MỞ ĐẦU
Từ trước đến nay, tệ nạn xã hội luôn là một vấn nạn nhức nhối gây nên nhiều
hậu quả hệ lụy khôn lường với xã hội nói chung đặc biệt là trong môi trường học
đường, nó có nhiều ảnh hưởng xấu tới sinh viên các trường Đại học trong đó có
sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội. Với mục đích tìm hiểu nhận thức và thực
hiện pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội của sinh viên trường Đại học Luật Hà
Nội, nhóm B2 lớp 4013 chúng em đã mạnh dạn chọn đề tài “ Tìm hiểu về nhận
thức và thực hiện pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội của sinh viên trường Đại
học Luật Hà Nội” làm đề tài bài tập nhóm của mình.
Cuộc điều tra của chúng em tiến hành với mục đích: khảo sát thực tiễn để từ
đó làm sáng tỏ thực trạng về nhận thức và thực hiện pháp luật về phòng chống tện
nạn xã hội của sinh viên trường Đại Học Luật Hà Nội. Phân tích các nguyên nhân
làm phát sinh các tệ nạn xảy ra đối với sinh viên trong trường Đại học Luật Hà Nội
hiện nay và hậu quả tiêu cực mà các loại hình tệ nạn xã hội đó gây ra.Trên cơ sở đó
đề ra một số giải pháp cụ thể để không ngừng nâng cao sự nhận thức và thực hiện
pháp luật trong việc phòng chống và ngăn ngừa các tệ nạn xã hội trong trường Đại
học Luật hiện nay.
Để thực hiện mục đích này, nhóm chúng em đã triển khai một số nhiệm vụ
sau: Lập bảng hỏi với 18 câu hỏi chia thành 4 nhóm câu hỏi để tìm hiểu về quan
điểm, nhận thức của sinh viên về tệ nạn xã hội,tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân,
hậu quả và giải pháp phòng chống tệ nạn xã hội. Phát phiếu hỏi, xử lí và phân tích
số liệu thu được. Tổng hợp số liệu và viết báo cáo kết quả thu được.
Để hoàn thành cuộc điều tra này, nhóm em đã sử dụng phương pháp phân
tích và tổng hợp, khái quát hóa,... để nghiên cứu các vấn đề lý luận.Sử dụng
phương pháp anket để thu thập thông tin thực nghiệm nhằm làm rõ thực trạng tệ
nạn xã hội trong sinh viên trường đại học luật Hà Nội.
1
Việc chọn mẫu dựa theo phương pháp chọn ngẫu nhiên.Những người tham
gia trả lời bảng hỏi là sinh viên của trường Đại học luật Hà Nội cụ thể là các khóa
Tệ nạn mại dâm.
2
Mại dâm là hành vi sủ dụng các dịch vụ tình dục ngoài hôn nhân giữa người
mua dâm và người bán dâm để trao đổi lấy tiền bạc lợi ích vật chất hay lợi ích
khác.
Tệ nạn mại dâm là một hiện tượng xã hội tiêu cực, biểu hiện tình trạng các cá nhân
dùng các dịch vụ tình dục ngoài hôn nhân và tiền bạc, lợi ích vật chất hay các lợi
ích khác để trao đổi với nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục( đối với người mua
dâm) hoặc nhu cầu về tiền bạc, lợi ích vật chất( đối với người bán dâm).
1.2.3
Tệ nạn cờ bạc.
Cờ bạc là khái niệm dùng để chỉ các hình thức tổ chức và tham gia các trò
chơi có xác định thắng thua, trong đó người thắng nhận được một khoản lợi ích
bằng tiền, hiện vật hoặc lợi ích vật chất khác từ người thua hoặc người tổ chức trò
chơi.
Tệ nạn cờ bạc là hiện tượng xã hội trái pháp luật, biểu hiện tình trạng các cá nhân
tổ chức và tham gia các trò chơi cờ bạc dưới mọi hình thức, gây ra những hậu quả
xấu, tác động tiêu cực tới trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội.
1.2.4
Các loại tệ nạn xã hội khác.
Say rượu và nghiện rượu: trong những năm gần đây, tình trạng say rượu và
nghiện rượu đã đang trở thành một vấn nạn xã hội, đặc biệt tệ nạn say rượu đang có
xu hướng gia tăng nhanh trong lứa tuổi thanh thiếu niên. Say rượu và nghiện rượi là
Tệ nạn xã hội ảnh hưởng vô cùng lớn đối với sinh viên:
Tác hại đối với chính bản thân sinh viên tham gia các tệ nạn xã hội đó: Các
tệ nạn xã hội có thể gây những tổn thương nghiêm trọng đối với sức khỏe của chính
bản thân người tham gia (gây các bệnh về hệ hô hấp, hệ tim mạch, hệ thần kinh đối
với người nghiện ma túy…); làm tha hóa về nhân cách, rối loạn về hành vi, rơi vào
lối sống buông thả, dễ vi phạm pháp luật và phạm tội.
4
Tác hại đối với gia đình của họ: Đối với các gia đình có người thân tham gia
các tệ nạn xã hội sẽ có thể bị khủng hoảng về mặt tài chính cũng như tinh thần.
Tác hại đối với cộng đồng xã hội: các tệ nạn xã hội là những hiện tượng gây
bức xúc, bất bình trong dư luận xã hội, ảnh hưởng tới trật tự, an toàn xã hội; gây
tâm lý hoang mang, lo lắng, sợ hãi cho những người dân lương thiện
1.4 Nội dung pháp luật về phòng chống tệ nạn xã
1.4.1 Pháp luật về phòng chống tệ nan ma túy:
hội
Để góp phần ngăn ngừa, phòng, chống, đẩy lùi ma túy, hạn chế những tác hại
mà tệ nạn ma túy gây ra, Nhà nước ta đã sớm xây dựng, ban hành Luật phòng,
chống ma túy số 23/2000/QH10. Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 09 tháng 12 năm 2000 và
có hiệu lực thi hành về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma túy;
kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy; trách nhiệm của cá nhân,
gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống ma túy” (Điều 1). Theo quy định của
Luật phòng, chống ma túy, những hành vi bị nghiêm cấm bao gồm: trồng cây chứa
chất ma túy: sản xuất, tang trữ, vận chuyển, bảo quản, mua bán, phân phối, giám
định,, xử lí, trao đổi, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh,nghiên cứu trái phép hoặc
khỏe nhân dân, xây dựng và phát triển con người Việt Nam, ngày 14 tháng 3 năm
2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh phòng, chống mại dâm số
10/2003/PL-UBTVQH11, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2003. Theo quy định
của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm, các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm:mua
dâm; bán dâm; chứa mại dâm; bảo kê mại dâm; lợi dụng kinh doanh dịch vụ để
hoạt động mại dâm; các hành vi khác liên quan đến hoạt động mại dâm theo quy
định của pháp luật; nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức,
các nhân trong nước và tổ chức cá nhân nước ngoài tham gia, hợp tác trong hoạt
động phòng, chống mại dâm, thực hiện đồng bộ các biện pháp tuyên truyền, giáo
dục, kinh tế-xã hội, hành chính, hình sự và các biện pháp khác để phòng, chống mại
dâm; kết hợp chặt chẽ các biện pháp phòng, chống mại dâm với phòng, chống ma
6
túy và phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS…Pháp lệnh phòng, chống mại dâm còn
quy định các hình phạt xử lí đối với các đối tượng bị phạm tội.
1.4.3
Pháp luật về phòng, chống tệ nạn cờ bạc
Nếu như đối với tệ ạn ma túy và mại dâm Nhà nước ta đã ban hành Luật,
Pháp lệnh riêng để phòng, chống, thì đối với tệ nạn cờ bạc, chúng ta không có Luật
hay Pháp lệnh về phòng, chống tệ nạn cờ bạc. Các căn cứ pháp lý về phòng, chống
tệ nạn cờ bạc, trước hết, dựa chủ yếu vào các quy định của Bộ luật hình sự năm
1999 về các tội phạm về cờ bạc.
1.4.4
Pháp luật về phòng chống một số tệ nạn xã hội khác
Bên cạnh các tệ nạn ma túy, tệ nạn mại dâm và tệ nạn cờ bạc, trong thực tế
cầu đặt ra trong quy phạm pháp luật đối với việc điều chỉnh các quan hệ xã hội gắn
liền với việc phòng chống tệ nạn xã hội.
Thực hiện pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội được thể hiện trên hai
phương diện: thứ nhất, là quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về phòng chống tệ
nạn xã hội để đưa các quy luật về phòng chống tệ nạn xã hội vào cuộc sống trở
thành hành vi thực tế, hợp pháp của chủ thể nhằm đạt được mục tiêu của điều chỉnh
pháp luật về phòng chống tệ nạn xẫ hội. Thứ hai, là quá trình thực hiện pháp luật
nói chung đối với phòng chống tệ nạn xã hội. Do điều kiện khách quan và chủ quan
nên Nhà nước và xã hội cần có những giải pháp đặc thù để đưa pháp luật vào phòng
chống tệ nạn xã hội.
2
THỰC TRẠNG VỀ NHẬN THỨC VÀ THỰC HIỆN PHÒNG CHỐNG
TỆ NẠN XÃ HỘI TRONG SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ
2.1
NỘI
Thực trạng về tệ nạn xã hội trong sinh viên Trường Đại học luật Hà Nội.
Sinh viên trường Đại học luật Hà Nội mặc dù được học tập trong môi trường
pháp lý, được trang bị những kiến thức về pháp luật một cách có hệ thống tuy
nhiên tệ nạn xã hội vẫn xâm nhập vào đời sông sinh viên. Cụ thể, khi được hỏi “
Bạn đã có tình cờ nhìn thấy, phát hiện sinh viên trường Đại học luật Hà Nội có
hành vi tham gia vào tệ nạn xã hội không”, kết quả thu được như sau:
8
Mã số
Phương án trả lời
Nhận thức của sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội về sự ảnh hưởng của
tệ nạn xã hội đối với sinh viên
Khi được hỏi, việc sinh viên tham gia vào tệ nạn xã hội để lại hậu quả như thế
nào, kết quả trả lời như sau:
Mã số
Phương án trả lời
Số lượng
Tỷ lệ
1
Rất nghiêm trọng
63
63
2
Nghiêm trọng
36
36
3
Không nghiêm trọng
1
1
4
Rất không nghiêm trọng
0
0
Tổng cộng
100
100
Bảng 3. Đánh giá hậu quả của việc sinh viên tham gia vào tệ nạn xã hội
Bảng 6. Đánh giá mức độ đồng tình về việc phổ biến pháp luật về
phòng, chống tệ nạn xã hội trong sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội
Có 62% sinh viên rất đồng tình về việc phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn
xã hội trong sinh viên Đại học Luật.Tuy nhiên còn có 8% sinh viên trả lời là thế
nào cũng được và có 1% - 2% sinh viên trả lời là không đồng tình và rất không
10
đồng tình. Mặc dù đây là con số nhỏ nhưng là sinh viên học Luật mà không đồng
tình về việc phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội thì đây là một điều
đáng buồn. Vì vậy cần phải nâng cao hơn nữa nhận thức cho sinh viên.
Điều tra thông tin về việc tìm hiểu các văn bản pháp luật có liên quan đến
phòng, chống tệ nạn xã hội, ta thấy tất cả các bạn sinh viên đều biết đến các loại
văn bản bản pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội như Các quy định của pháp
luật Mã số Phương án trả lời
Số
Tỷ lệ
lượng
%
1
Các quy định của pháp luật hình sự về tội
73
73
phạm thuộc tệ nạn xã hội (Ma túy, mại
dâm,..)
2
Luật phòng chống ma túy
71
71
VIÊN
Bất cứ một sự kiện, hiện tượng nào tồn tại trong xã hội cũng đều có nguyên
nhân làm phát sinh ra nó. Tệ nạn xã hội trong sinh viên là một hiện tượng xã hội.
Để giảm thiểu được các tệ nạn xã hội ấy chúng ta cần tìm hiểu đến nguyên nhân
11
sâu xa của vấn đề để tìm ra các giải pháp khắc phụ.Qua cuộc điều tra xã hội học, có
rất nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân sinh viên sa vào các tệ nạn xã hội, 82%
sinh viên cho rằng nguyên nhân xuất phát từ chính bản thân người có hành vi tệ nạn
xã hội, 57 % ý kiến cho rằng nguyên nhân là do môi trường xã hội…Cụ thể như
sau:
Bảng 9. Nguyên nhân phát sinh tệ nạn xã hội trong sinh viên
Thực tế cho thấy, nguyên nhân làm phát sinh, tồn tại và phát triển tệ nạn xã hội
trong sinh viên rất đa dạng phong phú.
3.1
Sự tác động của môi trường kinh tế xã hội
Việt Nam đang trên đà hội nhập và phát triển đạt được nhiều thành tựu to lớn, tuy
nhiên bên cạnh đó cũng bộc lộ nhiều mặt trái của xã hội: gia tăng sự bất bình đẳng
trong xã hội, phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc, các giá trị, chuẩn mực xã hội
truyền thống bị thoái hóa và biến chất, nhiều cánhân vì lợi ích của bản thân mà
quên đi lợi ích của người khác, chức năng giáo dục của gia đình bị suy giảm, sự
kiểm soát của xã hội ngày càng hạn chế, lỏng lẻo... Đó là nguyên nhân làm tăng tội
phạm và tệ nạn xã hội
Hà Nội là nơi tập trung đông nhất các trường đại học , cao đẳng. Hàng năm
có hàng vạn sinh viên tuyển mới từ khắp mọi miền đất nước đến tụ học. Kí túc xá
được lợi nhuận từ mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, người ta sẵn
sàng lôi kéo tất cả các tầng lớp trong xã hội tham gia và không loại trừ sinh viên.
Ban đầu là nghiện, sau đó để có tiền thỏa mãn cơn nghiện thì tham gia vào vận
chuyển ma túy... Giống như đối với tệ nạn ma túy, tệ nạn mại dâm cũng phát triển
cùng với sự phát triển của xã hội. Vốn đầu tư thấp, lợi nhuận cao, không có khả
năng thua lỗ, không có đòi hỏi trình độ nghiệp vụ kỹ thuật cao. Điều này làm cho
các dịch vụ nhà hàng, khách sạn, massage, bia ôm vũ trường ngày càng nhiều.
Người tham gia vào hoạt động mại dâm cũng rất đa dạng có thể thỏa mãn nhu cầu
của các khách hàng thuộc mọi tầng lớp trong xã hội. Từ đó tệ nạn bán dâm cao cấp
phát triển và lôi kéo sinh viên tham gia vào tệ nạn này.
3.2
Nguyên nhân do thiếu sự quản lí của gia đình và nhà trường
Lời nói đầu của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 nhấn mạnh: “
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan
trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”. Điều đó
khẳng định gia đình có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội. Gia đình
nuôi dưỡng các cá nhân đặc biệt là khi còn nhỏ. Nhưng khi xa nhà, đặc biệt là vào
cổng trường đại học sinh viên đã thành người thanh niên, đặc biệt là những thanh
niên đến từ các tỉnh thành phố khác, rời khỏi vòng tay của bố mẹ đến một môi
trường xã hội hoàn toàn mới. Phần lớn sinh viên biết tự chủ và định hướng đúng
đắn vị thế quan trọng nhất của mình. Nhưng vẫn còn nhiều bộ phận sinh viên do
13
không có sự quản lí của bố mẹ đã có nhiều hành vi sai lệch trong đó có hành vi
tham gia vào các tệ nạn xã hội.
Nguyên nhân dẫ đến việc sinh viên tham gia vào các tệ nạn xã hội là do thiếu
lớn. Mà đây là lứa tuổi khó bảo vô cùng, ai dạy gì khuyên gì cũng nghe một tai rồi
trôi ra ngoài bằng tai bên kia, cứ nghĩ mình là đúng, làm sai nhưng không biết là
14
mình sai, còn nghĩ rằng người thân không ai hiểu mình, để đi nghe lời người khác
cũng tuổi như mình. Cộng thêm lối sống sinh viên được tự do, sự kiểm soát của gia
đình cũng trở nên lỏng hơn, các bạn lạm dụng sự tự do để làm thỏa mãn những
hành vi theo ý của mình mà không hề có ai ngăn cấm. Nói như Jean Cocteau: “Cái
thảm kịch của giới trẻ, chính là giới trẻ bị đặt vào tình trạng không thể không vâng
lời vì sự tự do quá đáng”. Cũng có nhiều sinh viên có ý nghĩ thi đỗ đại học bước
sang một trang mới nên không cần phải phấn đấu nữa, cả làng chỉ có mấy người đỗ
trường công lập trng đó có mình, như vậy mình đã thành công rồi, thỏa mãn rồi,
phải ăn chơi cho thỏa những ngày học tập vất vả nên sa đà vào các trò chơi, ban
đầu là trò chơi giải trí, xong dấn sâu vào trò chơi có đặt cược cá độ,... Hoặc khi đậu
đại học, không ít người được bố mẹ chiều chuộng, xin gì được nấy, tự coi mình là
vĩ đại, ra xã hội đua đòi với bạn bè, lừa dối bố mẹ để xin tiền ăn chơi. Rồi lối nghĩ
sao mình không thử sống theo kiểu thần tượng của mình, đi đứng, ăn mặc, đầu tóc,
phấn son,...và thế là tự đánh mất mình.
3.4
Nguyên nhân từ những hạn chế bất cập trong công tác đấu tranh phòng
chống tệ nạn xã hội.
Một số nơi, cấp ủy, chính quyền địa phương vẫn chưa thực sự quan tâm đúng
mức đối với công tác phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội; tình hình an ninh, trật
tự tại một số trường học, lĩnh vực còn diễn biến phức tạp, nhất là vấn đề ma túy, cờ
bạc, mại dâm, lô đề...,; tội phạm hình sự được kiềm giảm nhưng vẫn chưa bền
vững, tính chất, hậu quả còn nghiêm trọng; tỷ lệ sinh viên phạm tội, vi phạm pháp
luật ngày càng tăng.
Thứ nhất, nâng cao nhận thức đội ngũ cán bộ, giảng viên , sinh viêntrong
trường về vai trò tầm quantrọng của công tác tư tưởng, đạo đức lối sống cho sinh
viên.
Thứ hai, Cần xác định rõ nội dung giáodục tránh tình trạng chung chung
không có trọng tâm dẫn đến không có hiệu quả.
Thứ ba, khi xác định rõ nội dung thì cần đổi mới rõ phương pháp, hình thức
giáo dục. Tiến hành sơ kết tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm về công tác giáo dục
nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác này.
Chú trọng xây dựng các thiết chế văn hóa, phục vụ các hoạt động vui chơi,
giải trí ngoài giờ học cho sinh viên.
Nâng chất lượng , hiệu quả các hoạt động phong trào văn hóa-văn nghệ- thể
thao, các hoạt động khác trong sinh viên:
Các hoạt động phong trào cần thực chất hơn hiệu quả hơn bằng nhiều hình
thức phong phú đa dạng, sinh động, tránh phô trương rườm rà...
Các cuộc vận động cần đi vào thực chất bằng những hình thức thiết thực và
có cơ chế đánh giá.
Cần thành lập Câu lạc bộ phòng chống tệ nạn xã hội trong sinh viên trường
Đại học LuậtHà Nội.
16
4.2
Tăng cường vai trò trách nhiệm của gia đình và các cơ quan chức năng
bên ngoài nhà trường trong việc giáo dục quản lí sinh viên trường Đại học
Luật Hà Nội.
Về gia đình:
Chuẩn bị tốt hành trang kiến thức tâm líhiểu biết xã hội , kinh nghiệm giao tiếp
4.4
Nâng cao nhận thức, ý thức đấu tranh phê và tự phê bình của sinh viên
trường Đại học luật Hà Nội trong phòng chống các tệ nạn xã hội.
Là sinh viên Luật, mọi người phải có ý thức chấp hành pháp luật hơn, phải rèn
luyện giáo dục tốt, làm chủ bản thân,tránh mọi sự cám dỗ và chăm chỉ học hành,
ngoài ra còn phải tích cực tuyên truyền cho mọi người xung quanh về pháp luật
phòng, chống tệ nạn xã hội.
18
KẾT LUẬN
Tệ nạn xã hội là một vấn đề nhức nhối trong xã hội nói chung và trong sinh
viên trường Đại học Luật nói riêng. Qua việc tìm hiểu và điều tra, khảo sát thực tế
ở trường Đại học Luật Hà Nội, nhóm chúng em thấy rằng sinh viên Đại học luật Hà
Nội đã có nhận thức và thực hiện pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội, qua việc
tìm hiểu và phân tích, chúng em đã tìm ra được nhiều nguyên nhân và thực trạng tệ
nạn xã hội trong trường và đồng thời tìm ra được nhiều biện pháp phòng và chống
tệ nạn xã hội cho sinh viên. Qua đó chúng em mong rằng mọi người đặc biệt là sinh
viên Đại học Luật Hà Nội hãy có nhận đúng đắn về tệ nạn xã hội và có ý thức thực
hiện pháp luật nghiêm chỉnh trong việc phòng chống tệ nạn xã hội cho bản thân và
cộng đồng.“ Hãy chung tay xây dựng một trường học một xã hội văn minh, lành
mạnh, trong sáng không tệ nạn xã hội ”.
19