Cái tôi trữ tình trong thơ nữ trẻ sau 1986 qua các tác giả vi thùy linh, ly hoàng ly, bùi sim sim - Pdf 45

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ HUỆ

CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NỮ TRẺ SAU 1986 QUA CÁC
TÁC GIẢ: VI THÙY LINH, LY HOÀNG LY, BÙI SIM SIM

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Lƣu Khánh Thơ

Hà Nội - 2017


MỤC LỤC
MỤC LỤC ....................................................................................................................... 0
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................. 3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................... 5
2.1.

Lịch sử nghiên cứu cái tôi trữ tình .............................................................. 5

2.2.

Lịch sử nghiên cứ về ba tác giả: Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Bùi Sim


1.2.2.

Khái lược về thơ nữ trẻ sau 1986 ............................................................. 24

1.2.3.

Khái quát về Vi Thùy Linh, Ly Loàng Ly và Bùi Sim Sim ..................... 25

Chƣơng 2: CÁC DẠNG BIỂU HIỆN CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ
VI THÙY LINH, LY HOÀNG LY, BÙI SIM SIM ................................................... 31
2.1. Cái tôi cá nhân ................................................................................................... 31

1


2.1.1. Cái tôi chủ quan ........................................................................................... 31
2.1.2. Cái tôi nghệ sĩ ............................................................................................... 40
2.1.3. Cái tôi mang đặc trưng giới ......................................................................... 49
2.2. Cái tôi đời tƣ ....................................................................................................... 53
2.2.1. Cái tôi bản thể và những khao khát tự do, giải phóng tình dục ................ 53
2.2.2. Cái tôi với nỗi buồn và sự cô đơn ................................................................ 61
2.3. Cái tôi thế sự ....................................................................................................... 69
2.3.1. Cái tôi trực cảm về những vấn đề xã hội hiện đại ...................................... 69
2.3.2. Cái tôi suy tư, chiêm nghiệm và triết lý về cuộc sống ................................. 75
Chƣơng 3: NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ VI
THÙY LINH, LY HOÀNG LY, BÙI SIM SIM ........................................................ 80
3.1. Thể thơ ................................................................................................................ 80
3.1.1. Thể thơ tự do................................................................................................. 80
3.1.2. Thể thơ văn xuôi ........................................................................................... 90

đời sống, đồng thời thấy được những đặc trưng của cái tôi trữ tình ở mỗi thời đại.
Trong quy luật sáng tạo thơ ca, lớp nhà thơ trẻ luôn là những người mang đến
luồng sinh khí mới, bởi họ chính là những con người của thời đại, họ hấp thụ tất cả
những xu thế của thời đại và phản ánh chúng vào thơ ca. Tìm tòi và khám phá những
cái mới luôn là khát vọng và cũng là thách thức đặt ra cho các nhà thơ trẻ. Bởi vậy,
không phải nhà thơ tài năng nào cũng có những tác phẩm xuất sắc, mà bên cạnh cái
mới còn cần có cái đặc sắc. Cùng với các nhà thơ ở vị trí giao thoa giữa giai đoạn thơ
ca trước và sau đổi mới là sự xuất hiện của các nhà thơ trẻ, trong đó có cả những nhà
thơ nữ, đã đóng góp vào nền thơ ca đương đại những nét cách tân đặc sắc, làm phong

3


phú hơn và đa dạng hơn cho nền thơ ca sau 1986. Nền thơ ca khi bước sang giai đoạn
đổi mới cũng đồng thời xuất hiện một thế hệ các nhà thơ nữ trẻ sung sức và không
ngừng tạo nên phẩm chất mới, diện mạo mới cho thơ ca Việt Nam đương đại. Trong số
những nhà thơ thuộc thế hệ các nhà thơ nữ trẻ đó có sự xuất hiện của ba cây bút Vi
Thùy Linh, Ly Hoàng Ly và Bùi Sim Sim luôn gây được sự chú ý.
Hiện nay, phê bình văn học đang rất phát triển, số lượng những bài viết, bài
đánh giá và nghiên cứu về thơ đương đại là rất phong phú. Tuy nhiên, khi tiếp cận
mảng tư liệu phê bình đánh giá các hiện tượng thơ nữ trẻ hiện nay, người viết nhận
thấy một vấn đề nổi cộm đó là các tác giả chỉ đưa ra những luận điểm khái quát, chung
chung mà chưa đi vào phân tích, lý giải cụ thể, hoặc chưa khái quát được mối quan hệ
cũng như những đặc điểm chung của ba nhà thơ Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Bùi Sim
Sim. Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu về ba tác giả trên phương diện cái tôi trữ tình,
chúng ta sẽ phần nào có cách nhận thức, đánh giá hợp lý nhất các tác phẩm cũng như
tài năng thơ ca của các nhà thơ nữ trẻ; đồng thời, chúng ta có thể khái quát được thực
trạng đổi mới thơ ca, đánh giá được vị trí, vai trò của những nhà thơ nữ trong sự phát
triển của nền văn học đương đại. Qua đó, chúng ta cũng tìm ra được những cách thức
tiếp cận một giai đoạn văn học từ phương diện cái tôi trữ tình; đẩy nhanh và hiệu quả

biệt chú trọng.Ở Việt Nam, “cái tôi” trong thơ cũng được nói đến từ xưa. Trong văn
học Trung đại, những nhà thơ như Ngô Thì Nhậm, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát… đều
bàn về mối quan hệ giữa “tình” và “cảnh”, về “chí”, “hứng”, “tâm”… Sang đến đầu thế
kỉ XX, trong giai đoạn văn học hiện đại Việt Nam, vấn đề “cái tôi trữ tình” trong thơ
được chú ý hơn bởi những nhà lý luận, phê bình và nghiên cứu văn học. Họ đã vận
dụng khái niệm “cái tôi trữ tình” trong nghiên cứu và sử dụng yếu tố này như một đối
tượng, một hướng nghiên cứu mới để tìm ra được bản chất của thơ ca và cá tính sáng
tạo của tác giả. Trong cuốn Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh trực tiếp đề cập đến vấn đề
“cái tôi” có giá trị như sự tổng kết Phong trào Thơ mới. Hà Minh Đức trong công trình
nghiên cứu Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại cũng đã đi sâu nghiên cứu
về cái tôi trữ tình. Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử là người có nhiều đóng

5


góp trong nghiên cứu văn học từ góc độ tiếp cận về cái tôi trữ tình trong thơ ca, nhiều
công trình nghiên cứu của ông đã khẳng đinh được vị trí của cái tôi trữ tình trong thơ
ca như Lý luận và phê bình văn học: Những vấn đề và quan niệm hiện đại và Hành
trình thơ hôm nay. Nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành trong cuốn Giáo trình Tư duy
thơ hiện đại Việt Nam cũng đã đề cập một cách khá sâu sắc và toàn diện về cái tôi trữ
tình trong thơ ca. Bên cạnh đó, một số bài viết và công trình nghiên cứu của nhà phê
bình Lưu Khánh Thơ như Cái tôi trữ tình và phương thức biểu hiện cái tôi tình yêu
trong thơ Xuân Diệu trước cách mạng; Suy nghĩ về thơ môm nay; thơ và một số gương
mặt thơ Việt Nam hiện đại… cũng đã thể hiện được tầm quan trọng của cái tôi trữ tình
trong thơ ca. Đặc biệt việc nghiên cứu thơ ca từ phương diện cái tôi trữ tình cũng đem
lại nhiều thành tựu trong một số công trình nghiên cứu, bài viết về thơ sau 1975 và thơ
đương đại như: Thơ trữ tình Việt Nam 1975 – 1990 (Lê Lưu Oanh); Nửa thế kỉ thơ Việt
Nam 1945 – 1995: nhìn từ phương diện sự vận động của cái tôi trữ tình (Vũ Tuấn
Anh)… Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu, bài viết về những vấn đề văn học
giai đoạn hiện đại và đương đại cũng đã tạo lên cái nhìn tổng quan, có hệ thống để thấy

nỗ lực không ngừng trong cuộc cách mạng đổi mới thơ ca. Trong số đó, Vi Thùy Linh,
Ly Hoàng Ly, Bùi Sim Sim là những nhà thơ nữ xuất hiện đầy ấn tượng, khuấy đảo
văn đàn, tạo ra một làn sóng mới cho nền thơ ca đương đại và trở thành đối tượng cho
nhiều cuộc tranh luận, nhiều công trình nghiên cứu, phê bình văn học.
Về Vi Thùy Linh: Ngay từ khi xuất hiện, Vi Thùy Linh đã khuấy động thi đàn Việt
Nam và tạo ấn tượng trong lòng độc giả với hai tập thơ Khát(1999) và Linh(2000). Bởi
những nét cách tân mới mẻ và cá tính mạnh mẽ được thể hiện trong thơ mà Vi Thùy
Linh trở thành một hiện tượng được bàn luận nhiều.Đã có rất nhiều những cuộc tranh
luận sôi nổi và hình thành hai luồng tư tưởng, cách đánh giá khác nhau về thơ của
Linh. Những người chủ trương cách tân (Nguyễn Trọng Tạo, Tô Hoàng, Phạm Xuân
Nguyên…) thì đánh giá cao những nét mới mẻ trong thơ Vi Thùy Linh, họ cho đó là
7


những cách tân độc đáo, những cảm xúc mạnh mẽ và cách thể hiện táo bạo, khác lạ.
Trong khi đó, những người chủ trương bảo thủ (Trần Mạnh Hảo, Hoàng Xuân
Tuyền…) lại coi thơ của Vi Thùy Linh là nổi loạn, không lành mạnh, không phải là
thơ.Cuộc tranh luận này kéo dài từ ngày 17/02/2001 đến ngày 24/3/2001, liên tiếp
trong các số 7, 8, 9, 10 trên báo Người Hà Nội.Cuộc tranh luận về thơ Vi Thùy Linh
tuy đã kết thúc nhưng nó khẳng định được sức ảnh hưởng mạnh mẽ của thơ Vi Thùy
Linh đối với nền thơ ca đương đại Việt Nam. Bên cạnh đó, có rất nhiều những bài viết,
công trình nghiên cứu về thơ Vi Thùy Linh có thể kể đến như: Thơ Vi Thùy Linh, một
khát vọng trẻ (Nguyễn Thụy Kha, Người Hà Nội, số 8 – 2001); Linh ơi…! (Nguyễn
Thanh Sơn, Người Hà Nội, số 8 – 2001); Hiện tương Vi Thùy Linh (Nguyễn Huy
Thiệp); Đọc “Linh” thơ Vi Thùy Linh (Văn Đắc, Phụ bản Thơ, Báo Văn nghệ, số 16,
tháng 10 -2004); “Sex” làm nên “thương hiệu” Vi Thùy Linh? (Lê Thị Huệ); Thơ của
một cô gái tuổi 20 (Tô Hoàng, Người Hà Nội, số 7, ngày 17/02/2001); Vi Thùy Linh,
nhục cảm sáng tạo (Thụy Khuê); Vi Thùy Linh và một kiểu tư duy về lời (Trần Thiện
Khanh); Vi Thùy Linh – thi sĩ của ái quyền (Chu Văn Sơn); Thơ Vi Thùy Linh giữa
những quyền lực của lời (Nguyễn Thị Thanh Tâm); Thơ trẻ Việt Nam đương đại qua

Bùi Sim Sim là một trong những cây bút nữ tiêu biểu của nền thơ ca đương đại Việt
Nam.
Có thể thấy, cả ba tác giả trên đều là những gương mặt nhà thơ trẻ của nền văn
học bước sang giai đoạn đương đại sau 1986. Họ là những đối tượng nghiên cứu, đối
tượng tìm hiểu của nhiều nhà phê bình. Tuy nhiên, những nghiên cứu về họ đều mang
cái nhìn khái quát, chung chung và đánh giá ở góc độ đổi mới về hình thức nghệ thuật
ở các nhà thơ trẻ. Những nhà nghiên cứu có thể tán dương, đề cao hoặc phê phán, phủ
nhận những nét cách tân trong thơ của những nhà thơ trẻ trên con đường đổi mới văn
chương nhưng chưa nhìn nhận thật sâu sắc ở vấn đề sự vận động của cái tôi cá nhân
trong bình diện chung của quan niệm văn học thời đại. Dẫu sao thì bản lĩnh của người

9


phụ nữ có tài năng thơ ca, dám khai phá, tìm tòi những cái mới, dám đem hết thảy
những suy nghĩ, tình cảm cá nhân thể hiện trong thơ thì đó đều là những sự cố gắng
thực sự đáng trân trọng.
3. Mục đích – Đối tƣợng – Phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu Cái tôi trữ tình trong thơ nữ trẻ sau 1986 qua các tác giả: Vi Thùy
Linh, Ly Hoàng Ly, Bùi Sim Sim nhằm mục đích:
-

Tìm hiểu về cái tôi trữ tình và những đặc trưng của thơ nữ trong văn học.

-

Tìm hiểu những đặc điểm, những nét đặc sắc trong việc thể hiện cái tôi trữ

tình của ba nhà thơ nữ trẻ sau năm 1986.

Phim đôi – Tình tự chậm (2010), Nxb Thanh niên.
ViLi và Paris (2012), tập thơ song ngữ Việt - Anh, Nxb Hội nhà văn.
- Nhà thơ Ly Hoàng Ly với 2 tập thơ:

Cỏ trắng (1999), Nxb Hội nhà văn.
Lô lô (2005), Nxb Hội nhà văn.
- Nhà thơ Bùi Sim Sim với 2 tập thơ:

Thì thầm lá non (1996), Nxb Hội nhà văn.
Giữa hai chiều quên nhớ (2003), Nxb Hội nhà văn.
Trong quá trình nghiên cứu, Luận văn liên hệ mở rộng đến một vài sáng tác văn
học, nghệ thuật khác của ba tác giả.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn này đề cập đến vấn đề cái tôi trữ tình không chỉ đơn thuần là một yếu
tố trong nghiên cứu văn học mà còn xét nó ở góc độ nghiên cứu thi pháp. Chính vì vậy,
chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
-

Phương pháp tiếp cận thi pháp học

-

Phương pháp phân tích – tổng hợp

-

Phương pháp thống kê

-


Lênin cũng thống nhất “cái tôi” là “trung tâm tinh thần của con người, của cá tính con
người có quan hệ tích cực đối với thế giới và với chính bản thân mình. Chỉ có con
người đối lập kiểm soát những hành vi của mình và có khả năng thể hiện tính chủ động
toàn diện mới có cái tôi của mình”[47, tr.17]. Các nhà tâm lý học (Phơrớt, Rôgers,
Maslâu…) khi thống nhất quan niệm về cái tôi thì cho rằng: “Cái tôi là yếu tố cơ bản
cấu thành phần ý thức của nhân cách (bộ mặt tâm lý) con người”[47, tr.17].
Dựa trên cơ sở những quan niệm về khái niệm cái tôi của các nhà triết học và
các nhà tâm lý học, chúng ta có thể khái quát cái tôi là trung tâm tinh thần của con
người, hình thành cá tính và cấu thành nhân cách, ý thức của con người. Cái tôi vừa
mang bản chất xã hội, lịch sử vừa mang bản chất chủ quan riêng biệt; con người là tổng

13


hòa của các mối quan hệ xã hội nên cái tôi vừa là chủ thể, vừa là khách thể của hoạt
động nhận thức. Bên cạnh đó, cái tôi là cấu trúc phần tự giác, tự ý thức của nhân cách,
có thể tự điều chỉnh, kiểm soát những hành vi của mình, thể hiện tính chủ động toàn
diện của cái tôi cá nhân con người độc lập.
Trong mỗi ngành khoa học khác nhau, cái tôi lại được tìm hiểu ở những góc độ
khác nhau.Cái tôi tồn tại trong xã hội, lịch sử và chịu sự tác động của xã hội ở những
mặt nhất định, trong mỗi thời đại nhất định. Qua mỗi giai đoạn biến đổi của thời đại,
cái tôi cũng có sự thay đổi cho phù hợp, đặc biệt là trong lĩnh vực thơ ca. Vì vậy thông
qua việc tìm hiểu cá tính sáng tạo, tìm hiểu những đặc trưng trong cá nhân người sáng
tác, chúng ta có thể nhận thấy những bối cảnh xã hội, nhìn thấu những biến thiên thời
đại đã ngấm sâu vào nhận thức cũng như tư duy của cái tôi chủ thể. Cái tôi là cơ sở cho
tư duy nhận thức và phản ánh, là nền tảng cho sự sáng tạo, trong đó có nghệ thuật và
sâu xa hơn là thơ ca trữ tình.
1.1.2. Khái niệm cái tôi trữ tình
Cái tôi định hướng, chi phối mọi hành vi và hoạt động của con người trong đời
sống và cả trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Tác phẩm nghệ thuật là kết quả của cái

Tóm lại, cái tôi trữ tình là một phương diện biểu hiện chủ yếu và quan trọng
nhất trong thơ ca, nó chi phối nội dung, quyết định hình thức nghệ thuật; nó là cơ sở, là
tiền đề cho sự sáng tạo thơ ca. Cái tôi trữ tình không chỉ phản ánh thế giới nội cảm sâu
sắc của chủ thể mà còn thể hiện được chiều sâu tư duy nghệ thuật của người sáng tạo.
1.1.3. Nhà thơ và cái tôi trữ tình trong thơ
Nhà thơ – chủ thể sáng tạo, với cái tôi trữ tình được thể hiện trong thơ có một
mối quan hệ gắn bó mật thiết không thể tách rời. Cái tôi trữ tình là yếu tố quan trọng
giữ vai trò quyết định trong thơ.Bản chất của cái tôi trữ tình trong thơ là bản chất chủ
quan của tác giả.Mối liên hệ giữa khách thể và chủ thể, hay là mối liên hệ giữa cái tôi
15


trữ tình và cái tôi nhà thơ, tuy không thể đồng nhất nhưng cũng không thể tách bạch.Sự
tự ý thức của chủ thể càng sâu sắc, độc đáo bao nhiêu thì tính trữ tình trong thơ càng
được thể hiện có chiều sâu và đặc sắc bấy nhiêu. Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức nhận
định: “…cái tôi trong thơ trữ tình gắn bó chặt chẽ nhất với cuộc đời của tác giả. Sự
thống nhất giữa cuộc đời nhà thơ và thơ là một thực tế trong sáng tác thơ ca ở tất cả
mọi thời đại”[13, tr.183]. Tuy nhiên, ông cũng khẳng định: “Ngoài những yếu tố xác
định bộc lộ, dễ thấy trong cuộc sống, mỗi người trong đời còn có phần bên trong của
tâm trạng với bao cảm xúc, tâm tình và ước mơ, hi vọng. Nhà thơ thường bộc lộ phần
sâu kín đó trong thơ và có thể ở đây họ nói một cách chân thành, thiết tha những cái
trong đời họ không có được”[13, tr.183]. Cái tôi trữ tình là yếu tố đặc biệt quan trọng
tạo nên phong cách sáng tạo của nhà thơ, nhưng đó không phải hoàn toàn là hình ảnh
của cái tôi nhà thơ. Có thể xem như cái tôi nhà thơ là gốc gác, là ngọn nguồn của sự
sáng tạo, còn cái tôi trữ tình được tìm thấy trong mỗi tác phẩm khác nhau lại là một sự
biểu đạt khác nhau của tư duy sáng tạo nghệ thuật, xuất phát từ cái tôi nhà thơ. Cái tôi
trữ tình có khi chính là sự phản chiếu hình ảnh của chủ thể, có khi lại là kết quả của
một quá trình tư duy, tưởng tượng, sáng tạo. Tuy nhiên, tìm hiểu cái tôi trữ tình chính
là lối đi tắt để đi tìm hiểu cá tính sáng tạo của nhà thơ; hoặc tìm hiểu tiểu sử, cuộc đời,
đặc trưng tư duy nghệ thuật của nhà thơ cũng là con đường ngắn nhất để hiểu được sự

thơ được biểu hiện dưới hai dạng thức chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ
tình gián tiếp. Thơ trữ tình coi trọng sự biểu hiện cái chủ thể đến mức như là nhân vật
chủ yếu số một trong mọi bài thơ… Tuy nhiên, do sự chi phối của quan niệm thơ và
phương pháp tư duy của từng thời đại mà vị trí của cái tôi trữ tình có những thay đổi
nhất định”[59, tr.56 - 57].
Tóm lại, qua việc tìm hiểu lý luận của những nhà nghiên cứu phê bình trên,
chúng tôi nhận thấy: Cái tôi trữ tình là sự thống nhất giữa cái tôi chủ quan cá nhân, cái
tôi xã hội nhân loại và cái tôi nghệ thuật – thẩm mĩ. Cái tôi trữ tình là sự tự ý thức của
cái tôi nhà thơ được biểu hiện bằng phương tiện nghệ thuật, thông qua yếu tố trữ tình.

17


Mặc dù cái tôi trữ tình không thể hiện toàn bộ, không phản chiếu tất cả hình ảnh của
nhà thơ nhưng cái tôi trữ tình lại là sự kết tinh của nhân cách, bản chất chủ quan cá
nhân của nhà thơ (thế giới tinh thần nội cảm) với những yếu tố của tư duy nghệ thuật
(sáng tạo nghệ thuật). Bởi vậy, không thể đồng nhất hai yếu tố cái tôi nhà thơ và cái tôi
trữ tình nhưng cũng không thể tách rời mối quan hệ này trong nghiên cứu văn học.
Từ việc tiếp thu những quan điểm lý luận của những nhà nghiên cứu phê bình
giúp chúng tôi có những cơ sở lý luận để nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ nữ trẻ
sau 1986 qua ba tác giả Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly và Bùi Sim Sim. Họ là những cây
bút đại diện cho thế hệ nhà thơ trẻ của thơ ca đương đại, bởi vậy cái tôi trữ tình của họ
cũng bị tác động nhiều bởi khái niệm cũ và mới, bởi quan niệm tư duy thay đổi của
thời đại.Họ là những tài năng trẻ với cái tôi cá thể độc đáo luôn khao khát được khẳng
định cá tính, tài năng của mình. Hơn nữa, họ là những con người của thời đại luôn nhạy
bén và tiếp thu nhanh chóng những biến động của xã hội và luôn khao khát đổi mới thơ
ca. Chính sự vận động của yếu tố chủ quan và sự tác động khách quan đã mang đến sự
biểu hiện của những dạng thức cái tôi trữ tình khác nhau. Tuy nhiên, dù biểu hiện ở
những dạng thức nào thì cái tôi trữ tình trong thơ nữ trẻ sau 1986 đều có những điểm
gặp gỡ chung làm nên bộ mặt riêng của nền thơ ca đương đại trong sự khu biệt với thơ

Thùy Linh, Phan Huyền Thư và Ly Hoàng Ly đã nêu ba nguyên nhân cơ bản. Thứ nhất,
cuộc cách mạng dân tộc kết thúc cũng chính là cái đích thắng lợi cuối cùng của thơ ca
kháng chiến; việc chuyển từ cảm hứng sử thi anh hùng sang cảm hứng đời tư thế sự là
một quy luật tất yếu của sự vận động trong sáng tạo văn học. Thứ hai, cái nhìn nghệ
thuật của nhà thơ về con người và thế giới thay đổi tất yếu dẫn tới sự đổi mới trong
cảm hứng. Thứ ba, chính sách mở rộng giao lưu văn hóa đã giúp chúng ta tiếp cận
được nhiều trường phái thi ca mới, những vùng thẩm mĩ mới trên thế giới. Vì vậy, cách
tân là lẽ sống của thơ, là quy luật của sự vận động thơ.Tuy nhiên, những nhà văn, nhà

19


thơ vẫn còn đang lúng túng với việc “tìm đường”. Chính sự kiện Đại hội Đảng lần thứ
VI đã khẳng định lại vị trí của văn nghệ, trong đó có thơ ca.
Sự kiện thứ hai có ý nghĩa quan trọng tác động sâu sắc đến quá trình đổi mới
văn học và đặc biệt là đổi mới nhận thức của giới văn nghệ sĩ giai đoạn này, đó là cuộc
gặp gỡ giữa đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với đại biểu các văn nghệ sĩ và
các nhà văn hóa diễn ra tại Hà Nội trong tháng 10 năm 1987. Tổng Bí thư đã khẳng
định lại nhu cầu cấp thiết phải đổi mới văn học và trách nhiệm của người sáng tạo nghệ
thuật với ý thức “cởi trói” để xác lập một quan niệm mới về nghệ thuật. Cuộc gặp gỡ
này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác định lại tâm thế của người cầm bút.
Người nghệ sĩ có cái nhìn tỉnh táo hơn về vai trò của mình cũng như con đường đổi
mới thơ ca. Thơ ca không còn là công cụ để nhà thơ rao giảng đạo đức, cũng không
phải là phương tiện để truyền bá đường lối, tư tưởng cách mạng nữa. Người cầm bút đã
thực sự “giác ngộ” con đường đổi mới thơ ca là phải đi sâu khai phá chính mình, khám
phá sự phong phú của “cái tôi ẩn giấu”, thể hiện cái nhìn cá nhân về tất cả hiện thực
cuộc sống hay phô bày cảm xúc đã từng rất lâu chôn dấu bằng ngôn ngữ của thơ ca.
Sự kiện cuối cùng mang tính tổng kết về nhu cầu cấp thiết cần đổi mới văn học
nghệ thuật giai đoạn đổi mới đó là vào tháng 11 năm 1987, Bộ Chính trị Trung ương
Đảng ra Nghị quyết về “Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo quản lý văn học nghệ

với đó là sự khẳng định vai trò của cái tôi cá nhân. Các nhà nghiên cứu Phạm Quốc Ca,
Nguyễn Đăng Điệp, Lê Lưu Oanh cũng đã phân loại những xu hướng phát triển khác
nhau của thơ giai đoạn này. Tuy nhìn nhận, đánh giá thơ ca ở nhiều phương diện biểu
hiện khác nhau, nhưng các nhà nghiên cứu trên đều thống nhất quan điểm thơ ca giai
đoạn sau đổi mới phát triển theo xu hướng hiện đại chủ nghĩa, đó là hướng cách tân táo
bạo và dứt khoát rũ bỏ ảnh hưởng của thi pháp truyền thống để tìm đến những cái mới.
Một điều đáng chú ý trong thơ ca giai đoạn văn học sau đổi mới là sự trở về của cái tôi

21


cá nhân. Đây là nhận định chung của nhiều nhà nghiên cứu như Nguyễn Bá Thành,
Phạm Quốc Ca, Đặng Thu Thủy. Cái tôi cá nhân hướng nội trực tiếp đã xuất hiện vàchi
phối tư tưởng sáng tác của hầu hết những nhà thơ trong phong trào thơ Mới giai đoạn
văn học đầu thế kỉ XX. Đó là sự biểu đạt trực tiếp những cảm xúc, suy tư, chiêm
nghiệm của chủ thể trữ tình bằng ngôn ngữ nghệ thuật.Khuynh hướng biểu đạt cái tôi
hướng nội đã dần nhường chỗ cho cái tôi hướng ngoại trong giai đoạn văn học Cách
mạng.Nhà thơ Cách mạng không được phép nói đến buồn đau, cô đơn hay cái chết.
Nhưng sang đến giai đoạn văn học đổi mới sau 1986, khi văn học không còn là một
công cụ phục vụ chiến đấu, thơ ca tìm về với bản chất nguyên thủy của mình, đó là
việc bộc lộ những tình cảm riêng tây, thể hiện cái nhìn cá nhân; và lúc này, cái tôi cá
nhân lại trỗi dậy mạnh mẽ. Đây tuy không phải là một sự cách tân trong thơ ca mà là
một sự thay đổi trong quá trình vận động thơ ca, làm thay đổi bình diện chung của thơ
ca thời kỳ đổi mới. Sự trở về của cái tôi trữ tình cá nhân chính là một trong những yếu
tố quan trọng nhất thể hiện sự đổi mới trong thơ ca đương đại.
Nói chung, văn học nghệ thuật không thể phát triển mà tách rời khỏi những biến
động chung của thời cuộc. Sáng tạo nghệ thuật nói chung và sáng tạo thơ ca nói riêng
luôn luôn cần phải có sự vận động, đó là quy luật, là lẽ sống, lẽ tồn tại của thơ ca nghệ
thuật. Cuộc đổi mới thơ ca sau 1986 một mặt là do sự thúc ép của tình hình xã hội, mặt
khác do yêu cầu tự thân của thơ ca cần phải đổi mới để duy trì sự tồn tại trong vòng

Phương… Tuy nhiên, những sáng tác của họ không thực sự để lại những dấu ấn độc
đáo. Thời kỳ chống Mỹ, một số cây bút nữ tiêu biểu đã góp phần quan trọng vào tiếng
nói thơ ca của thời đại như: Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ
Dạ…Bước sang giai đoạn văn học thời kỳ đổi mới, khi người cầm bút được tự do hơn,
không phải chịu gò ép trước bất cứ một tư tưởng, quan niệm chung nào; việc cách tân
đổi mới thơ ca được khích lệ, người phụ nữ mới được tự do thể hiện mình trong thơ.
Cảm xúc dồi dào và những tâm trạng nội tâm sâu kín luôn là những đặc trưng của giới
nữ.Khi họ trực tiếp được bộc lộ những tình cảm cá nhân qua thơ ca, họ đã tự mình

23


khẳng định những nét riêng có và độc đáo của giới mình vào thơ. Sự xuất hiện và phát
triển những nhà thơ nữ với số lượng đông đảo là một quy luật tất yếu của sự vận động
thơ ca. Đó không chỉ là một nhu cầu bình đẳng giới, là tiếng nói đòi nữ quyền, mà sâu
xa hơn, đó còn là nhu cầu được thể hiện, được bộc lộ những tình cảm, những cảm xúc
cá nhân, đó là cái tôi đa dạng mà đậm đà một chất chung trong thơ, đó là chất trữ tình.
Những nhà thơ nữ trẻ giai đoạn sau 1986 đã đạt được không ít những thành tựu thơ ca,
và họ chính là những người góp phần quan trọng vào công cuộc cách tân thơ trong giai
đoạn đổi mới, khẳng định vị trí quan trọng của thơ ca trong giai đoạn hội nhập kinh tế
toàn cầu.
1.2.2. Khái lược về thơ nữ trẻ sau 1986
Khái niệm “thơ trẻ” và vấn đề về “thơ nữ” đã được đề cập đến rất nhiều trong
những nghiên cứu văn học thời kỳ đổi mới. Đầu năm 1993, Hoàng Hưng đã nói đến
“phiên đổi gác” với sự xuất hiện của rất nhiều những nhà thơ sáng tác khi còn rất trẻ,
tuổi đời chỉ từ 20 đến 25 tuổi, trong đó có cả những nhà thơ nữ. Vi Thùy Linh, Ly
Hoàng Ly và Bùi Sim Sim là những cái tên được biết đến nhiều trong thi đàn. Tuy tính
đến thời điểm hiện tại, cả ba tác giả này không còn là những cây bút tràn trề nhiệt
huyết và nhựa sống của tuổi trẻ, nhưng những tác phẩm của họ tính từ thời điểm ra đời,
khi các tác giả bắt đầu sáng tác ở tuổi đời còn rất trẻ, đã bộc lộ được tài năng và bước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status