tất cả các thông tin trên phải được thể hiện chi tiết đến
từng thửa đất. Đây là đơn vị nhỏ nhất chứa đựng các thông tin về tình hình tự
nhiên, kinh tế, xã hội và pháp lý của đất đai theo yêu cầu quản lý nhà nước về
địa chính.
15
Yêu cầu thông tin đất đai trong quản lý nhà nước về địa chính.
Hồ sơ
địa chính
1- Vị trí
1- Bản đồ
2- Hình thể
3- Kích thước
2- Sổ
4- Diện tích
mục kê
12- Cơ sở pháp lý
pháp lý
13- Thay đổi quyền sử dụng
Với những yêu cầu về thông tin đất đai đó, qua việc thực hiện đăng ký
đất đai, thiết lập HSĐC đầy đủ, chi tiết đến từng thửa đất trên cơ sở thực hiện
đồng loạt các nội dung: đo đạc lập BĐĐC, quy hoạch sử dụng đất, giao đất, cho
thuê đất… Nhà nước mới thực sự quản lý được tình hình đất đai trong phạm vi
lãnh thổ và thực hiện quản lý chặt chẽ mọi biến động theo đúng pháp luật.
1.1.7. Vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước về địa chính:
Luật pháp là công cụ quản lý không thể thiếu được của Nhà nước. Từ
xưa đến nay Nhà nước luôn thực hiện quyền cai trị của mình, trước hết bằng
luật pháp. Nhà nước dùng luật pháp tác động vào ý chí của con người để điều
chỉnh hành vi của con người. Đối với công tác quản lý nhà nước về địa chính,
luật pháp có vai trò chủ yếu sau đây:
16
Duy trì trật tự và an toàn xã hội trong lĩnh vực đất đai và nhà ở. Đất đai và
nhà ở là yếu tố gắn chặt với lợi ích vật chất, tinh thần của tổ chức và cá nhân do
đó rất dễ nảy sinh nhiều mâu thuẫn phức tạp. Trong các mâu thuẫn đó nhiều
trường hợp phải dùng đến luật pháp để cưỡng chế mới giải quyết được. Như vậy
luật pháp là công cụ quan trọng nhằm duy trì trật tự và an toàn xã hội.
Luật pháp là công cụ bắt buộc các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ
thuế và nghĩa vụ khác. Nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân sử dụng đất và
nhà ở, trước hết là nghĩa vụ thuế có tính chất bắt buộc. Song, không phải lúc
nào nghĩa vụ đó đều được các tổ chức cá nhân tự giác thực hiện. Điều này
không những để duy trì trật tự xã hội, mà còn để cho các tổ chức và cá nhân