HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
NGUYN TH MIN
PHáT TRIểN NÔNG NGHIệP THEO HƯớNG BềN VữNG
ở TỉNH NAM ĐịNH
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: KINH T PHT TRIN
H NI - 2017
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU......................................................................................................................1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN .....................................................................................6
1.1. Những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
luận án ..................................................................................................................6
1.2. Đánh giá chung về những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
luận án và vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu ........................................................22
Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG
NGHIỆP THEO HƢỚNG BỀN VỮNG Ở ĐỊA BÀN CẤP TỈNH ............25
2.1. Khái niệm và nội dung phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững .....................25
2.2. Chỉ tiêu đánh giá phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở địa bàn
cấp tỉnh ..............................................................................................................35
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
ở địa bàn cấp tỉnh ............................................................................................. 44
2.4. Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững của một số
CCKT
CĐLK
CĐML
CMKT
CNCB
CNH,HĐH
ĐBSH
DN
ĐTN
GTNT
GTSX
HTX
KCHT
KH&CN
KHCN
KHKT
NN&PTNT
NSLĐ
NTM
NTTS
ONMT
PTBV
PTNN
SXNN
TNBQ
TNTN
UBND
WTO
: An toàn vệ sinh thực phẩm
: Tổ chức Thương mại Thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Bộ chỉ tiêu đánh giá phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
ở địa bàn cấp tỉnh .....................................................................................43
Bảng 3.1: Tỷ lệ VAnn/Gonn tỉnh Nam Định (theo giá so sánh 2010) giai
đoạn 2006 - 2016......................................................................................72
Bảng 3.2: Cơ cấu ngành trồng trọt tỉnh Nam Định giai đoạn 2006 - 2016 ...............75
Bảng 3.3: Số việc làm và tỷ lệ việc làm thủy sản trong tổng số việc làm
ngành nông nghiệp tỉnh Nam Định giai đoạn 2006-2016 (việc làm
trong độ tuổi) ............................................................................................ 81
Bảng 3.4: Tỷ lệ hộ nghèo nông nghiệp tỉnh Nam Định giai đoạn 2006-2016 ..........82
Bảng 3.5: Hệ số co giãn của nghèo với tăng trưởng nông nghiệp Nam Định
giai đoạn 2006 - 2016...............................................................................83
Bảng 3.6: Tốc độ tăng lượng thuốc BVTV sử dụng qua các vụ (2013-2014) ..........89
Bảng 3.7: Tổng hợp đánh giá PTNN theo hướng bền vững ở tỉnh Nam Định
giai đoạn 2006-2016.................................................................................98
Bảng 3.8: Trình độ CMKT của lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản Nam
Định trong độ tuổi lao động ...................................................................104
DANH MỤC CÁC BIỂU, HÌNH
Biểu đồ 3.1: Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp Nam Định theo giá so sánh
2010 giai đoạn 2006-2016 .................................................................68
Biểu đồ 3.2: Động thái tăng trưởng nông nghiệp Nam Định, Thái Bình và cả
nước theo giá so sánh 2010 giai đoạn 2006-2016 .............................. 69
Biểu đồ 3.3: Năng suất lao động nông nghiệp Nam Định và cả nước theo giá
hiện hành giai đoạn 2006-2016 ..........................................................70
Biểu đồ 3.4: Hiệu quả đầu tư nông nghiệp Nam Định và cả nước theo giá
nghiệp thực hành tốt góp phần giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường
(BVMT) và sự đa dạng sinh học.
Sau 30 năm đổi mới và phát triển, nông nghiệp Việt Nam ngày càng khẳng
định vị thế của mình với việc cung cấp sinh kế trực tiếp cho 8,61 triệu hộ nông, lâm,
thủy sản [6, tr.17], tạo việc làm cho 44% lao động (trên 23 triệu người) [106, tr.138],
đóng góp trên 17% GDP cho nền kinh tế [106, tr.170] và gần 20% giá trị xuất khẩu.
Tuy nhiên, trong bối cảnh đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập sâu rộng và biến đổi khí
hậu (BĐKH) ngành nông nghiệp nước ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn,
thách thức, đó là: sự cạnh tranh gay gắt từ các nhà sản xuất nước ngoài có cùng
chủng loại nông sản ở thị trường trong và ngoài nước; thời tiết cực đoan, xâm nhập
mặn, dịch bệnh và ô nhiễm môi trường (ONMT) gia tăng; đa dạng sinh học suy
giảm. Trong khi đó, các nguồn lực cần thiết cho sản xuất nông nghiệp (SXNN), như:
đất đai, chất lượng nguồn lao động và vốn đầu tư cho nông nghiệp đang ở mức thấp;
công nghệ sản xuất lạc hậu; một số yếu tố đầu vào cho SXNN còn phụ thuộc vào
nước ngoài (máy móc, phân bón, xăng dầu, thuốc trừ sâu…) đã làm cho sản xuất và
kinh doanh nông nghiệp không hiệu quả, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế
của đất nước. Điều này đã hạn chế tốc độ tăng trưởng nông nghiệp và ảnh hưởng
trực tiếp đến đời sống của người SXNN. Nhằm khắc phục tình trạng này, trong
những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã nhấn mạnh mục tiêu phát triển ngành
nông nghiệp theo hướng bền vững.
Nam Định là tỉnh ven biển nằm ở phía Nam đồng bằng sông Hồng (ĐBSH),
có nhiều tiềm năng để phát triển SXNN toàn diện cả trồng trọt, chăn nuôi, nuôi
trồng thủy sản (NTTS) và trồng rừng ngập mặn. Mặc dù là địa phương có công
2
nghiệp, làng nghề tương đối phát triển, song đến nay nông nghiệp vẫn là ngành sản
xuất quan trọng, đóng góp lớn vào kết quả phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh. Năm
2016, ngành nông nghiệp Nam Định tạo việc làm cho gần 60% lao động xã hội và
cung cấp sinh kế cho khoảng 80% dân số, đóng góp 22,99% vào giá trị gia tăng của
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp (PTNN) theo hướng bền vững ở
tỉnh Nam Định giai đoạn 2006 - 2016 và đề xuất giải pháp thúc đẩy PTNN theo
hướng bền vững ở tỉnh Nam Định đến năm 2030.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về PTNN theo hướng bền vững ở địa bàn cấp tỉnh;
- Nghiên cứu kinh nghiệm về PTNN theo hướng bền vững ở một số địa
phương có điều kiện tương đồng để rút ra bài học cho tỉnh Nam Định;
- Phân tích, đánh giá thực trạng PTNN theo hướng bền vững ở tỉnh Nam
Định giai đoạn 2006 - 2016 trên cơ sở khung lý luận đã xây dựng ở chương 2;
- Đề xuất phương hướng và giải pháp PTNN theo hướng bền vững ở tỉnh
Nam Định đến năm 2030.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là PTNN tỉnh Nam Định dưới góc
nhìn bền vững. Đề tài luận án chỉ tập trung nghiên cứu phát triển ngành nông nghiệp
dựa trên cơ sở lý luận về PTBV, không đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực chuyên môn,
kỹ thuật liên quan đến PTNN.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài luận án nghiên cứu ngành nông nghiệp theo nghĩa rộng,
bao gồm nông, lâm, thủy sản, không nghiên cứu diêm nghiệp do Nam Định chưa có
số liệu thống kê về nghề muối. PTNN theo hướng bền vững được tiếp cận dưới góc
độ kinh tế phát triển, tức là xem xét, phân tích, đánh giá thực trạng phát triển của
ngành nông nghiệp tỉnh Nam Định trên ba trụ cột: bền vững về kinh tế, tức là tăng
trưởng nông nghiệp ổn định trong thời gian dài và sử dụng hiệu quả các nguồn lực;
bền vững về xã hội được xem xét trên giác độ tăng trưởng nông nghiệp gắn với giải
quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong SXNN như: việc làm, xóa đói giảm nghèo,
thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống người SXNN; bền vững về môi trường
được xem xét tăng trưởng nông nghiệp gắn với sử dụng hiệu quả tài nguyên, BVMT
bền vững ở tỉnh Nam Định, NCS sử dụng phương pháp điều tra thu thập thông tin
bằng bảng hỏi dành cho 50 cán bộ ở các chi cục thuộc sở Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn (NN&PTNT) Nam Định, như: Chi cục Thủy sản, Chi cục Kiểm lâm, Chi
cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm và Thủy
sản, Chi cục Chăn nuôi thú Y; một số cán bộ thuộc phòng NN&PTNT các huyện
5
Hải Hậu, Trực Ninh, Nam Trực và Vụ Bản; một số cán bộ thuộc Sở Tài nguyên và
Môi trường, sở Lao động và Thương binh Xã hội (LĐ&TBXH) Nam Định; một số
cán bộ cấp xã ở các xã khảo sát và với 436 hộ nông dân ở các huyện: Hải Hậu,
Nghĩa Hưng, Trực Ninh, Nam Trực và Vụ Bản (xem Phụ lục 1).
- Nguồn tài liệu nghiên cứu
+ Nguồn tài liệu thứ cấp được sử dụng, tổng hợp, phân tích trong luận án chủ
yếu là các tài liệu đã được công bố trên sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu
có liên quan trong và ngoài nước; tài liệu của các cơ quan quản lý tỉnh Nam Định,
Cục Thống kê Nam Định, Tổng cục Thống kê.
+ Nguồn tài liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra theo bộ câu hỏi soạn
thảo sẵn dành cho 50 cán bộ cấp Sở, phòng, xã của Tỉnh; 436 hộ nông dân trực tiếp
sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, NTTS ở các xã thuộc 5 huyện trong Tỉnh.
5. Đóng góp mới của luận án
- Đưa ra cơ sở lý luận về PTNN theo hướng bền vững ở địa bàn cấp tỉnh, bao
gồm: khái niệm, nội dung, chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến PTNN
theo hướng bền vững ở địa bàn này;
- Đánh giá đúng, khách quan, khoa học thực trạng PTNN theo hướng bền vững
ở tỉnh Nam Định giai đoạn 2006 – 2016, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên
nhân của hạn chế đó;
- Đưa ra quan điểm và đề xuất có căn cứ khoa học các định hướng, giải pháp
nhằm PTNN theo hướng bền vững ở tỉnh Nam Định đến năm 2030.
6. Kết cấu của luận án
thuộc nhóm chuyên gia quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp của Liên hợp quốc) đưa ra
quan niệm: Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững phải bao hàm quản lý thành
công tài nguyên thiên nhiên (TNTN) nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người đồng thời
cải tiến chất lượng môi trường và gìn giữ được TNTN [70, tr.12]. Quan niệm này chỉ
ra, PTNN theo hướng bền vững cần bảo tồn và phát triển TNTN.
Tổ chức Lương thực của Liên hiệp Quốc (FAO) (1990) trong “World Food
Dry” [134] cho rằng: “Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và duy trì sự
7
thay đổi về tổ chức, kỹ thuật và thể chế nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu ngày càng
tăng của con người cả cho hiện tại và mai sau” Quan niệm của FAO nhấn mạnh
cách thức để PTNN theo hướng bền vững, đó là phải thay đổi tổ chức, kỹ thuật và
thể chế.
Richard R. Harwood (1990) trong công trình nghiên cứu “Lịch sử nông
nghiệp bền vững” [137] cho rằng: “Nông nghiệp bền vững là một nền nông nghiệp
mà các hoạt động của các tổ chức kinh tế đều hướng đến bảo vệ và phát huy lợi ích
của con người và xã hội trên cơ sở duy trì và phát triển nguồn lực, tối thiểu hóa chi
phí để sản xuất một cách hiệu quả các sản phẩm nông nghiệp và hạn chế tác hại
môi trường, trong khi duy trì và không ngừng nâng cao thu nhập cho dân cư nông
nghiệp”. Quan niệm về PTNN theo hướng bền vững trên đã chỉ ra cách thức để
cộng đồng thế giới, nhất là các quốc gia đang phát triển thay đổi tư duy cũng như
hành động: sản xuất nông nghiệp phải tối thiểu hóa chi phí, nâng cao cuộc sống của
cư dân nông nghiệp và BVMT. Như vậy, có thể thấy rằng, quan niệm về PTNN theo
hướng bền vững đã nhấn mạnh đến mối quan hệ hài hòa giữa mục tiêu kinh tế với
mục tiêu xã hội và môi trường trong PTNN.
Đến thập niên đầu của thế kỷ XXI, trước những tác động của SXNN đến tự
nhiên như: làm tăng khí nhà kính, ô nhiễm và làm giảm độ màu của đất, ô nhiễm và
cạn kiệt nguồn nước, làm giảm sự đa dạng sinh học, Tổ chức Sinh thái và Môi
trường thế giới (WORD) cho rằng: “Nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thỏa
Như vậy có thể thấy, trong từng giai đoạn, trước yêu cầu thực tiễn phát triển
của ngành nông nghiệp đặt ra, quan niệm về PTNN theo hướng bền vững có sự khác
nhau nhất định, song về cơ bản đã nhấn mạnh đến giải quyết hợp lý, chặt chẽ, hài
hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng nông nghiệp với BVMT và cải thiện cuộc sống
con người. Các nghiên cứu này mới dừng lại ở quan niệm, chưa đưa ra chỉ tiêu đánh
giá PTNN theo hướng bền vững.
Gần đây, một số công trình nghiên cứu đã đưa ra nội dung và các chỉ tiêu
đánh giá PTNN theo hướng bền vững. Mặc dù còn một vài khác biệt, song các
nghiên cứu này đều từ nội dung PTNN theo hướng bền vững để đưa ra chỉ tiêu đánh
giá. Chẳng hạn, Serey Mardy (2014) trong “Nghiên cứu phát triển nông nghiệp bền
vững ở tỉnh Svay Riêng, Campuchia” [82] cho rằng, phát triển nông nghiệp bền
vững phải đảm bảo được mục đích là kiến tạo một hệ thống bền vững về mặt kinh
tế, xã hội và môi trường. Về kinh tế, SXNN phải đạt hiệu quả cao, làm ra nhiều sản
phẩm, không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, thức ăn chăn nuôi, dự trữ lương
thực mà còn xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Về xã hội, phải đảm bảo cho người
9
nông dân có đầy đủ công ăn việc làm, có thu nhập ổn định, đời sống vật chất và tinh
thần ngày càng được nâng cao. Về môi trường là không hủy hoại TNTN, giữ nguồn
nước ngầm trong sạch và không gây ONMT. Để phản ánh nội dung, tác giả đã đưa
ra hệ thống các chỉ tiêu. Về mặt kinh tế, đó là: Quy mô SXNN; Đầu tư cho PTNN
(đầu tư công cho nông nghiệp, đầu tư cho kết cấu hạ tầng); Năng suất, sản lượng sản
phẩm; Thu nhập của nông hộ; Hiệu quả kinh tế của SXNN. Các chỉ tiêu phản ánh về
mặt xã hội, gồm: Lao động và việc làm; xóa đói giảm nghèo; Cân bằng giới trong
PTNN. Chỉ tiêu phản ánh về mặt môi trường, gồm có: Sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật (BVTV); Chất thải nông nghiệp; Xử lý chất thải và ONMT nông nghiệp. Theo
tác giả, tùy vào từng vùng, từng quốc gia và điều kiện nghiên cứu, các chỉ tiêu được
sử dụng để đánh giá PTNN bền vững có thể khác nhau.
Nguyễn Thanh Hải (2014) trong “Phát triển nông nghiệp các tỉnh trung du miền
đưa ra 4 nhóm tiêu chí đánh giá PTNN theo hướng bền vững. Tuy nhiên, dưới góc độ
kinh tế chính trị, các chỉ tiêu mới được xem xét dưới góc độ định tính. Cụ thể, về
chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng bền vững, tác giả đưa ra các tiêu chí phản
ánh CCKT nông nghiệp trong nội bộ ngành (tính hợp lý trong chuyển dịch cơ cấu toàn
ngành nông nghiệp dưới sự tác động của phát triển lực lượng sản xuất; tính hợp lý và
hiệu quả trong chuyển dịch của các phân ngành trồng trọt, chăn nuôi; phân ngành khai
thác, trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng; phân ngành khai thác, NTTS). Phản ánh cơ cấu
nông nghiệp theo vùng, lãnh thổ, gồm có (nông hộ: quy mô, diện tích, số nhân khẩu
trong hộ; hợp tác xã (HTX): số lượng, doanh thu, cơ cấu HTX…; trang trại: số lượng,
cơ cấu, loại hình, quy mô; diện tích đất nông nghiệp được bảo vệ; bình quân đất nông
nghiệp; khả năng sử dụng hợp lý và mở rộng diện tích đất nông nghiệp. Phản ánh về cơ
cấu nông nghiệp theo thành phần kinh tế, luận án đưa chỉ tiêu đánh giá về quy mô, tốc
độ, hiệu quả tăng trưởng nông nghiệp. Về mặt xã hội, luận án đưa ra hệ thống các chỉ
tiêu, gồm: kết cấu hạ tầng; giải quyết việc làm, an sinh xã hội cho người lao động; thu
nhập; thiết chế văn hóa cộng đồng; tỷ lệ hộ nghèo; phân hóa giàu nghèo. Về môi
trường, luận án đưa ra các chỉ tiêu: diện tích đất được bảo vệ; tỷ lệ diện tích cây trồng
hàng năm được tưới tiêu; tỷ lệ che phủ rừng, diện tích rừng được bảo tồn và duy trì đa
dạng sinh học; tỷ lệ diện tích đất được bảo vệ, duy trì đa dạng sinh học; hàm lượng chất
hữu cơ ven biển, cửa sông; mức phân hóa học, lượng thuốc trừ sâu, thuốc BVTV và các
loại hóa chất sử dụng nông nghiệp trên diện tích đất canh tác; tỷ lệ chất thải nông
nghiệp được thu gom, xử lý. Có thể nói, công trình nghiên cứu đã xây dựng được hệ
thống chỉ tiêu đánh giá tương đối toàn diện về PTNN theo hướng bền vững, song chưa
chỉ ra mối quan hệ giữa ba trụ cột trong PTBV về nông nghiệp.
11
1.1.1.2. Các công trình nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến phát triển
nông nghiệp theo hướng bền vững
Ở hướng nghiên cứu này, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra hệ thống chính
sách, các nguồn lực đầu vào như: khoa học công nghệ (KHCN), vốn đầu tư, lao động,
tích, luận giải của tác giả cho thấy sáu yếu tố trên có ảnh hưởng rất lớn đến PTNN
theo hướng bền vững trong điều kiện hiện nay.
Trong điều kiện hội nhập và BĐKH đang trực tiếp tác động đến ngành nông
nghiệp, các công trình gần đây đã tập trung nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng to lớn của
hội nhập quốc tế và BĐKH đến ngành nông nghiệp.
Về ảnh hưởng của hội nhập đến ngành nông nghiệp, tác giả Nguyễn Từ và
các cộng sự (2010) trong công trình nghiên cứu “Tác động của hội nhập kinh tế
quốc tế đối với phát triển nông nghiệp Việt Nam” [110] cho rằng, ảnh hưởng của hội
nhập kinh tế quốc tế đến ngành nông nghiệp Việt Nam có cả hai mặt: tích cực và
tiêu cực. Do đó, cần phải biết tận dụng ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu
cực để nông nghiệp phát triển.
Tác giả Vũ Trọng Bình (2013) đã chỉ ra: Hội nhập nền nông nghiệp Việt Nam
dần dần trở thành một ngành sản xuất mở, các chuỗi ngành hàng nông nghiệp kết
nối và là một bộ phận của chuỗi giá trị toàn cầu, thị trường đầu vào và đầu ra của
nông nghiệp cũng dần dần được kết nối. Do đó, sự ổn định và bền vững của nền
nông nghiệp Việt Nam phụ thuộc chặt chẽ vào cách thức hội nhập quốc tế, cách
thức chống rủi ro từ các cú sốc thị trường thế giới [8].
Ngoài các công trình trên, còn có nhiều bài viết tham luận về PTNN trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành. Các
nghiên cứu này đã chỉ ra, hội nhập kinh tế quốc tế có tác động hai mặt đến phát triển
ngành nông nghiệp. Trước hết, hội nhập kinh tế sẽ mang lại cơ hội cho ngành nông
nghiệp Việt Nam như mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản, học hỏi được kinh
nghiệm tổ chức sản xuất tiên tiến, nhập khẩu vật tư, nguyên liệu trong nước chưa
sản xuất được phục vụ SXNN. Tuy nhiên, thách thức do hội nhập mang lại cho
ngành nông nghiệp cũng không hề nhỏ, đó là: cạnh tranh ngày càng gay gắt cả ở thị
trường trong nước và quốc tế; ảnh hưởng đến tăng trưởng, xuất khẩu của ngành
nông nghiệp… Tiêu biểu cho các nghiên cứu này, có thể kể đến như: “Hai điểm yếu
của nông nghiệp Việt Nam trong hội nhập quốc tế”, của Nguyễn Quốc Vọng [124];
“Để phát triển bền vững ngành chăn nuôi trong giai đoạn hiện nay”, của Việt Hà
[34]; “Nông nghiệp Việt Nam: “Chìa khóa” nào để hội nhập, phát triển?” của Văn
FAO (1990) trong “World Food Dry”[134] chỉ ra rằng, PTNN là điều kiện,
phương tiện để nền kinh tế đạt được sự bền vững. Điều này được thể hiện: (i) Trong
các chu kỳ khủng hoảng kinh tế, tài chính, nông nghiệp ít bị tác động nên nông
nghiệp tăng trưởng cao sẽ giúp nền kinh tế vượt qua khủng hoảng dễ dàng và tạo
điều kiện phục hồi kinh tế nhanh hơn; (ii) Tăng trưởng nông nghiệp cao giúp giảm
nghèo nhanh chóng ở nông thôn và cả thành thị. Tăng trưởng nông nghiệp làm tăng
14
sản lượng lương thực và tăng thu nhập của người dân ở nông thôn nên sự đói nghèo
sẽ giảm theo. Tăng trưởng trong nông nghiệp làm giảm giá lương thực, thực phẩm ở
khu vực thành thị nên người lao động thành thị sẽ có cơ hội thoát đói, nghèo. Điều
này có thể tác động trên phạm vi toàn cầu khi sản lượng lương thực thế giới tăng,
giá nông sản toàn cầu sẽ giảm theo. Do vậy, PTNN giúp ổn định về mặt xã hội khi
đời sống của con người được đảm bảo; (iii) Phát triển nông nghiệp còn làm chậm
quá trình BĐKH toàn cầu. Quá trình PTNN gắn với BVMT, bởi môi trường sinh
thái và TNTN là nguồn lực quan trọng của SXNN.
Tác giả Nguyễn Văn Mẫn và Trịnh Văn Thịnh (2002) trong “Nông nghiệp
bền vững cơ sở và ứng dụng” [68] cho rằng, nông nghiệp bền vững chủ trương
BVMT, tạo dựng một môi trường trong lành và sử dụng một cách hợp lý TNTN.
Mục đích của nông nghiệp bền vững là kiến tạo một hệ thống bền vững về mặt sinh
thái, có tiềm lực về mặt kinh tế, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người mà
không làm hủy diệt đất đai, không làm ONMT. Nông nghiệp bền vững quan tâm đến
việc bảo đảm công bằng xã hội và văn hóa dân tộc.
Tác giả Nguyễn Từ (2004) trong công trình nghiên cứu “Nông nghiệp Việt
Nam trong phát triển bền vững” [108] cho rằng, ngành nông nghiệp trong PTBV ở
Việt Nam có 4 vai trò: (i) Cung cấp lương thực, thực phẩm - nhu cầu tối cơ bản cho
con người; (ii) Là ngành chủ yếu tạo việc làm, thu nhập cho đa số dân cư nước ta;
(iii) Là ngành có tầm quan trọng đặc biệt trong bảo vệ TNTN, sinh thái, môi trường;
và (iv) Là hoạt động chính của dân cư ở những vùng có tầm quan trọng đặc biệt về
Việt Nam, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra, PTNN theo hướng bền vững cần
phải PTNN hữu cơ, tiết kiệm các nguồn lực đầu vào (lao động, đất đai, vốn), thực
hiện chính sách “ưu đãi nông dân”, áp dụng cơ giới hóa, nông nghiệp sinh thái…
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này, có thể kể đến như:
Tác giả Phạm Thăng (2012) trong công trình “Kinh nghiệm của thế giới về
PTNN nông thôn” [92] trên cơ sở phân tích kinh nghiệm của Nhật Bản, Trung Quốc
về PTNN nông thôn, tác giả đã đưa ra khuyến nghị sau: (i) Cần duy trì lâu dài, ổn
định nông hộ là đơn vị sản xuất cơ bản trong chiến lược PTNN nông thôn. (ii) Thực
hiện chính sách “ưu đãi nông nghiệp nông thôn” để ổn định chính trị, xã hội. (iii)
Nhà nước hướng dẫn, hỗ trợ về tổ chức, tài chính, khoa học kỹ thuật (KHKT), công
nghệ cho nông dân. (iii) Đẩy nhanh việc sửa đổi Luật đất đai và tuyên truyền để
nhân dân thực hiện dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất cho sản xuất hàng hóa lớn
theo hướng chuyên canh các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, tạo thuận lợi cho
thâm canh, áp dụng cơ giới hóa SXNN.
Tác giả Dinesh Kumar, Sivamohan, Nitin Bassi (2013) trong “Quản lý nước,
an ninh lương thực và nông nghiệp bền vững trong các nền kinh tế đang phát triển”
16
(Water Management, Food Security and Sustainable Agriculture in Developing
Economies) [132] đã đề cập đến chiến lược an ninh lương thực và nông nghiệp bền
vững trong nền kinh tế đang phát triển. Công trình tập trung nghiên cứu Ấn Độ quốc gia có nền nông nghiệp tương đối phát triển, có TNTN đất, nước phong phú,
thuận lợi cho PTNN nhưng hiện nay đang chịu áp lực lớn do phát triển kém bền
vững. Bên cạnh đó, công trình còn nghiên cứu một số dự án làm ONMT, gây thiệt
hại cho SXNN và buộc chủ dự án phải bồi thường cho những người dân bị thiệt hại.
Ngoài ra, nghiên cứu còn chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến thành công và một số
tồn tại trong công tác thủy lợi, làm cơ sở cho nâng cao năng suất nông nghiệp.
Tác giả Koyu (2013) trong cuốn “ Hướng tới một nền văn minh và xã hội bền
vững: Quan điểm văn minh sinh thái từ xã hội Nhật Bản” (Towards A Sustainable
Civilization and Society: A Socio-cultural Ecological Perspective from Japan) [136]
Tác giả Đặng Kim Sơn (2008), trong “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Việt Nam hôm nay và mai sau” trên cơ sở nghiên cứu thực trạng nông nghiệp Việt
Nam sau 20 năm đổi mới đã chỉ ra, để nông nghiệp PTBV cần phải chú trọng phát
triển cả nông dân, nông nghiệp, nông thôn. Cụ thể, đối với nông dân, tác giả đã phân
ra thành 3 nhóm: nông dân SXNN lâu dài; nông dân chuyển đổi sang sản xuất phi
nông nghiệp; nông dân tham gia vào sản xuất ở đô thị, công nghiệp và từng tùy
nhóm nông dân sẽ có các chính sách tác động khác nhau cho phù hợp. Đối với nông
nghiệp, để PTBV cần phải tăng tỷ lệ đầu tư và đổi mới cơ cấu đầu tư theo hướng
đầu tư vào KCHT, phát triển KHCN, thu hút DN; đẩy mạnh chuyển giao và ứng
dụng rộng rãi tiến bộ KHCN từ nước ngoài, kết hợp tăng cường đầu tư nghiên cứu
trong nước; bảo vệ quỹ đất lúa, cân bằng lợi ích giữa các vùng quy hoạch SXNN;
tăng cường đầu tư KCHT phục vụ đời sống nông dân và SXNN; phát triển sản xuất
và chế biến; ưu tiên hỗ trợ xây dựng hệ thống HTX kiểu mới. Đối với nông thôn,
quy hoạch nông thôn; huy động các thành phần kinh tế tập trung xây dựng KCHT
nông thôn, trọng tâm là đường nông thôn và hệ thống thủy lợi, thông tin liên lạc, cấp
điện, cấp thoát nước; xây dựng phong trào nông thôn mới (NTM) dựa vào các tổ
chức cộng đồng; đưa công nghiệp đô thị phân tán về nông thôn [90, tr.199-208].
Tác giả Trần Đại Nghĩa (2012), trong “Liên kết nông dân doanh nghiệp trong
sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa quy mô lớn tại Việt Nam” chỉ ra yêu cầu
tất yếu của liên kết nông dân - DN trong SXNN theo quy mô lớn và khẳng định “mối
liên kết nông dân - DN mang lại lợi ích cho cả hai bên. Việc áp dụng đồng bộ các tiến
bộ kỹ thuật và sử dụng dịch vụ phục vụ SXNN chỉ phát huy hiệu quả tối đa khi thực
hiện theo thời gian nhất định và đồng loạt trên một diện tích lớn” [71, tr.17]. Đồng
thời, tác giả chỉ ra, liên kết sẽ giúp SXNN tiết kiệm chi phí, gia tăng năng suất và chất
lượng nên ngành nông nghiệp sẽ tăng giá trị, tăng lợi nhuận và PTBV.
18
Bộ NN&PTNT (2013) trong “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng
nâng cao giá trị gia tăng và PTBV” [10] trên cơ sở chỉ ra những hạn chế, bất cập mà
19
hoạch, kế hoạch PTNN của quốc gia, của từng địa phương; (ii) Hoàn thiện chính
sách huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho PTNN; (iii) Thực hiện tái
cơ cấu các ngành sản xuất phù hợp với xu hướng BĐKH và nâng cao giá trị gia
tăng, sức cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp; (iv) Hoàn thiện các chính sách
hỗ trợ cho nông dân và thúc đẩy liên kết trong PTNN để mở rộng thị trường xuất
khẩu giảm rủi ro và tăng hiệu quả cho các ngành SXNN; (v) Nâng cao nhận thức
của nông dân và cộng đồng về BĐKH và tác động của BĐKH đối với PTBV nông
nghiệp ở Việt Nam; (vi) Nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với
nông nghiệp và một số tài nguyên quan trọng; (vii) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong
ứng phó với BĐKH và huy động nguồn lực cho PTNN.
Tác giả Phí Văn Hạnh (2016) trong “phát triển nông nghiệp theo hướng bền
vững ở vùng đồng bằng sông Hồng“ [37] trên cơ sở đánh giá thực trạng PTNN theo
hướng bền vững ở các tỉnh ĐBSH, chỉ ra hạn chế và nguyên nhân của hạn chế cùng
những vấn đề đặt ra đã đưa ra 4 nhóm giải pháp, như: nhóm giải pháp chung; nhóm
giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả PTNN theo hướng bền vững;
nhóm giải pháp đảm bảo môi trường bền vững trong quá trình PTNN; và nhóm giải
pháp bảo đảm bền vững về xã hội trong PTNN ở vùng ĐBSH.
Ngoài ra, còn một số nghiên cứu của các tác giả, như: Phạm Thị Khanh
(2005) [58]; Nguyễn Kế Tuấn (2006) [112]; Hoàng Thị Chỉnh (2010) [13]; Đinh Phi
Hổ (2010) [42]; Ngô Sỹ Tiệp (2013) [101]; Vũ Văn Hùng (2013) [52]; Đỗ Kim
Chung, Kim Thị Dung (2013) [18]; Vương Đình Huệ (2014)[51]; Lê Vũ Phong
(2016) [77] đã chỉ con đường để PTNN theo hướng bền vững, như: tối đa hóa lợi
ích của sự phát triển kinh tế trên cơ sở duy trì chất lượng của nguồn lực tự nhiên
theo thời gian và tuân thủ các quy luật; can thiệp vào tự nhiên theo cách nào đó để
thực hiện một cân bằng có thể chấp nhận được giữa lợi ích mang lại từ việc sử dụng,
khai thác nguồn lực tự nhiên cho sản xuất với lợi ích từ việc gìn giữ chức năng sinh
thái của nó; con đường thực hiện tăng trưởng nông nghiệp chính là thâm canh.
phát triển cà phê bền vững gồm: điều kiện tự nhiên, năng lực của các tổ chức sản xuất
kinh doanh cà phê, thị trường và tác động của chính phủ, từ đó đưa ra các giải pháp
nâng cao năng lực của người sản xuất kinh doanh, phát triển thị trường, đầu tư đổi mới
công nghệ và kỹ thuật sản xuất kinh doanh cà phê, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên,
xây dựng chính sách hợp lý và đầu tư công cho phát triển cà phê bền vững.
Nguyễn Minh Luân (2016) với “Nông nghiệp tỉnh Cà Mau phát triển theo
hướng bền vững” [67] đã hệ thống hóa và cụ thể hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về
nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững nói chung và ở tỉnh Cà Mau nói riêng,
phân tích quá trình nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà Mau từ