Quản lý hành chính nhà nước trong khoa học công nghệ ở việt nam hiện nay (bản chỉnh sửa) - Pdf 45

Chuyên đề: Quản lý hành chính nhà nước trong
k h o a h ọ c – c ô n g n g h ệ ở Vi ệ t N a m h i ệ n n a y

Nhóm thực hiện: Nhóm 3
GVHD: thầy Vũ Văn Tuấn


Bố cục

I.
II.

Đặt vấn đề
Nội dung
1. Định nghĩa
2. Đặc điểm
3. Tiêu chuẩn trong quản lý hành chính nhà nước về
4. Một số vấn đề yếu kém trong quản lý KH – CN

III. Kết luận
IV. Tài liệu tham khảo

KH – CN


I. Đặt vấn đề
Vấn đề về quản lý hành chính trong khoa học công nghệ (KH – CN) có rất nhiều nội dung: hoạt động KH – CN; phát triển tiềm
lực KH - CN; sở hữu trí tuệ; tiêu chuẩn đo lường chất lượng; năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân; quản lý Nhà nước các
dịch vụ công trong lĩnh vực KH - CN…
Nhưng tất cả các đối tượng được quản lý trên đều là yếu tố thúc đẩy, duy trì, giúp nhà nước kiểm soát và giữ công bằng, minh
bạch cho 1 đối tượng duy nhất: hoạt động KH - CN. Đây cũng là vấn đề được đặt lên hàng đầu trong quản lý, là hình thức mà qua

Tính mới: Chưa có trước đó

+Tính chấp hành thể  hiện  ở  mục đích QLHCNN:đảm bảo thực hiện trên thực tế các văn bản pháp
luật của các cơ quan quyền lực NN.
+Tính điều hành QLHCNN thể hiện ở chỗ: để đảm bảo
 cho các văn bản pháp luật của các cơ quan quyền lực 
nhà nước được thực hiện trên thực tế.

Quản lý HCNN là hoạt động mang quyền lực NN:
+Quyền lực nhà nước trong quản lý hành chính nhà nước trước hết thể hiện qua phương tiện cơ bả
n là văn bản quản lý hành chính nhà nước .
+ Quyền lực nhà nước còn thể hiện trong việc các chủ thể
có quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo
 đảm thực  hiện ý chí nhà nước: biện pháp về tổ chức, về kinh
tế, tuyên truyền giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế … 

Tính tin cậy: do được kiểm chứng


quyền năng hành pháp.

-Tính thông tin: Thông qua các sản phẩm khoa học
-Tính khách quan

Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có có tính thống nhất và được

- Tính rủi ro: Do giả thiết, nhà nghiên cứu, phương tiện,...

Quản lý hành chính NN là hoạt động được tiến hành bởi những chỉ thể có




Ví dụ: Nguyên tắc quản lý đề tài nghiên cứu cấp trường tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chỉ trong nguyên tắc quản lý dưới đây chúng ta có thể thấy một số bất cập:
Đề tài cấp trường được phân cấp cho các đơn vị, căn cứ vào lượng kinh phí hằng năm và hướng phát
triển của Trường; Lãnh đạo các đơn vị có trách nhiệm xét thành lập và tổ chức Hội đồng xét chọn, kiểm tra
giám sát và đánh giá kết quả nghiệm thu đề tài.
Đề tài cấp trường được Hiệu trưởng ký và ra quyết định phê duyệt thuyết minh và giao cho tổ chức, cá
nhân thực hiện.
Các cá nhân đăng ký làm chủ nhiệm là cán bộ có trình độ từ đại học trở lên, có chuyên môn phù
hợp với lĩnh vực nghiên cứu của đề tài. (Lưu ý:- Tiến sỹ, Phó Giáo sư trở lên không được tham gia xét chọn
đề tài cấp Trường)
Mỗi đề tài chỉ được phép 01 chủ trì và 03 người tham gia; không có TS hoặc đồng chủ nhiệm và phó
chủ nhiệm, mỗi cá nhân chỉ được chủ nhiệm 1 đề tài cấp trường trong cùng một thời gian và đã nghiệm thu đề
tài/dự án các cấp được giao trong thời gian trước.
Thời gian thực hiện đề tài cấp trường không quá 12 tháng tính từ khi được phê duyệt và cấp kinh
phí thực hiện (Đối với chuyên ngành Kinh tế - Sư phạm và Xã hội kinh phí tối thiểu 20 triệu đồng/đề tài và
chuyên ngành về kỹ thuật tối thiểu 30 triệu đồng/đề tài)


=>

Chưa thấy trường phân loại ra nghiên cứu nào trong giai đoạn triển khai, nghiên cứu nào trong giai đoạn ứng dụng,…

Trong khi việc chưa thống nhất tiêu chuẩn cho việc xác định giá trị của nghiên cứu thì việc giới hạn thời gian ở đây cũng chỉ là hệ lụy.
Đề tài xã hội thường sẽ có nhiều phát sinh về tài chính hơn trong quá trình điều tra, việc khai báo tình hình hoạt động thường xuyên để
nhà trường cấp kinh phí sẽ rất rườm rà, gây khó khăn cho người nghiên cứu. (Quy trình cụ thể quản lý đề tài cấp trường, phòng Khoa học và Công nghệ, trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội)

=>

Quản lý cán bộ theo chế độ công chức không phù hợp với hoạt động KH - CN
VD: Trong nguyên tắc quản lý đề tài cấp trường ở trên, có thực sự phải tuân thủ việc phải “có chuyên môn phù hợp với
lĩnh vực nghiên cứu của đề tài”?
Có một thực tế được thầy Vũ Cao Đàm tổng hợp và nhận xét về vấn đề quản lý đào tạo tín chỉ của ta: “… ở các
nước người ta mở rất rộng cửa cho sự di động xã hội (social mobility) giữa các ngành khoa học. Trong một công trình
nghiên cứu của mình, Đào Thanh Trường, chủ nhiệm Bộ môn Quản lý KH&CN của Trường đại học KHXH&NV,
ĐHQGHN đã đưa ra được một thống kê thú vị của Hàn Quốc, sự di động xã hội trong khoa học xã hội là 35%, trong
khi trong khoa học tự nhiên chỉ là 5%. Xét theo quan điểm khoa học luận (Theory of science), thì sự di động xã hội
trong khoa học chính là con đường mở ra những ngành khoa học mới. Suy ra: khống chế quá chặt chẽ “mã ngành đào
tạo” chính là ngăn chặn sự di động xã hội trong khoa học, nói cách khác, đó là một cách kìm hãm sự phát triển khoa
học.” (Bàn về hội nhập khoa học, Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, số 216, 2009, tr 31, 32)
Tất nhiên, với một đề tài cấp trường đã được xác định cụ thể phạm vi, phương pháp, nội dung nghiên cứu thì việc
có chuyên môn phù hợp là cần thiết. Nhưng đối với một đề tài xã hội rộng lớn, có giá trị nâng cao tri thức, một công
việc như làm chính trị đòi hỏi có kiến thức khoa học xã hội uyên thâm, nhiều lĩnh vực… thì liệu có thể áp dụng tiêu
chuẩn trên?


Cơ chế quản lý tài chính và thị trường KH – CN chậm phát triển
Có thể xuất phát từ một số nguyên nhân sau:

-

Thứ nhất, bản thân nhu cầu đầu tư cho KH&CN của các doanh nghiệp chưa lớn. Việt Nam chủ trương áp dụng mô hình tăng
trưởng kinh tế theo chiều rộng, trong đó các ngành cần nhiều vốn, lao động được chú trọng => Lợi thế cạnh tranh được tạo dựng
nên từ chi phí lao động thấp chứ không phải chất lượng sản phẩm.

-

Thứ hai, khách quan hơn, một trong những nguyên nhân dẫn đến việc các doanh nghiệp Việt Nam chưa đầu tư mạnh cho
KH&CN liên quan đến trình độ phát triển của nền kinh tế và quy mô của doanh nghiệp, cho dù có nhu cầu đi chăng nữa. Theo



III. Kết luận
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc ứng dụng tri thức khoa học- công nghệ là rất quan trọng đối
với việc đưa Việt Nam sánh vai với sự phát triển của nhân loại. Để làm được việc đó, tất yếu đòi hỏi có sự quản
lý hiệu quả của Nhà nước. Một biểu hiện rõ nét trong việc đưa vai trò quản lý hành chính của Nhà nước vào
trong khoa học- công nghệ đó là Luật sở hữu trí tuệ, nhằm đảm bảo quyền sở hữu tối thiểu của mọi chủ thể đối
với sản phảm khoa học- công nghệ được Pháp luật bảo vệ.
Tuy nhiên, một hoạt động quan trọng như quản lý hành chính Nhà nước trong khoa học- công nghệ ở Việt
Nam cũng không tránh khỏi những hạn chế, yếu kém nhất định xuất phát từ nhiều nguyên nhân kể cả chủ quan,
lẫn khách quan mà cần thiết phải có sự điều chỉnh hợp lý, hiệu quả từ các cấp lãnh đạo Nhà nước trong lĩnh vực
quản lý hành chính đối với khoa hoc- công nghệ.


IV. Tài liệu tham khảo
1.

Vũ Cao Đàm, Tiếp tục tiến trình cải cách chính sách và khoa học công nghệ ở nước ta, CSDL PICMS Thông tin hỏi – đáp phục
vụ DBQH của Phòng thông tin, trung tâm Thông tin – TV – NCKH, Văn phòng Quốc hội.

2.
3.

Nguyên tắc quản lý đề tài nghiên cứu cấp trường tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Đề tài cấp trường (hua.edu.vn).

4.

Bàn về hội nhập khoa học, Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, số 216, 2009, tr 31, 32

Thực trạng khoa học công nghệ Việt Nam, Hoạt động khao học và công nghệ - Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, Bộ Khoa học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status