Hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh - Pdf 45

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN THỊ THANH NGA

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã ngành: 60.31.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Bùi Quang Bình

Đà Nẵng - Năm 2012


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Nga


MỤC LỤC



7

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DU LỊCH

7

1.1.1. Du lịch và sản phẩm du lịch

7

1.1.2. Đặc điểm của du lịch

9

1.1.2. Vai trò của du lịch trong phát triển
1.2. NỘI DUNG VÀ CÔNG CỤ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC DU LỊCH

11
12

1.2.1. ội dung và công cụ quản lý nhà nước du lịch

12

1.2.2. Các công cụ quản lý nhà nước du lịch

16

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC DU


25

1.4.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh Thừa Thiên
Huế

26
1.4.4. Những bài học kinh nghiệm QLNN về du lịch tỉnh Bình Định

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

28
30

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ DU LỊCH

31

2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN DU LỊCH VÀ TÌNH HÌNH
KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH BÌNH ĐỊNH

31

2.1.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch của tỉnh Bình Định

31

2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định


48

2.3.2. Tổ chức xây dựng dữ liệu và quản lý khai thác phát triển tài
nguyên du lịch

52

2.3.3. Quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch

55

2.3.4. Quản lý chất lượng dịch vụ du lịch trên địa bàn

57

2.3.5. Thực hiện hoạt động xúc tiến du lịch cho địa phương

63

2.4. CÁC NHÂN TỐ THUỘC VỀ CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ DU LỊCH

65


KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

69

CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN


76

3.2.3. Hoàn thiện quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch

77

3.2.4. Quản lý chất lượng dịch vụ du lịch trên địa bàn

79

3.2.5. Thực hiện hoạt động xúc tiến du lịch cho địa phương

82

3.2.6. Nâng cao trình độ của cán bộ công chức quản lý NN du lịch

83

3.2.7. Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong quản lý du lịch

90

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

93

KẾT LUẬN

95


bảng

Trang

2.1

Tốc độ tăng GDP tỉnh Bình Định giai đoạn 1996-2011

36

2.2

Cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Bình Định

37

2.3

Số lượng khách du lịch đến Bình Định thời kỳ 2001-2011

39

2.4

So sánh khách du lịch Bình Định với một số tỉnh, thành
phố.

40


Định

67

3.1

Dự báo khách du lịch đến Bình Định đến năm 2020

71

3.2

Nhu cầu khách sạn Bình Định đến năm 2020

72

3.3

Nhu cầu lao động trong du lịch tỉnh Bình Định đến 2020

72

3.4

Dự báo nhu cầu vốn đầu tư vào du lịch Bình Định đến
2020

3.5

73

thuận lợi để phát triển du lịch. Sự hạn chế, kém năng động của các doanh
nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh, là hệ quả hay là sản phẩm tất yếu
của quá trình QLNN về quy hoạch và thực hiện quy hoạch ngành, về quan
điểm định hướng phát triển, về tư duy và cơ chế, chính sách phát triển ngành,
về đầu tư và thu hút đầu tư của tỉnh.
Từ nhiều năm trước đây, với điều kiện đặc thù của mình về khí hậu, tài


2

nguyên thiên nhiên, cảnh quan môi trường và những ưu đãi khác do thiên
nhiên ban tặng cho Bình Định, nhưng hiện nay ngành du lịch vẫn chưa thực
sự phát huy được lợi thế này, thể hiện trên một số mặt chủ yếu như: lượng du
khách đến với đây chưa nhiều, số ngày lưu trú bình quân và công suất buồng
phòng còn thấp, mức tiêu dùng của khách khi đến Bình Định còn ở mức rất
khiêm tốn, đóng góp của ngành du lịch cho ngân sách địa phương chưa nhiều,
chưa giải quyết được nhiều việc làm cho nhân dân, cơ cấu của ngành du lịch
trong cơ cấu kinh tế của tỉnh còn thấp. Nếu tình hình này kéo dài thì ngành du
lịch khó có thể trở thành ngành kinh tế động lực của tỉnh. Do vậy, việc nghiên
cứu một cách khoa học và có hệ thống để tìm ra những giải pháp QLNN
nhằm thúc đẩy sự phát triển ngành du lịch tỉnh Bình Định, để ngành này thực
sự trở thành ngành kinh tế động lực trong tương lai gần, đồng thời góp phần
thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là yêu cầu và
nhiệm vụ cấp thiết. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả chọn đề tài:
"Hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Định" để
nghiên cứu là cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tổng quan nghiên cứu
Để thực hiện đề tài luận án này, tác giả đã nghiên cứu một số nội dung
về quản lý nhà nước về kinh tế nói chung, quản lý và kinh doanh du lịch, các
tài liệu có liên quan đến ngành du lịch của các tác giả đã nghiên cứu về vấn đề

trung vào các ngành nghề kinh doanh du lịch và phát triển ngành du lịch để du
lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia hoặc địa phương. Các đề
tài nghiên cứu QLNN về du lịch chỉ dừng lại ở phạm vi từng lĩnh vực trong
ngành du lịch, chứ chưa nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện của ngành
mà đặc biệt là QLNN về du lịch của một tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương. Ví dụ như: Việc hoạch định chính sách phát triển du lịch và quy hoạch
phát triển du lịch nên kết hợp như thế nào? phát triển du lịch lữ hành của một
doanh nghiệp hoặc một địa phương, tăng cường khả năng cạnh tranh của các


4

doanh nghiệp du lịch, nâng cao chất lượng sản phẩm trong các dịch vụ du
lịch, quản lý nhà nước về lao động trong kinh doanh du lịch, các biện pháp để
thu hút nhiều hơn khách du lịch đặc biệt là du khác nước ngoài trong bối cảnh
mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Khi đó QLNN về du lịch đồng thời phải
được mở rộng và có sự điều chỉnh đồng bộ nhiều quy định, luật lệ và chính
sách trong nhiều lĩnh vực khác nhau cho phù hợp với thông lệ quốc tế và Việt
Nam.
Thứ hai, tác giả của nhiều nghiên cứu này chọn đề tài QLNN về du lịch
của một địa phương để nghiên cứu tìm ra giải pháp hoàn thiện QLNN đối với
ngành du lịch địa phương là mở ra hướng nghiên cứu mới. các nghiên cứu
này kế thừa và vận dụng những luận điểm các công trình của các tác giả
nghiên cứu trước đây về từng lĩnh vực quản lý và kinh doanh của từng loại
hình du lịch, dịch vụ du lịch từ đó đưa ra hướng nghiên cứu cho mình, đồng
thời nghiên cứu này có ý nghĩa thiết thực cho công tác QLNN về du lịch cho
địa phương cấp tỉnh nói chung nhằm phát triển ngành du lịch theo đúng
hướng và đạt được mục tiêu đề ra. Chủ đề xuyên suốt của nhiều nghiên cứu
là: QLNN đối với sự phát triển ngành du lịch trên địa bàn một tỉnh cụ thể.
Theo logic thông thường luận án phải đề cập đến nội hàm của các khái niệm,

- Đánh giá được thực trạng QLNN về du lịch tỉnh Bình Định;
-

Kiến nghị được các giải pháp hoàn thiện QLNN về du lịch tỉnh

Bình Định.
4. Phạm vi đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: QLNN về du lịch tỉnh Bình Định.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Toàn bộ các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Bình
Định.
+ Về thời gian: 2001-2011


6

5. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như:
Kết hợp giữa thực chứng và chuẩn tắc.
Phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê và so sánh.
Đặc biệt là nghiên cứu thực tiễn tình hình của một số doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ du lịch; thực tiễn tình hình QLNN
về du lịch của một số cơ quan chức năng có liên quan đến QLNN về du lịch
để có thể phân tích đúng thực trạng làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp
phù hợp
6. Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mỏ đầu kết luận đề tài gồm 3 chương
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về du lịch
Chương 2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về du lịch
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch

của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không
phải là nơi làm việc của họ.


8

Trong luật pháp Việt Nam, khái niệm du lịch được hiểu “là các hoạt
động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên
của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng
trong một khoảng thời gian nhất định.” (Điều 4, Luật Du lịch, 2005).
Du lịch là một hoạt động kinh tế - xã hội phức tạp. Do vậy, ngành du
lịch chỉ có thể phát triển được khi có sự phối hợp chặt chẽ với các ngành khác
như tài chính, ngân hàng, xây dựng, giao thông vận tải, văn hóa, hải quan,
bưu chính viễn thông,… vì trong một chuyến du lịch, khách du lịch không chỉ
sử dụng các dịch vụ và hàng hóa của các cơ sở du lịch, mà họ còn phải sử
dụng các dịch vụ khác như: làm thủ tục visa, đổi tiền, gửi thư, gửi bưu ảnh,….
Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành
phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa
có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội.
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được
tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc
sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở,
vùng hay một quốc gia nào đó [2].
Sản phẩm đặc trưng của du lịch là các chương trình du lịch, nội dung chủ
yếu của nó là sự liên kết những di tích lịch sử, di tích văn hóa và cảnh quan thiên
nhiên nổi tiếng cùng với cơ sở vật chất - kỹ thuật như cơ sở lưu trú, ăn uống, vận
chuyển.
Sản phẩm du lịch mang một phần lớn yếu tố vô hình trong cấu tạo của
nó. Điều này là do bởi trong một sản phẩm du lịch thì yếu tố dịch vụ thường
chiếm từ 80% - 90% giá trị, còn hàng hóa chỉ chiếm một tỷ trọng thấp.

tạo của nó. Trong một sản phẩm du lịch, yếu tố dịch vụ thường chiếm từ 80% 90% giá trị, còn hàng hoá chỉ chiếm một tỷ trọng thấp.
Ngoài ra, sản phẩm du lịch còn có các đặc điểm mang tính đặc thù, đó
là: Tính phi vật thể, Đặc tính này là giá trị riêng có của một dịch vụ, thực tế


10

phản ánh rằng khách hàng nhận được sản phẩm thực tế từ kết quả hoạt động
dịch vụ là rất ít, kết quả thường là sự trải quả hơn là sự sở hữu. Tính phi vật
thể - đây là đặc điểm quan trọng nhất của dịch vụ du lịch. Người sử dụng dịch
vụ không thể tiêu dùng trực tiếp dịch vụ đó trước khi mua nó, nói cách khác
quá trình sản xuất ra dịch vụ cũng gắn liền với quá trình tiêu thụ nó. Dịch vụ
đồng hành với sản phẩm vật chất nhưng nó lại tồn tại dưới dạng phi vật chất
nên người sử dụng chỉ có thể đánh giá được chất lượng của dịch vụ khi trực
tiếp sử dụng nó. Tính phi vật thể của dịch vụ làm cho khách hàng khó khăn
trong việc đánh giá các dịch vụ cạnh tranh. Khi tiêu dùng dịch vụ khách hàng
thường gặp rủi ro, họ thường dựa vào các nguồn thông tin cá nhân, đôi khi giá
cả cũng không thể quyết định cho chất lượng dịch vụ. Chính vì đặc điểm quan
trọng này buộc các nhà cung cấp phải có trách nhiệm trong việc tạo dựng
thương hiệu thông qua cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác, chân thực và
khách quan về những tiện ích và ưu việt của dịch vụ đối với du khách để họ
thực sự yên tâm và hài lòng về quyết định mua sản phẩm dịch vụ.
Du lịch mang tính tương tác cao
Du lịch là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa những tổ
chức cung ứng và khách hàng, thông qua việc đáp ứng nhu cầu khách hàng đó
mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng dịch vụ đó. Hàng hoá mà dịch vụ du lịch
tạo ra được sản xuất và tiêu thụ đồng thời nên cung cầu dịch vụ không thể
tách rời, tiến hành đồng thời, không có thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng để
kiểm tra sản phẩm hỏng. Quá trình này cũng là quá trình nhân viên du lịch
cùng các phương tiện và điều kiện của nó sẽ liên tục tương tác với khách du

- Đóng góp lớn vào sự gia tăng trực tiếp vào sản lượng của nền kinh
tế của các địa phương và vùng lãnh thổ;
- Kích thích sự phát triển của các ngành khác trong nền kinh tế và góp
phần vào thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho địa
phương và vùng lãnh thổ;


12

- Du lịch góp phần khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch của
các địa phương nhất là những địa phương có tiềm năng tài nguyên
tự nhiên văn hóa về du lịch;
- Sự phát triển du lịch yêu cầu và kích thích đổi mới cơ chế chính
sách quản lý kinh tế;
- Góp phần tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho dân cư các địa
phương có tiềm năng tài nguyên tự nhiên văn hóa về du lịch;
- Mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế và văn hóa giữa các vùng, các
nước.
1.2. NỘI DUNG VÀ CÔNG CỤ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC DU LỊCH
1.2.1. Nội dung và công cụ quản lý nhà nước du lịch
Nếu theo lý luận về QLNN kinh tế có thể tiếp cận từ các chức năng
quản lý nhà nước về du lịch như hoạch định, tổ chức, điều hành tới kiểm soát
và điều chỉnh. Tuy nhiên, với một lĩnh vực cụ thể thường có cách tiếp cận
theo nội dung cụ thể sẽ tiện cho việc đánh giá thực tế và đưa ra giải pháp.
Khái quát chung tổng cơ sở lý luận và thực tiễn có thể thấy nội dung QLNN
về du lịch bao gồm:
(1) Tổ chức quy hoạch và quản lý thực hiện quy hoạch phát triển
du lịch
Quy hoạch về du lịch một trong những căn cứ pháp lý quan trọng cho
việc điều tiết các quan hệ trong hoạt động du lịch là cơ sở đầu tiên cho quản

để bảo đảm ổn định và tránh phá vỡ quy hoạch.
(2) Tổ chức xây dựng dữ liệu và quản lý khai thác phát triển tài
nguyên du lịch
Thường xuyên tổ chức thực hiện điều tra, đánh giá, phân loại, xây dựng
cơ sở dữ liệu tài nguyên du lịch của tỉnh theo Quy chế của Bộ Văn hoá, Thể
thao và Du lịch. Tài nguyên du lịch, hoạt động khai thác tài nguyên du lịch và
kinh doanh du lịch cũng như các hoạt động kinh tế khác luôn trong quá trình


14

vận động và thay đổi. Tình hình hoạt động, trạng thái của chúng ra sao chỉ có
thể phản ánh thông qua các số liệu thông tin – dữ liệu thu thập được. Các dữ
liệu này là đầu vào cho các phân tích đánh giá của các nhà hoạch định và
quản lý du giúp cho quy hoạch và quản lý phát triển sản phẩm du lịch, hạ tầng
du lịch.
Trên cơ sở các dữ liệu đã phân tích đánh giá có thể biết được thực trạng
khai thác và trạng thái hiện thời của tài nguyên du lịch, môi trường du lịch,
khu du lịch, điểm du lịch của địa phương qua đó thực hiện các biện pháp để
bảo vệ, tôn tạo, khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển chúng;
Thông thường cần có bộ phận thống kê và thông tin chung thuộc cơ
quan quản lý nhà nước với chức năng thu thập, xử lý và tổng hợp các thông
tin về tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, khu du lịch, điểm du lịch của địa
phương. Cơ quan này có bộ máy, cơ sở vật chất và được cung cấp nguồn tài
chính cho hoạt động của mình.
(3) Quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch
Đây là một trong các nội dung chính của quản lý nhà nước về du lịch.
Thực hiện tốt nội dung này sẽ bảo đảm sự thành công của công tác QLNN về
du lịch vì góp phần thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về du lịch mà
quan trọng hơn khi quản lý tốt, có hiệu lực và hiện quả sẽ tạo dựng môi

Chẳng hạn đặt ra, thẩm định và quyết định xếp hạng 1 sao, hạng 2 sao cho
khách sạn, làng du lịch; hạng đạt tiêu chuẩn kinh doanh biệt thự, căn hộ du
lịch; hạng đạt tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch đối với bãi cắm trại, nhà
nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, cơ sở lưu trú du lịch
khác;
+ Thẩm định và cấp biển hiệu đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch cho
cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du
lịch;
+ Các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cũng cần thường xuyên


16

kiểm tra và đánh giá thường xuyên các cơ sở kinh doanh du lịch đã được xếp
hạng và đánh giá để điều chỉnh đánh giá.
+ Nâng cao nhận thức và tạo ra môi trường thân thiện với khách du lịch
của các tổ chức và cộng đồng dân cư địa phương.
(5) Thực hiện hoạt động xúc tiến du lịch cho địa phương
Nội dung này sẽ bào đảm thu hút các nhà đầu tư và du khách tới địa
phương nhờ họ biết được những tiềm năng du lịch, đặc trưng cơ bản về du
lịch và các sản phẩm du lịch của địa phương. Xúc tiến du lịch là các biện
pháp để giới thiệu, quảng cáo cơ hội phát triển du lịch, các tiềm năng, các sản
phẩm du lịch với bên ngoài với các nhóm thị trường tiềm năng, các cơ quan
xúc tiến du lịch địa phương thường tổ chức các đoàn tham quan, khảo sát ở
các địa phương khác và nước ngoài; tham gia, tổ chức các hội thảo khoa học,
diễn đàn du lịch, kinh tế ở khu vực và quốc tế. Đồng thời, họ tích cực sử dụng
các phương tiện truyền thông, xây dựng mạng lưới các văn phòng đại diện ở
các địa phương khác và nước ngoài để cung cấp các thông tin nhanh chóng và
giúp đỡ kịp thời các nhà du lịch nước ngoài tìm hiểu cơ hội du lịch ở địa
phương mình.

quyết định có căn cứ khoa học được luận chứng đầy đủ mọi mặt; (2) khi sử
dụng công cụ này phải gắn chặt quyền hạn và trách nhiệm của cấp ra các
quyết định.
(2) Công cụ kinh tế
Công cụ kinh tế này được sử dụng trong quản lý nhà nước du lịch để
tác động vào đối tượng quản lý – tổ chức, doanh nghiệp và du khách tham gia
vào hoạt động du lịch.
Đặc điểm của các công cụ quản lý kinh tế là nó tác động lên tổ chức,
doanh nghiệp và du khách tham gia vào hoạt động du lịch - đối tượng quản lý
không bằng cưỡng bức hành chính mà bằng lợi ích. Công cụ này tạ ra sự quan
tâm vật chất thiết thân cho đối tượng bị quản lý, chứa đựng nhiều yếu tố kích


18

thích kinh tế cho nên tác động rất nhạy bén, linh hoạt.
Tuy nhiên công cụ này không thể tiến hành riêng lẻ mà cần kết hợp với
việc sử dụng các công hành chính và giáo dục.
(3) Công cụ giáo dục
Công cụ giáo dục là cách tác động vào nhận thức và tình cảm của đối
tượng quản lý - tổ chức, doanh nghiệp và du khách tham gia vào hoạt động du
lịch nhằm nâng cao tính tự giác của họ trong việc thực hiện quy hoạch phát
triển du lịch, bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch hợp lý, …
Công cụ giáo dục có ý nghĩa to lớn trong quản lý nhà nước du lịch vì
đối tượng của quản lý là tổ chức, doanh nghiệp và du khách tham gia vào hoạt
động du lịch. Do đó để tác động lên đối tượng này không chỉ tác động bằng
công cụ hành chính kinh tế mà còn tác động bằng giáo dục tinh thần, tâm lý
xã hội, v,v..
Công cụ này dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý. Đặc trưng
của phương pháp này là tính thuyết phục, tức la làm cho người tham gia giao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status