MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc cải cách hành chính nhà nước nói chung và cải cách
hành chính trong lĩnh vực THADS nói riêng đang là tâm điểm trong các
nỗ lực của Đảng và Nhà nước nhằm tiến tới phát triển, hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, “Nhà nước của dân, do dân, vì
dân”, xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và
văn minh” và là điều kiện căn bản để góp phần đạt được các mục tiêu
của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia.
Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm tiếp tục CCHC trong THADS có ý
nghĩa cấp thiết trong bối cách cải cách hành chính của nước ta hiện nay.
Thực tiễn đòi hỏi phải làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận những quy định
về cải cách hành chính trong THADS. Đồng thời, thực tiễn cũng đặt ra
yêu cầu tổng kết, đánh giá các thành tựu cũng như những bất cập của
cải cách hành chính trong THADS trong thời gian qua. Trên cơ sở đó,
đưa ra giải pháp khắc phục những bất cập, thiếu sót và tiếp tục nâng cao
hiệu quả cải cách trong THADS.
Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Cải cách hành chính
trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm Luận
văn tốt nghiệp Thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong quá trình cải cách nền hành chính nhà nước ở Việt Nam từ
năm 1986 đến nay, đã có khá nhiều công trình ở mặt này hay mặt khác
nghiên cứu về nền hành chính nhà nước.
Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn
diện về CCHC trong THADS. Vì vậy, đây chính là vấn đề nghiên cứu
còn bỏ ngỏ mà luận văn này mong muốn góp phần giải quyết.
1
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau để thực
hiện đề tài:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: thông qua phương pháp này,
các khái niệm, đặc điểm, quan điểm liên quan đến tổ chức hoạt động, vị
trí vai trò, thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự trong bộ máy
hành chính được phân tích cụ thể, chỉ ra các mối liên hệ từ đó đưa ra
những kết luận về các vấn đề cần giải quyết trong luận văn.
- Phương pháp so sánh được sử dụng để tìm ra các đặc điểm
chung, điểm khác biệt của cơ quan thi hành án dân sự. Phương pháp này
còn được sử dụng để so sánh mô hình cơ quan thi hành án dân sự từ khi
được hình thành cho đến nay, và so sánh các số liệu về kết quả thi hành
án một số năm để thấy được hiệu quả về tổ chức và hoạt động của cơ
quan này.
- Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu quá trình hình
thành và phát triển về tổ chức và hoạt động cơ quan thi hành án dân sự
qua các thời kỳ.
- Phương pháp thống kê: phương pháp này được áp dụng để đánh
giá thực trạng công tác THADS, công tác CCHC trong THADS.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ những vấn đề
lý luận về THADS; đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao
hiệu quả công tác THADS
6.2. Thực tiễn của luận văn
Ngoài ra, luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo trong học
tập, nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo ngành Luật, chuyên
ngành Luật hành chính.
quyết định của tòa án; thứ hai, có sự tham gia của các cơ quan tư pháp
(theo nghĩa rộng) vào quá trình thi hành án.
4
Tóm lại, từ sự phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm về
THADS như sau: THADS là hoạt động mang tính hành chính - tư pháp
do cơ quan Thi hành án, Chấp hành viên tiến hành theo trình tự, thủ tục
do pháp luật qui định để đưa bản án, quyết định dân sự của Tòa án;
Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại Quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, được thực hiện
trên thực tế, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm của thi hành án dân sự
Thứ nhất, hoạt động THADS mang tính cưỡng chế của quyền lực
nhà nước.
Thứ hai, hoạt động THADS đề cao sự thỏa thuận của đương sự,
người có nghĩa vụ thi hành án.
Thứ ba, chủ thể của hoạt động THADS là Cơ quan THADS và
chấp hành viên.
Thứ tư, hoạt động THADS được tiến hành theo một trình tự, thủ
tục chặt chẽ do pháp luật quy định.
Thứ năm, hoạt động THADS mang tính phối hợp.
1.1.3.Ý nghĩa của thi hành án dân sự
Thứ nhất, bảo đảm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực
thực tế trong cuộc sống.
Thứ hai, bảo đảm quyền lợi của đương sự.
Thứ ba, THADS là thước đo hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa
án và các hoạt động tư pháp khác. Thông qua THADS, cơ quan thi hành
án phát hiện sai sót của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật, từ đó
- CCHC để xây dựng hệ thống cơ quan THADS cơ cấu hợp lý,
công năng đầy đủ, chức năng rõ ràng, tinh giản mà hiệu quả cao, cơ chế
tự kiểm soát để thích ứng với sự thay đổi phát triển của tình hình kinh tế
- xã hội.
- Thực hiện CCHC trong THADS sẽ bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của cá nhân, tổ chức tốt hơn.
6
- Thông qua CCHC sẽ góp phần chống các hiện tượng tham
nhũng, tiêu cực trong THADS, làm trong sạch bộ máy cơ quan THADS.
1.2.2. Nội dung cải cách hành chính trong thi hành án dân sự
Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 về
Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 đã chỉ
rõ nội dung CCHC bao gồm sáu bộ phận: cải cách thể chế; cải cách thủ
tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng
và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cải cách
tài chính công; hiện đại hóa hành chính.
1.2.2.1. Cải cách thể chế
Một là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về THADS
phù hợp với Hiến pháp 2013; Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa
đổi, bổ sung năm 2014 và các luật khác có liên quan;
Hai là, đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp
luật nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ.
Ba là, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về xã hội hóa
trong lĩnh vực THADS theo hướng quy định rõ trách nhiệm của Nhà
nước trong việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Bốn là, xây dựng, hoàn thiện quy định của pháp luật về mối quan
hệ giữa Nhà nước và nhân dân, trọng tâm là bảo đảm và phát huy quyền
làm chủ của nhân dân và về quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt
khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ trống hoặc trùng lắp về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn; chuyển giao những công việc mà cơ quan
THADS không nên làm hoặc làm hiệu quả thấp cho xã hội đảm nhận
(ví dụ: tổ chức “Thừa phát lại”);
- Hai là, tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan
THADS theo hướng chuyên môn hóa; thiết lập và đưa vào hoạt động bộ
phận một cửa tại 100% các cơ quan THADS địa phương;
- Ba là, hoàn thiện cơ chế phân cấp, bảo đảm quản lý thống nhất
và tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra; đồng thời, đề cao vai trò
chủ động, tinh thần trách nhiệm, nâng cao năng lực của từng cấp (giữa
Bộ tư pháp với Tổng cục THADS, giữa Tổng cục THADS với Cục
THADS, giữa Cục THADS với Chi cục THADS);
8
- Bốn là, thực hiện thống nhất và nâng cao chất lượng thực hiện
cơ chế một cửa, một cửa liên thông tập trung tại bộ phận tiếp nhận, trả
kết quả; bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ
của cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 80% vào năm 2020.
1.2.2.4. Xây dựng và kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
- Một là, xây dựng đội ngũ công chức, viên chức thi hành án có
số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ trong
lĩnh vực THADS, phục vụ nhân dân và phục vụ sự nghiệp phát triển của
đất nước;
- Hai là, xây dựng đội ngũ công chức, viên chức thi hành án có
phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính
chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân thông qua các hình
thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp, có hiệu quả;
- Ba là, trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ
quan, đơn vị, xây dựng cơ cấu công chức, viên chức thi hành án hợp lý
bạch; tăng cường và nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát
tình hình chấp hành quy định của pháp luật trong quản lý tài chính, tài
sản công và đầu tư xây dựng cơ bản; xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ
và Quy chế quản lý, sử dụng tài sản công trong các cơ quan thi hành án
theo quy định; cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý tài
chính công;
- Ba là, ban hành Chương trình thực hiện tiết kiệm chống lãng
phí của Tổng cục THADS; xây dựng Kế hoạch và triển khai thực hiện
Chương trình thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí tại từng cơ quan
THADS;
- Bốn là, đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực THADS
1.2.2.6. Hiện đại hoá trong THADS
- Thứ nhất, xây dựng hệ thống hạ tầng thông tin đồng bộ, hiện đại
đảm bảo kết nối liên thông giữa Tổng Cục, Cục và các Chi cục Thi hành
án trong toàn hệ thống THADS;
- Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông
trong hoạt động của hệ thống cơ quan THADS đảm bảo 100% các văn
bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan trong hệ thống được
10
thực hiện dưới dạng điện tử; công chức, viên chức thi hành án thường
xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử trong công việc;
- Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong quy
trình xử lý công việc của từng cơ quan THADS, giữa cơ quan THADS với
các cơ quan hành chính nhà nước và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân.
- Thứ tư, tiếp tục duy trì, mở rộng và cải tiến việc áp dụng hệ
thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 vào hoạt động
của các cơ quan THADS;
- Thứ năm, xây dựng trụ sở cơ quan THADS hiện đại, tập trung ở
hình. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt. Được thiên nhiên ưu đãi, Đà Nẵng vừa
có đồng bằng, vừa có núi, có sông, có biển. Địa hình đồi núi chiếm diện
tích lớn, là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn; có ý nghĩa bảo vệ môi
trường sinh thái của thành phố.
Đà Nẵng được xác định là một trong những trung tâm kinh tế với
tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục ở mức cao và khá ổn định.
Với các điều kiện như trên, tạo thuận lợi cho thành phố phát triển
một nền kinh tế năng động, bền vững.
2.1.2 Tình hình thi hành án dân sự tại thành phố Đà Nẵng từ
năm 2011 đến năm 2016
Từ năm 2011 đến năm 2016, tổng số lượng các vụ án cần thi
hành án tăng đáng kể.
Kết quả thi hành về việc so với số có điều kiện giai đoạn này tăng
mạnh, nhất là từ năm 2011 trở lại đây (sau thời điểm Luật Thi hành án
dân sự 2008 có hiệu lực).
Từ năm 2013 hệ thống cơ quan THADS tập trung chỉ đạo và tổ
chức thực hiện các chỉ tiêu về THADS theo các Nghị quyết của Quốc
hội, đặc biệt là Nghị quyết số 37/2012/QH13 của Quốc hội về công tác
phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện Kiểm
sát nhân dân, Tòa án nhân dân và công tác thi hành án và đã đạt được
những kể quả tích cực (Năm 2013: Đã thi hành xong 4.229 việc, đạt tỷ
lệ 86,53%; Năm 2014: Đã thi hành xong 4.319 việc, đạt tỷ lệ 88,47%;
Năm 2015: Đã giải quyết xong 4.853 việc, đạt tỷ lệ 89,08%); Năm
2016: Đã giải quyết xong 6.566 việc, đạt tỷ lệ 76,9% vượt 6,9% so với
chỉ tiêu Bộ Tư Pháp giao).
12
Biểu đồ 2.1. Kết quả giải quyết TTHC trong lĩnh vực THADS
từ năm 2011-2016
bãi bỏ.
Biểu đồ 2.2. Công tác đơn giản hóa TTHC của Cục THADS
giai đoạn 2013 – 2016
(Theo BC thống kê công tác đơn giản hóa TTHC của Sở Tư pháp
thành phố Đà Nẵng năm 2013, 2014, 2015, 2016)
- Về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông
Qua quá trình thực hiện cho thấy, việc thực hiện cơ chế một cửa,
một cửa liên thông và một cửa hiện đại đã góp phần nâng cao kỹ năng,
nghiệp vụ hành chính, cũng như tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân của
đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.
14
Biểu đồ 2.3.Thống kê mức độ triển khai chất lượng dịch vụ hành
chính công
(Trích báo cáo sơ kết công tác CCHC giai đoạn 2011-2016 của Cục
THADS thành phố Đà Nẵng)
- Việc hỗ trợ trực tuyến yêu cầu thi hành án tại Cục THADS và
các Chi cục THADS trực thuộc mang lại nhiều kết quả tích cực.
2.2.3. Cải cách tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án dân sự
Để khắc phục những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh Thi hành án
dân sự năm 2004 và Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 của
Chính phủ quy định về cơ quan quản lý, cơ quan thi hành án và cán bộ
công chức làm công tác thi hành án dân sự, Quốc hội khoá XII, kỳ học
thứ 4 đã thông qua Luật THADS có hiệu lực thi hành từ ngày
01/7/2009.
Theo quy định hiện hành, hệ thống cơ quan THADS gồm: cơ
quan quản lý THADS làm chức năng quản lý và cơ quan THADS làm
16
Nhìn chung, trong 05 năm qua, hệ thống tổ chức bộ máy, cán bộ
của các cơ quan THADS được quan tâm củng cố, kiện toàn và ngày
càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng.
2.2.5. Cải cách tài chính công trong thi hành án dân sự
Từ năm 2009 trở về trước, việc thực hiện khoán biên chế và kinh
phí quản lý hành chính bước đầu được nhận thức và chuyển biến, nhưng
chưa rõ nét. Việc xác định biên chế để giao khoán còn lúng túng, chưa
gắn với chất lượng, hiệu quả công việc.
Hiện nay, ngành THADS Đà Nẵng đã triển khai thực hiện cơ chế
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kinh phí và biên chế quản lý hành chính;
phân phối và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển của
ngành và phát triển kinh tế xã hội.
2.2.6. Hiện đại hóa trong thi hành án dân sự
Năm 2009 về trước, toàn ngành THADS thành phố không có cán
chuyên trách về công nghệ thông tin, tình trạng trang thiết bị máy móc
còn sơ sài.
Hệ thống các văn bản đều được lưu trữ thủ công, chưa có quy
trình tiêu chuẩn cho việc lưu trữ, nên khiến việc tìm kiếm các tài liệu,
hồ sơ cũ gặp nhiều khó khăn, tình trạng các văn bản cũ bị hư hại do
mục, nát, do thấm nước dẫn đến chất lượng hồ sơ không đảm bảo, thông
tin không lưu trữ được, gây khó khăn trong công tác quản lý..
Thực hiện chỉ đạo của Lãnh đạo Cục, Lãnh đạo Ủy ban nhân dân
thành phố; Kế hoạch ứng dụng phát triển Công nghệ thông tin của Sở
Thông tin truyền thông và Kế hoạch triển khai công tác Công nghệ
thông tin, trên cơ sở đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT trong hoạt
động của cơ quan, Cục THADS thành phố Đà Nẵng đã xây dựng Kế
hoạch số 19/KH-THADS ngày 21/02/2012 về Kế hoạch Ứng dụng tin
CBCCVC, thu hút người có trình độ cao, chuẩn hóa Chấp hành viên có
trình độ ở các quận, huyện, kể cả các huyện có điều kiện kinh tế khó
khăn.
18
Công tác tài chính công tiếp tục được thực hiện góp phần ngày
càng nâng cao đời sống cho CBCCVC và người lao động.
Ứng dụng CNTT vào hoạt động của cơ quan hành chính nhà
nước đạt được một số kết quả nhất định như triển khai họp trực tuyến,
ứng dụng phần mềm quản lý văn bản và điều hành, phần mềm một cửa
điện tử.v.v…
2.3.2. Những vấn đề tồn tại trong cải cách hành chính trong
THADS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Về thể chế, việc tham mưu ban hành cơ chế chính sách, tổ chức
triển khai thực hiện trên một số lĩnh vực chưa hiệu quả. Năng lực, trình
độ, kỹ năng hành chính của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức
còn hạn chế.
Về thủ tục hành chính: Hiện nay án thụ lý có giá trị lớn phải thi
hành án, rất khó thi hành chủ yếu tập trung án liên quan đến kinh doanh,
thương mại, tín dụng ngân hàng, tranh chấp dân sự hoặc một số vụ án
đã tổ chức kê biên tài sản là nhà, đất tương ứng với số tiền phải thi hành
án, đã ký hợp đồng với các tổ chức bán đấu giá nhiều lần nhưng vẫn
chưa bán được.
Việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông chưa được
quan tâm đầy đủ, có nơi còn hình thức. Dịch vụ công trực tuyến mức độ
3,4 chưa được triển khai và áp dụng mạnh mẽ.
Về quy trình hỗ trợ trực tuyến: có một số phản hồi từ đương sự
về việc không thể gửi yêu cầu hỗ trợ vào địa chỉ email hoặc có gửi
nhưng kiểm tra hộp thư không nhận được nên họ phải liên hệ trực tiếp
Việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông còn
nhiều khó khăn do một số thủ tục hành chính còn những bất cập trong
cơ sở pháp lý, hướng dẫn thực hiện của các cơ quan trung ương, đặc
biệt một số vụ án có thời gian giải quyết phụ thuộc vào sự hợp tác của
đương sự.
Khối lượng công việc của các cơ quan THADS ngày càng nhiều,
trong khi biên chế hành chính ít nên hầu hết công chức làm việc tại Bộ
phận tiếp nhận và trả kết quả đều thực hiện nhiệm vụ theo chế độ kiêm
nhiệm nên chất lượng tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính một số
đơn vị chưa đáp ứng nhu cầu của tổ chức và công dân.
20
CHƢƠNG 3
NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH
HÀNH CHÍNH TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.1. Nhu cầu đòi hỏi việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành
chính trong thi hành án dân sự
Thứ nhất, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước
ta đối với công cuộc CCHC.
Thứ hai, đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.
Thứ ba, khắc phục những bất cập trong THADS ở nước ta
Thứ tư, bối cảnh kinh tế - xã hội, xu thế của thời đại, yêu
cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đòi hỏi phải cải cách để
đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
Chính vì vậy, trong THADS đòi hỏi phải tiếp tục đẩy mạnh
CCHC để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn hiện nay.
3.2. Một số giải pháp nhằm tiếp tục cải cách hành chính trong
thi hành án dân sự
cả về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu công việc.
Năm là, tiếp tục hoàn thiện các quy chế quản lý tài chính, các
chính sách về thu nhập, tiền lương, tiền công; thực hiện triệt để cơ chế
phân bổ ngân sách cho cơ quan hành chính nhà nước, tiến tới xóa bỏ
chế độ cấp kinh phí theo số lượng biên chế, thay thế bằng cơ chế cấp
ngân sách dựa trên kết quả và chất lượng.
Sáu là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng có
hiệu quả Hệ thống quản lý chất lượng ISO trong hoạt động quản lý,
điều hành.
22
Nâng cấp hoàn thiện các phần mềm tại Bộ phận một cửa; tăng
cường ứng dụng công nghệ thông tin giữa các cơ quan THADS với các
cơ quan hữu quan.
Tiếp tục duy trì, mở rộng và cải tiến việc áp dụng hệ thống quản
lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 vào hoạt động của cơ
quan THADS..
3.2.3. Tăng cường vai trò, trách nhiệm chỉ đạo, triển khai và
kiểm tra việc thực hiện cải cách hành chính của người đứng đầu cơ
quan thi hành án dân sự; tăng cường sự phối hợp chặt chẽ của các
cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện CCHC
Tiếp tục đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan
THADS các cấp trong thực hiện nhiệm vụ CCHC, đảm bảo sự nhất
quán, kiên trì, liên tục trong CCHC.
Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện, kịp thời
khắc phục những thiếu sót, hạn chế, đề ra các biện pháp, giải pháp nâng
cao hiệu quả công tác CCHC.
Tiến hành tổ chức ký kết Quy chế phối hợp với các ngành Công
an, Toà án, Viện kiểm sát nhân dân và một số cơ quan, tổ chức liên
hệ thống hành chính nhà nước mà còn phải có sự lãnh đạo của Đảng,
phải có vai trò gương mẫu, tích cực của mỗi cán bộ, Đảng viên trong
các cơ quan hành chính nhà nước thì mới làm được, Do đó, để công tác
CCHC trong THADS có hiệu quả thì phải có sự thống nhất đồng bộ,
đồng lòng thì công cuộc cải cách mới đem lại kết quả như mong
muốn./.
24