BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
NGUYỄN VIẾT THỊNH
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG CÁC LOÀI
DƠI (MAMMALIA: CHIROPTERA) Ở KHU DỰ
TRỮ SINH QUYỂN CÙ LAO CHÀM-HỘI AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
NGUYỄN VIẾT THỊNH
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG CÁC LOÀI
DƠI (MAMMALIA: CHIROPTERA) Ở KHU DỰ
TRỮ SINH QUYỂN CÙ LAO CHÀM – HỘI AN
2.1. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU ..................................... 12
2.1.1. Thời gian ......................................................................................12
2.1.2. Địa điểm .......................................................................................12
2.2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................. 16
2.2.1. Vật liệu nghiên cứu ......................................................................16
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu .............................................................17
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................. 25
3.1. THÀNH PHẦN LOÀI DƠI BẮT GẶP Ở KHU DỰ TRỮ SINH
QUYỂN CÙ LAO CHÀM – HỘI AN .................................................. 25
3.2. MÔ TẢ KHÁI QUÁT CÁC LOÀI DƠI BẮT GẶP Ở KHU DỰ TRỮ
SINH QUYỂN CÙ LAO CHÀM – HỘI AN ........................................ 26
3.2.1. Dơi chó mũi ống Cynopterus horsfieldii .....................................29
3.2.2. Dơi lá đuôi Rhinolophus affinis ...................................................35
1
3.2.3. Dơi lá mũi nhỏ Rhinolophus pusillus ..........................................41
3.2.4. Dơi nếp mũi nâu Hipposideros galeritus.....................................47
3.2.5. Dơi nếp mũi xám lớn Hipposideros grandis ...............................53
3.2.6. Dơi nếp mũi xinh Hipposideros pomona.....................................58
3.3. KHÓA ĐỊNH LOẠI CÁC LOÀI DƠI BẮT GẶP Ở KHU DỰ TRỮ
SINH QUYỂN CÙ LAO CHÀM – HỘI AN ........................................ 63
3.3.1. Khóa định loại căn cứ vào đặc điểm hình thái ngoài...................63
3.3.2. Khóa định loại căn cứ vào đặc điểm tiếng kêu siêu âm ..............66
3.4. SO SÁNH TÍNH ĐA DẠNG CỦA CÁC LOÀI DƠI Ở KHU DỰ TRỮ
SINH QUYỂN CÙ LAO CHÀM – HỘI AN VÀ MỘT SỐ QUẦN
ĐẢO CỦA VIỆT NAM ĐÃ CÓ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ DƠI 67
3.5. NHẬN ĐỊNH VỀ TÌNH TRẠNG BẢO TỒN VÀ CÁC NHÂN TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆN TRẠNG CỦA CÁC LOÀI DƠI Ở KHU
DỰ TRỮ SINH QUYỂN CÙ LAO CHÀM – HỘI AN ........................ 73
loài dơi thuộc 25 giống và 7 họ [5]. Năm 2009, Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân
Cảnh công bố thành phần loài thú hiện biết ở Việt Nam; trong đó bao gồm 113
loài dơi thuộc 33 giống, 7 họ [2]. Cho đến nay, đã có 120 loài dơi thuộc 38
giống, 8 họ hiện biết ở nước ta (Vũ Đình Thống và Csorba, tài liệu chưa công
bố).
Mặt khác, đa số những công trình đã nghiên cứu về dơi ở Việt Nam mới
chỉ thực hiện ở mức độ điều tra thành phần loài ở một số khu vực; trong đó,
chủ yếu là những vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên trong đất liền. Dẫn
1
liệu về các loài dơi sinh sống trên hệ sinh thái đảo của nước ta còn rất hạn chế.
Thực tế, kết quả nghiên cứu về dơi ở một số quần đảo của Việt Nam như Cát
Bà, Côn Đảo, Phú Quốc đã cho thấy: hệ sinh thái đảo là nơi sinh sống của nhiều
loài dơi quý hiếm; trong đó có loài đặc hữu của Việt Nam [63], [60].
Cù Lao Chàm là một quần đảo bao gồm 8 đảo nhỏ (Hòn Lao, Hòn Dài,
Hòn Mồ, Hòn Khô Mẹ, Hòn Khô Con, Hòn Lá, Hòn Tai và Hòn Ông), có vị trí
quan trọng đối với an ninh, quốc phòng và phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Từ năm 2005 đến nay, quần đảo Cù Lao Chàm nhận được sự quan tâm
và đầu tư ngày càng nhiều từ những cơ quan và tổ chức ở trong và ngoài nước
nhằm phát triển du lịch và dân sinh kinh tế. Đặc biệt, từ năm 2010 đến nay,
lượng khách du lịch thăm Cù Lao Chàm tăng đột biến: có những ngày trong
mùa du lịch(từ tháng 4 đến tháng 8 hằng năm), số lượng khách nhiều hơn 3 lần
tổng số nhân khẩu sinh sống trên đảo Hòn Lao. Sự phát triển du lịch dẫn đến
áp lực phát triển cơ sở hạ tầng và từng bước ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp
đến môi trường sinh thái và sinh cảnh sống của các loài động, thực vật; trong
đó, có những loài dơi.
Nhận thấy tiềm năng và giá trị đa dạng của khu hệ động vật trên quần đảo
Cù Lao Chàm thuộc Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An; với sự
loài dơi ghi nhận ở Việt Nam là 113 loài dơi thuộc 33 giống, 7 họ [2]. Cho đến
nay, thành phần loài dơi hiện biết ở Việt Nam bao gồm 120 loài thuộc 38 giống,
8 họ, 2 phân bộ (Vũ Đình Thống và Csorba, tài liệu chưa công bố). Đáng chú
ý, thành phần loài dơi đã có nhiều thay đổi trong suốt 20 năm qua; trong đó,
3
nhiều loài có vị trí phân loại bị thay đổi, nhiều loài mới ghi nhận cho khu hệ
dơi Việt Nam và nhiều loài mới cho khoa học được phát hiện qua điều tra thực
địa và phân loại bộ mẫu vật trong các bảo tàng [60], [62], [63], [64]. Có thể
nhận thấy rằng: trong số những công trình đã công bố về khu hệ dơi của Việt
Nam, hầu hết kết quả thu được từ phân tích đặc điểm hình thái phân loại [40],
[24], [43].
Năm 2007, một loài mới cho khoa học (Kerivoura titania) được phát hiện
ở Việt Nam [19]. Năm 2008, loài mới cho khoa học (Murina harpioloides)
được phát hiện ở Việt Nam [43]. Cũng trong năm 2008, một loài dơi mới khác
cho khoa học (Myotis phanluongi) được phát hiện ở Việt Nam [24].
Năm 2009, một loài dơi mới cho khoa học (Murina eleryi) được phát hiện
ở Việt Nam [38].
Năm 2010, thành phần loài dơi ở Vườn Quốc Gia Côn Đảo (15 loài thuộc
7 giống và 6 họ) và Bái Tử Long (17 loài 7 giống và 5 họ) đã được ghi nhận
trong kết quả điều tra của Vũ Đình Thống và những người khác[13].
Năm 2011, một kết quả tổng hợp về tính đa dạng của các loài dơi ở Vườn
Quốc gia Côn Đảo, bao gồm 16 loài thuộc 6 họ đã được công bố bởi Đào Nhân
Lợi và những người khác [33].
Năm 2012, một phân loài dơi mới cho khoa học (Hipposideros alongensis
alongensis) và vị trí phân loại của loài Dơi nếp mũi hạ long đã được công bố
bởi Vũ Đình Thống và những người khác [63].
Năm 2013, Nguyen Truong Son và những người khác. Công bố một loài
liệu duy nhất đã công bố có ghi nhận về dơi ở quần đảo Cù Lao Chàm. Trong
tài liệu đó, tác giả Kuznetsov ghi nhận 5 loài dơi (Hipposideros armiger, H.
bicolor, H. larvatus, Pipistrellus ceylonicus và P. javanucus), nhưng không
cung cấp mã số mẫu hoặc nơi bảo quản mẫu vật. Do vậy, không có thông tin
về nguồn mẫu dơi thu được ở Cù Lao Chàm trước đây để tác giả tham khảo.
Mặt khác, vị trí phân loại của các loài H. bicolor, H. larvatus và một số loài
5
thuộc giống Pipistrellus đang có sự thay đổi trong những năm gần đây. Vu Dinh
Thong (2011) [60] xác định những ghi nhận trước đây về loài H. bicolor ở Việt
Nam cần được quan tâm nghiên cứu kỹ hơn trong thời gian tới do hai loài H.
bicolor và loài H. pomona có đặc điểm hình thái tương tự nhau. Trong số 2 loài
này, H. pomona phân bố rộng và thường gặp ở Việt Nam (IUCN - Liên minh
Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế, [60].
1.1.4.2. Tình hình nghiên cứu các loài động vật khác trên cạn ở Cù Lao
Chàm
Quần đảo Cù Lao Chàm có 8 Hòn đảo, nhưng hầu hết những công trình
nghiên cứu đa dạng sinh học nói chung và động vật trên cạn nói riêng chủ yếu
được điều tra nghiên cứu ở Hòn Lao. Nên kết quả thu được còn rất hạn chế.
Trong đó, đáng kể đến là những công trình nghiên cứu dưới đây:
Năm 1998, một số chuyên gia thuộc Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga đã tổ
chức điều tra nhanh về đa dạng sinh học tại các đảo gần bờ của Việt Nam; trong
đó, có quần đảo Cù Lao Chàm. Kết quả điều tra đã ghi nhận được 7 loài thằn
lằn và 1 loài rắn [3].
Năm 2007, các chuyên gia thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại
học Quốc gia Hà Nội tiến hành khảo sát tại quần đảo Cù Lao Chàm và ghi nhận
được 12 loài thú, 13 loài chim và 5 loài ếch nhái [tài liệu chưa công bố của Ban
quản lý KBTB Cù Lao Chàm].
Năm 2008, khi xây dựng Hồ sơ thành lập Khu Dự trữ Sinh quyển thế
Quảng Nam khoảng 19 km về phía Đông, tọa độ địa lý: 15°52′30′′- 16°00′00′′N;
108°24′30′′-108°44′30′′E. Quần đảo Cù Lao Chàm bao gồm 8 đảo với tổng diện
tích khoảng 2.000 ha. Trong đó đảo lớn nhất là Hòn Lao với diện tích 1.317 ha
và là nơi có đỉnh núi cao nhất (571m). Đây cũng là đảo duy nhất trong quần
đảo đang có khoảng 3.000 dân cư sinh sống. Cụm đảo chủ yếu là đồi núi thấp,
hầu hết các đảo nhỏ đều có hình chóp cụt. Độ cao so với mực nước biển từ 70200m. Đảo Hòn Lao có một dãy núi chính xếp theo hình cánh cung từ Tây Bắc
7
xuống Đông Nam, độ cao từ 187 m (Đỉnh Tục Cả) đến 517 m chia Hòn Lao
thành 2 sườn có độ dốc khác nhau
+ Sườn Đông có độ dốc lớn, đá tảng bao quanh chân núi hiểm trở, không
có bãi bồi ven biển.
+ Sườn Tây dốc thoải ít đá tảng, có các bãi bồi ven biển như Bãi Bấc,
Bãi Ông, Bãi Làng, Bãi Xếp, Bãi Chồng, Bãi Bìm và Bãi Hương [3].
Khí hậu và thủy văn
Khí hậu
Quần đảo Cù Lao Chàm có khí hậu hải dương điều hòa, ảnh hưởng bởi
khí hậu nhiệt đới gió mùa. Gió Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 6 và đi cùng là
nhiệt độ cao của mùa hè. Gió mùa Đông Bắc từ tháng 12 năm trước đến tháng
3 năm sau mang theo không khí lạnh. Trong tháng 10 đến tháng 11 khí hậu của
quần đảo thường chịu ảnh hưởng của bão nhiệt đới. Biên độ nhiệt trong năm ở
Cù Lao Chàm giao động trong khoảng 6oC-7oC. Khí hậu có hai mùa rõ rệt: mùa
mưa (từ tháng 9 đến tháng 12) và mùa khô (từ tháng 1 đến tháng 8).
Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Cù Lao Chàm khoảng 27,50C. Nhiệt độ
cao nhất từ tháng 5 đến tháng 8 và thấp nhất từ tháng 12 năm trước đến tháng
2 năm sau. Lượng mưa hàng năm bình quân là 2045 mm, tập trung từ tháng 9
đến tháng 12 (khoảng 75% lượng mưa cả năm).
Thủy văn
Cù Lao Chàm có trữ lượng nước ngọt lớn, từ lượng mưa hàng năm
(2003) [24] là tài liệu đầu tiên đề cập đến tần số tiếng kêu siêu âm của một số
loài dơi ở Việt Nam. Tuy nhiên, dẫn liệu về siêu âm trong tài liệu đó chỉ được
ghi nhận ở mức sơ bộ. Mặt khác, do thiết bị nghiên cứu còn hạn chế nên một
số dẫn liệu chưa sát thực (Borissenko – thông tin qua thảo luận cá nhân). Ví dụ:
Borissenko và Kruskop (2003) [24] ghi nhận tần số tiếng kêu siêu âm của loài
9
Dơi lá mũi lớn (Rhinolophus luctus) là 110 kHz. Về mặt hình thái, Dơi lá mũi
lớn là một trong số những loài dơi có kích thước cơ thể lớn nhất họ Dơi lá mũi
(Rhinolophidae) với dài cẳng tay trong khoảng 70,0-80,0 mm [24], tần số tiếng
kêu siêu âm của loài này chắc chắn thấp hơn 110 kHz. Thực tế, tần số tiếng kêu
siêu âm của Dơi lá mũi lớn ghi nhận được ở một số nước khác trong khu vực
Đông Nam Á trong khoảng 32,0-42,0 kHz [35]. Một số công trình nghiên cứu
về tiếng kêu siêu âm của dơi ở Việt Nam đáng kể đến là Vũ Đình Thống và
những người khác (2007) [11]; Furey và những người khác (2009) [38]; [60],
[59], [58], [63], [64], [65], [67], [68]. Những kết quả nghiên cứu về tiếng kêu
siêu âm có vai trò quan trọng trong công tác phân loại, giám sát, nghiên cứu
đặc điểm sinh thái học và tập tính của dơi [60], [64]. Mặt khác, việc nghiên cứu
tính đa dạng của các loài dơi hiện nay đòi hỏi dẫn liệu tổng thể về hình thái
phân loại, tiếng kêu siêu âm và sinh học phân tử.
Trong hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia của Việt Nam
hiện nay, Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm là một trong số những khu bảo vệ
được thành lập nhằm bảo tồn hệ sinh thái biển và hải đảo, có điều kiện tự nhiên
đa dạng với nhiều kiểu sinh cảnh khác nhau: hang động, rừng trên núi, rạn san
hô, v.v... Những sinh cảnh trên cạn ở Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm có thể là
nơi sinh sống của nhiều loài dơi. Cù Lao Chàm cũng là một trong những địa
danh đã và đang phát triển du lịch sinh thái với tốc độ và quy mô lớn, bao gồm
du lịch tham quan các hệ sinh thái rừng theo tuyến. Mặt khác, nhiều công trình
phục vụ dân sinh và quân sự cũng đã và đang được xây dựng trên đảo Hòn Lao
trong điều kiện sinh cảnh tự nhiên của chúng và trong điều kiện thí
nghiệm.
11
CHƯƠNG 2: THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.1.1. Thời gian
Đề tài được công nhận tại Quyết định số 286/QĐ-STTNSV của Viện
trưởng Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, ký ngày 10 tháng 6 năm 2015.
Thực tế, để đảm bảo thời gian và điều kiện nghiên cứu ở Cù Lao Chàm, với sự
hỗ trợ về thủ tục hành chính và kinh phí của các đề tài khác, nội dung nghiên
cứu trên thực địa của luận văn này được thực hiện từ tháng 5 đến tháng 7 năm
2015; thời gian xử lý số liệu và mẫu vật ở Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh
vật từ tháng 6 đến hết tháng 11 năm 2015.
2.1.2. Địa điểm
2.1.2.1. Điều tra trên thực địa
Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An bao gồm: vùng lõi (Khu
bảo tồn biển Cù Lao Chàm), vùng đệm (bao gồm vùng cửa sông Thu Bồn và
dọc theo sông Thu Bồn đến Đô thị cổ Hội An) và vùng chuyển tiếp (là phần
còn lại của khu dự trữ sinh quyển và đô thị cổ Hội An). Đề tài được nghiên cứu
thuộc Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm (có 8 hòn đảo: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn
Mồ, Hòn Khô Mẹ, Hòn Khô Con, Hòn Lá, Hòn Tai và Hòn Ông.) Trong số các
đảo thuộc Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm, đảo Hòn Lao có tổng diện tích nói
chung và diện tích rừng nói riêng lớn hơn cả và có người sinh sống (hình 1 –
theo Phan Thị Hoa 2015 [3]). Các đảo còn lại có diện tích nhỏ, chỉ có cây bụi
hoặc diện tích đất trống với thảm cỏ thấp. Do vậy, cho tới nay, cũng như tất cả
những công trình nghiên cứu trước đây về đa dạng sinh học trong hệ sinh thái
đảo Hòn Lao.
+ IEBR-T.150715.4, đực, trưởng thành; thu ngày 15 tháng 7 năm 2015 tại
đảo Hòn Lao.
+ Ngoài những mẫu nêu trên, có 2 cá thể cái mắc bẫy ngày 15 tháng 7 năm
2015 được thả ngay sau khi do dài cẳng tay và định loại trên thực địa.
14
Dơi lá mũi nhỏ Rhinolophus pusillus
+ IEBR-T.140715.1, đực, trưởng thành; thu ngày 14 tháng 7 năm 2015 tại
đảo Hòn Lao.
+ IEBR-T.150715.3, đực, trưởng thành; thu ngày 14 tháng 7 năm 2015 tại
đảo Hòn Lao.
Dơi nếp mũi nâu Hipposideros galeritus
+ IEBR-T.080515.6, đực, trưởng thành; thu ngày 08 tháng 5 năm 2015 tại
đảo Hòn Lao.
+ IEBR-T.090515.2, đực, trưởng thành; IEBR-T.090515.3, đực, trưởng
thành; thu ngày 09 tháng 5 năm 2015 tại đảo Hòn Lao.
+ IEBR-T.150715.7, đực, trưởng thành; thu ngày 15 tháng 7 năm 2015 tại
đảo Hòn Lao.
Dơi nếp mũi xám lớn Hipposideros grandis
+ IEBR-T.080515.5, đực, trưởng thành; IEBR-T.080515.8, đực, trưởng
thành; thu ngày 08 tháng 5 năm 2015 tại đảo Hòn Lao.
+ IEBR-T.150715.5, đực, trưởng thành; IEBR-T.150715.6, đực, trưởng
thành; IEBR-T.mHgra04h, đực, trưởng thành; IEBR-T.mHgra03h, đực, trưởng
thành; IEBR-T.mHgra01h, đực, trưởng thành; thu ngày 15 tháng 7 năm 2015
tại đảo Hòn Lao.
+ Ngoài những cá thể được giữ làm mẫu vật nêu trên, chúng tôi đã ghi
nhận được những đàn Dơi nếp mũi xám lớn đâu trong hang động gần Bãi
+ Một số thiết bị phụ trợ khác: máy định vị tọa độ địa lý (GPS), đèn chiếu
sáng, máy đếm số lượng cá thể dơi tại cửa hang động, v.v…
16
2.2.1.3. Mẫu vật nghiên cứu
Luận văn này là công trình nghiên cứu về khu hệ dơi ở Khu bảo tồn biển
Cù Lao Chàm. Do vậy, tất cả những mẫu vật nghiên cứu trong luận văn này
được thu qua các đợt điều tra thực địa từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2015.
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.2.1. Quan sát
Phương pháp quan sát dơi có thể áp dụng khi gặp những đàn dơi sinh sống
trong hang động hoặc dưới tán cây. Trong phạm vi của đảo Hòn Lao, chúng tôi
không tìm thấy đàn dơi nào đậu dưới tán cây trong suốt quá trình điều tra thực
địa. Cho đến nay, đã có 10 hang động được phát hiện trong phạm vi quần đảo
Cù Lao Chàm. Trong đó, có 5 hang thuộc đảo Hòn Lao, 5 hang còn lại thuộc
các đảo khác. Đáng chú ý: trong số 10 hang động hiện biết ở quần đảo Cù Lao
Chàm, chỉ có 1 hang (Hang Tò Vò) có dơi sinh sống cùng với Chim yến và một
số loài động vật khác. Do đặc thù của công tác quản lý nơi sống và khai thác tổ
Chim yến, chúng tôi không được phép tiếp cận mà phải nhờ những cán bộ địa
phương thu mẫu dơi ở Hang Tò Vò để xác định vị trí phân loại của loài dơi sinh
sống trong hang đó. Do vậy, phương pháp quan sát và ước tính số lượng cá thể
dơi ở nơi đậu chỉ được thực hiện ở một hang nhỏ có dơi sinh sống gần khu vực
Bãi Hương thuộc đảo Hòn Lao (hình 2).
Ngoài ra, chúng tôi cũng quan sát tập tính kiếm ăn và bắt mồi của dơi dọc
theo các tuyến khảo sát ban đêm: dọc theo suối cạn và đường đi dưới tán rừng.
Trong đó, Suối Bãi Bìm được quan tâm điều tra nhiều nhất qua cả hai đợt điều
tra thực địa.
Hình 4: Lưới mờ được giăng ngang suối Bãi Bìm thuộc đảo Hòn Lao
Vợt cầm tay
Vợt cầm tay là thiết bị hữu hiệu để thu mẫu dơi trong không gian hẹp như
hẻm núi hoặc hang động nhỏ. Trong thời gian thực hiện đề tài nay, vợt cầm tay
đã được sử dụng để bắt dơi ở hang động nhỏ gần Bãi Hương.
2.2.2.3. Xử lý mẫu trên thực địa
Trong số những cá thể bắt được bằng lưới hoặc bẫy hay vợt cầm tay, chúng
tôi chỉ giữ lại một số cá thể để làm mẫu vật để xử lý và phân loại trong bảo
tàng. Những cá thể cái đang trong thời kỳ mang thai hoặc cho con bú được thả
ngay sau khi ghi tiếng kêu siêu âm (đối với những loài thuộc Phân bộ Dơi nhỏ
- Microchiroptera), chụp ảnh và đo một số kích thước hình thái ngoài cần thiết
đối với việc định loại: dài cẳng tay (FA), cao tai (EH), dài xương chày (TIB),
dài bàn chân sau (HF), và dài đuôi (Tail). Trong nhiều tài liệu đã công bố và
20
nội dung của luận văn này, kích thước cao tai (EH) còn có tên gọi khác là dài
tai. Khi bắt gặp những cá thể cái đang trong thời kỳ sinh sản (mang thai, cho
con bú) bị mắc lưới hoặc bẫy, chúng tôi chỉ đo kích thước dài cẳng tay, chụp
ảnh, lấy mẫu màng cánh trước bằng khoan chuyên dụng với đường kính 3-5
mm tại ví trí màng cánh có thể phục hồi rồi thả ngay tại sinh cảnh đặt bẫy hoặc
lưới đó.
Đối với những cá thể giữ lại làm mẫu vật, một phần nhỏ cơ ức được cắt
nhỏ ngay sau khi giết và bảo quản trong tuýp nhỏ chứa cồn tuyệt đối để nghiên
cứ về đặc điểm sinh học phân tử, góp phần xác định vị trí phân loại của mỗi
loài khi đặc điểm hình thái không rõ. Cho đến nay, tất cả những mẫu dơi đã thu
được ở Cù Lao Chàm có thể định loại đến loài căn cứ vào đặc điểm hình thái.
Do vậy, những mẫu màng cánh và cơ đã thu phục vụ nghiên cứu đặc điểm phân