BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VŨ THỊ PHƯƠNG
TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ BỆNH DO VI RÚT ZIKA
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM
2017 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2011-2017
HÀ NỘI – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VŨ THỊ PHƯƠNG
TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ BỆNH DO VI RÚT ZIKA
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM
2017 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
Sinh viên thực hiện
Vũ Thị Phương
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi : - Phòng Đào tạo đại học – Trường Đại học Y Hà Nội
- Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng
- Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp, năm học 2016 – 2017.
Em xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của em, toàn bộ
số liệu được thu thập và xử lý một cách khách quan, trung thực và chưa được
công bố trong bất kỳ một tài liệu nào khác.
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2017
Sinh viên
Vũ Thị Phương
DANH MỤC VIẾT TẮT
ĐH: Đại học
ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu
SV: Sinh viên
VR: Vi rút
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ..................................................................................................1
3.4. Một số yêu tố liên quan đến tiếp cận thông tin chủ động về bệnh do
virus Zika của sinh viên trường ĐH Y Hà Nội năm học 2016-2017.....37
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN............................................................................39
4.1. Đặc điểm chung của đôi tượng nghiên cứu...........................................39
4.2. Mô tả việc tiếp cận thông tin về bệnh do virus Zika của sinh viên trường
Đại học Y Hà Nội năm học 2016-2017.................................................40
KẾT LUẬN....................................................................................................42
KHUYẾN NGHỊ............................................................................................44
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Các biến số nghiên cứu...................................................................18
Bảng 2.2: Các chỉ số nghiên cứu.....................................................................22
Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu......................................26
Bảng 3.2: Hành vi tìm kiếm thông tin về vi rút Zika theo giới tính................37
Bảng 3.3: Hành vi tìm kiếm thông tin về vi rút Zika theo chuyên ngành.......37
Bảng 3.4: Hành vi tìm kiếm thông tin về vi rút Zika theo năm học................38
Bảng 3.5: Hành vi tìm kiếm thông tin về Zika theo học lực...........................38
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Thời điểm tiếp cận với thông tin về vi rút Zika..........................28
Biểu đồ 3.2: Nguồn tin về Zika mà SV tiếp cận..............................................29
Biểu đồ 3.3: Mức độ có đầy đủ thông tin về bệnh do vi rút Zika của SV.......30
Biểu đồ 3.4: Nhu cầu có thêm thông tin về bệnh do vi rút Zika của SV.........30
Biểu đồ 3.5: Phần thông tin về bệnh do vi rút Zika SV muốn được bổ sung........31
Biểu đồ 3.6: Chủ động tìm kiếm thông tin về bệnh do vi rút Zika của SV.....32
Tháng 4 năm 2016, Bộ Y tế Việt Nam đã công bố ca vi rút Zika đầu tiên ở
Việt Nam, tính đến nay trong vòng 1 năm đã có hơn 216 ca (tài liệu tham
khảo). Với những bệnh lây mới nổi như bệnh do viruts Zika, việc thực hiện
truyền thông trong cộng đồng rất quan trọng để giúp cung cấp thông tin dự
phòng, bảo vệ sức khỏe của nhân dân. Câu hỏi đặt ra là những thông tin này
được truyền thông cho người dân như thế nào và dưới hình thức nào?
Sinh viên y là đối tượng thường xuyên được tiếp xúc với các thông tin
sức khỏe do đặc thù chuyên ngành học tập. Không chỉ vậy, họ còn được giảng
2
dạy và đào tạo một cách khoa học, bài bản về sức khỏe, bệnh tật. Những
nguồn thông tin sức khỏe mà họ thường xuyên tiếp xúc vô cùng phong phú,
đa dạng: các chuyên gia, nhân viên y tế, thầy cô, bạn học, thư viện, internet,
bệnh nhân… Với sinh viên Y, việc tự học giữ vị trí vô cùng quan trọng.
Không chỉ thu hẹp trong việc học tập trên giảng đường hay bênh viện, sinh
viên còn cần phải tích cực tự tìm hiểu, bổ sung các kiến thức về sức khỏe để
phục vụ cho việc học tập hiện tại. Bên cạnh đó, sinh viên y sẽ là cán bộ y tế
trong tương lai, sẽ tham gia vào hoạt động điều trị và dự phòng chăm sóc sức
khỏe cho nhân dân. Do vậy, cập nhật kiến thức cho bản thân về các thông tin
liên quan đến vấn đề sức khỏe đang tồn tại hoặc các vấn đề sức khỏe mới nổi
rất quan trọng trong việc điều trị cho bệnh nhân và bảo vệ sức khỏe của cộng
đồng.
Thông thường với các vấn đề sức khỏe tồn tại đã lâu hay phổ biến, sinh
viên có thể dễ dàng tìm kiếm hay tiếp cận trong quá trình học tập. Vậy với các
bệnh mới nổi, cụ thể là bệnh do viruts Zika, trong cộng đồng và chưa được
cập nhật, giới thiệu đầy đủ trong chương trình học tập và giảng dạy, sinh viên
Y có quan tâm tìm kiếm những thông tin về các bệnh mới nổi không? Họ
thường tìm kiếm thông tin như thế nào? Có những yếu tố gì ảnh hưởng tới
lại thu được thông tin ở đó
1.2. Tiếp cận thông tin sức khỏe
1.2.1. Khái niệm tiếp cận thông tin sức khỏe
Tiếp cận thông tin sức khỏe là phạm trù đã được nhắc tới từ rất lâu tuy
nhiên hiện nay vẫn chưa có định nghĩa chính thức và chính xác tuyệt đối.
Theo Johnson (1993) , tiếp cận thông tin có thể được định nghĩa là "việc
nhận được thông tin có chủ đích từ các thông tin được lựa chọn" . Đặt
trong bối cảnh sức khỏe, nó có thể hiểu là sự phân loại các thông tin mà
họ tìm được là có ích hay không . Nó bao gồm tất cả các hình thức chủ
động và thụ động tiếp nhận các thông tin về sức khỏe hay y tế thông qua
mạng lưới nguồn cung cấp phong phú và một quá trình quan trọng để mọi
người có được một sức khỏe tốt, tránh được các yếu tố nguy cơ và bệnh
tật hay khi đã mắc bệnh có thể tìm ra các hướng chẩn đoán, điều trị, tiên
lượng và phục hồi chức năng .
4
1.2.2. Mô hình lý thuyết tìm kiếm thông tin sức khỏe
Mô hình Wilson 1981 là mô hình tìm kiếm thông tin sức khỏe rút ra từ
các nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác ngoài khoa học thông tin, bao gồm
cả việc ra quyết định, tâm lý học, sự đổi mới, truyền thông sức khỏe và
nghiên cứu người tiêu dùng. Mô hình dựa trên hai mệnh đề chính đó là: nhu
cầu cơ bản và nỗ lực khai thác thông tin nhằm thỏa mãn nhu cầu. Xét về tâm
lý học, Wilconson cho rằng, nhu cầu cơ bản là tâm lý, nhận thức và ông cũng
chú ý tới bối cảnh khi ai đó tìm kiếm thông tin cho bản thân họ. Ông đã chỉ ra
nhu cầu thông tin được phát sinh như thế nào và những gì có thể cản trở, hỗ
trợ, liên quan tới hành vi tìm kiếm thông tin trong thực tế, điều đó được thể
hiện trong sơ đồ sau:
Tổ chức
cá nhân
Môi
trường
Đặc điểm
nguồn tin
Xử lý và sử dụng thông tin
Hành vi
tìm kiếm
thông tin
Tìm kiếm
Thuyết
học thức
xã hội
Năng lực
bản thân
thụ động
Hành vi
thụ động
Tiếp tục
tìm kiếm
5
Wilson cũng đã đưa ra một số khái niệm về tìm kiếm thông tin như sau:
- Chú ý thụ động: chẳng hạn nghe radio hoặc xem chương trình truyền
các yếu tố có tác động đến niềm tin và giúp thay đổi hành vi sức khỏe lành
mạnh. Tiếp cận thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung kiến thức
và thay đổi hành vi.
Mô hình niềm tin sức khỏe là được phát triển vào năm 1950 bởi các
nhà tâm lý học xã hội tại dịch vụ y tế công của Mỹ, là một trong những lý
thuyết nổi tiếng nhất và được sử dụng rộng rãi nhất trong lĩnh vực thay đổi
hành vi sức khỏe. Mô hình đã được bổ sung sửa đổi năm 1988, được áp dụng
để dự đoán một loạt các hành vi sức khỏe .
7
Sơ đồ 1.2: Mô hình niềm tin sức khỏe.
Nguyên lý của mô hình này là cách một người nhận thức thế giới quan
và những nhận thức này làm động cơ để thay đổi hành vi của người đó như
thế nào. Những cá nhân tự đánh giá những lợi ích của việc thay đổi hành vi và
tự quyết định có hành động hay không. Mô hình niềm tin sức khỏe (HBM)
xác định 4 mặt của sự đánh giá này: Sự nhạy cảm hiểu được về sức khỏe kém;
Hiểu được mức độ nghiêm trọng của sức khỏe; Hiểu được lợi ích của thay đổi
hành vi; Hiểu được những trở ngại của việc hành động. Khi có kiến thức tốt
thì có thể sẽ giúp cho thay đổi hành vi tuy nhiên đôi khi kiến thức thay đổi
nhưng hành vi vẫn chưa thay đổi nhưng đa phần là có kiến thức mới thay đổi
hành vi .
Năm 1992, các nhà tâm lý đã phát triển lý thuyết về “Các giai đoạn thay
đổi” bao gồm 4 giai đoạn: tiền suy nghĩ, suy nghĩ, giai đoạn chuẩn bị cho
hành động, hành động và suy trì đã được xác định và trình bày như một quá
8
nhiễm chủ yếu là qua các phương tiện thông tin đại chúng (đài, báo, tivi..), vị
thành niên được tiếp nhận thông tin từ nhà trường, từ cơ sở y tế chiếm một tỷ
lệ ít hơn . Sinh viên y là những nhân viên y tế trong tương lai, là người trực
tiếp chăm sóc sức khỏe cũng như tư vấn cho người bệnh, đồng thời cũng là
những người có nguy cơ cao bị lây nhiễm, do vậy, việc tiếp cận, cập nhật và
tiếp thu những thông tin sức khỏe mới là vô cùng quan trọng. Việc nhận thức
được những vấn đề sức khỏe mới, không chỉ giúp sinh viên tự bảo vệ cho bản
thân, tư vấn cho bạn bè, người thân mà còn giúp cho sinh viên có nền tảng
kiến thức vững chắc trong việc thực hành cũng như điều trị, tư vấn cho bệnh
nhân sau này. Vì vậy, nghiên cứu tiếp cận thông tin sức khỏe của sinh viên y
là vô cùng cần thiết và quan trọng.
Hiện nay, virus Zika là một bệnh truyền nhiễm mới nổi, đang trở thành
nỗi kinh hoàng trên toàn cầu vì những hậu quả nặng nề mà loại virus này
mang lại . Virus Zika được lây truyền qua vết cắn của muỗi Aedes bị nhiễm,
được phát hiện đầu tiên trong năm 1947 tại Uganda, ổ dịch bệnh do vi rút
Zika được báo cáo lần đầu tiên ở Thái Bình Dương vào năm 2007 ở Yap,
Polynesia Pháp vào năm 2013 và các nước châu Mỹ (Brazil và Colombia),
châu Phi (Cape Verde) năm 2015. Ngoài ra, hơn 13 quốc gia ở châu Mỹ đã
báo cáo các trường hợp lẻ tẻ nhiễm virus Zika, điều đó cho thấy sự mở rộng
địa lý nhanh chóng của virus Zika. . Tuy chưa có nghiên cứu chính thức
nhưng theo các chuyên gia, virus Zika được cho là nguyên nhân hàng đầu dẫn
đến tình trạng dị tật bẩm sinh thai nhi, điển hình là tình trạng đầu và não teo
nhỏ bất thường . Hiện nay, WHO đã tuyên bố tình trạng y tế khẩn cấp toàn
cầu do diễn biến phức tạp và tốc độ lây lan nhanh của bệnh . Theo Cục Y tế
dự phòng, trong thời gian quan đã phát hiện ra một số tỉnh có chẩn đoán ca
bệnh nhiễm virus Zika, đặc biệt trong thời gian gần đây, số ca mắc có tăng tại
thành phố Hồ Chí Minh với trên 200 ca. Cục Y tế dự phòng cũng đã nhận
11
Cũng có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa tuổi (p=0,005) và công việc
(p=0,015) và thảo luận với những người khác như gia đình, người thân hay
gần bạn bè để đáp ứng thông tin y tế. Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm thấy
một mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố nhân khẩu học xã hội
khác chẳng hạn như giới tính và giáo dục với thảo luận với những người khác
người như gia đình, bạn bè và sử dụng Internet (p> 0,005)
Nghiên cứu về các vấn đề sức khỏe ưu tiên và việc sử dụng các nguồn
thông tin sức khỏe trên sinh viên của Yan Zhang cho thấy: Các đối tượng
tham gia nghiên cứu cho rằng Internet, cụ thể là các trang web tìm kiếm và
các trang web về sức khỏe là nguồn thông tin y tế rất quan trọng. Bên cạnh
đó, phù hợp với những phát hiện của các nghiên cứu trước đó, bác sĩ và
những người chăm sóc sức khỏe được xếp là nguồn cung cấp thông tin y tế
quan trọng nhất. Các mối quan hệ xã hội của người tham gia, đặc biệt là với
các thành viên trong gia đình và một người nào đó, chủ yếu là bạn bè, cũng
được coi là quan trọng. Mặc dù các phương tiện truyền thông truyền thống, cụ
thể là tài liệu in (sách, báo, tạp chí, và các tờ rơi) và phương tiện truyền thông
đại chúng (TV) được xếp hạng thấp hơn nhưng vẫn được ưa chuộng. Về tiêu
chí lựa chọn và sử dụng nguồn thông tin thì khả năng tiếp cận, nội dung bản
quyền là những tiêu chí được sử dụng rộng rãi nhất, tiếp theo là sự tin cậy và
khả năng sử dụng. Nguồn tin được tiếp cận nhiều hơn khi các nguồn tin này
có sẵn (ví dụ như các công cụ tìm kiếm và liên kết trực tuyến) hoặc trong
khoảng cách thích hợp ( ví dụ như thư viện và cha mẹ) và có thể tiến hành
trong khoảng thời gian chấp nhận được ( ví dụ một cuộc hen với bác sĩ hoặc
bạn bè) .
Một nghiên cứu về sinh viên đại học tại các nước đang phát triển về “
thông tin sức khỏe được tìm ở đâu “ cho thấy: 85,7% sinh viên đại học đã tìm
thông tin sức khỏe chủ yếu là từ Internet. Internet là sự lựa chọn hàng đầu của
sẽ hỏi một người bạn hoặc thành viên gia đình, 57% sử dụng sách hoặc tài
13
liệu tham khảo đã in khác, 33% liên hệ với nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm
của họ, 5% sử dụng một nguồn khác không được đề cập trong danh sách, 61%
tìm kiếm thông tin y tế trực tuyến .
Một nghiên cứu trên 94.806 sinh viên tại 117 trường cao đẳng và đại học
cho 4 nguồn thông tin sức khỏe có thể tin cậy nhất được chỉ ra là các nhân
viên y tế tại trung tâm y tế, các giảng viên y tế , khoa hoặc môn học và các
bậc cha mẹ. Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể trong nhóm phụ nữ, đặc biệt
là trong việc sử dụng cha mẹ làm nguồn thông tin sức khoẻ. Các tác giả kết
luận rằng thông tin về việc sử dụng và tin tưởng các nguồn thông tin sức khoẻ
có thể giúp các trường cao đẳng thiết kế các chiến dịch thông tin y tế có hiệu
quả hơn
Một báo cáo của sinh viên đại học Hoa Kỳ về việc nhận được các thông
tin y tế tại trường cao đẳng cho thấy: các cơ sở giáo dục đại học là môi trường
thuận lợi để thúc đẩy các hành vi lành mạnh bằng cách giáo dục sức khỏe cho
sinh viên, tuy nhiên chỉ có khoảng gần ¾ sinh viên báo cáo họ nhận được thông
tin về ít nhất một chủ đề về sức khỏe và chỉ có khoảng 6% đã nhân được thông
tin về tất cả các chủ đề được kiểm tra [6]. Một nghiên cứu khác về nguồn và sự
tin cậy của các thông tin liên quan đến sức khỏe ở sinh viên cho thấy: khảo sát
1202 sinh viên cho thấy 46% mẫu không nhận được bất kì thông tin gì, trong khi
chỉ có 0,5% nhận được tất cả các thông tin về tất cả các chủ đề sức khỏe. Internet
là nguồn phổ biến nhất của thông tin liên quan đến sức khỏe nhưng trái lại được
coi là nguồn ít tin cậy nhất, nhân viên y tế và giảng viên được coi là nguồn đáng
tin cậy nhất tuy nhiên lại ít phổ biến hơn .
Từ các nghiên cứu cho thấy, các nghiên cứu chủ yếu là tìm hiểu về tiếp
cận thông tin sức khỏe chủ động với chủ đề sức khỏe nói chung. Các nguồn
Sơ đồ 1.3: Quá trình truyền tin
Trong đó:
Nguồn: là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình
truyền thông.
Kênh truyền tin: là các phương tiện, con đường, cách thức chuyển tải
thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận.
15
Nơi nhận tin là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong
quá trình truyền thông
Nghiên cứu này sẽ được tiến hành trên sinh viên trường đại học Y Hà
Nội. Do vậy, nguồn nhận tin trong nghiên cứu này chính là sinh viên trường
đại học Y Hà Nội. Các yếu tố nguồn phát tin có thể là nhân viên y tế, gia đình,
bạn bè/hàng xóm, giảng viên đại học, tivi, radio, Internet, thư viện/sách báo
chuyên ngành y, loa phát thanh thôn xóm, tổ dân phố, sách/ tạp chí/tờ rơi..
16
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang.
1.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là sinh viên năm thứ nhất, thứ ba và thứ năm hệ