Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Nam Định (Luận án tiến sĩ) - Pdf 45

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

NGUYN TH MIN

PHáT TRIểN NÔNG NGHIệP THEO HƯớNG BềN VữNG
ở TỉNH NAM ĐịNH

LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: KINH T PHT TRIN

H NI - 2017


HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

NGUYN TH MIN

PHáT TRIểN NÔNG NGHIệP THEO HƯớNG BềN VữNG
ở TỉNH NAM ĐịNH

LUN N TIN S
CHUYấN NGNH : KINH T PHT TRIN
Mó s: 62.31.01.05

Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS. NGUYN TH THM

H NI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của

3.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Nam
Định giai đoạn 2006 - 2016...............................................................................68
3.3. Đánh giá chung về phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh
Nam Định giai đoạn 2006 - 2016......................................................................95
Chƣơng 4: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
THEO HƢỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH NAM ĐỊNH ĐẾN NĂM 2030 .....117

4.1. Bối cảnh mới và định hướng phát triển nông nghiệp theo hướng bền
vững ở tỉnh Nam Định đến năm 2030 ............................................................117
4.2. Giải pháp cơ bản nhằm phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở
tỉnh Nam Định đến năm 2030.........................................................................125
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 151
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ CỦA
TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ................................................. 153
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 153
PHỤ LỤC ................................................................................................................166


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ATVSTP
BĐKH
BVMT
BVTV
CCKT
CĐLK
CĐML
CMKT
CNCB
CNH,HĐH

: Chuyên môn kỹ thuật
: Công nghiệp chế biến
: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
: Đồng bằng sông Hồng
: Doanh nghiệp
: Đào tạo nghề
: Giao thông nông thôn
: Giá trị sản xuất
: Hợp tác xã
: Kết cấu hạ tầng
: Khoa học và công nghệ
: Khoa học công nghệ
: Khoa học kỹ thuật
: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
: Năng suất lao động
: Nông thôn mới
: Nuôi trồng thủy sản
: Ô nhiễm môi trường
: Phát triển bền vững
: Phát triển nông nghiệp
: Sản xuất nông nghiệp
: Thu nhập bình quân
: Tài nguyên thiên nhiên
: Ủy ban nhân dân
: Tổ chức Thương mại Thế giới


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Bộ chỉ tiêu đánh giá phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
ở địa bàn cấp tỉnh .....................................................................................43

Định theo giá hiện hành giai đoạn 2006-2016 ....................................74
Biều đồ 3.8: Cơ cấu GTSX (%) ngành chăn nuôi Nam Định giai đoạn 2006-2016 .......76
Biểu đồ 3.9: Chuyển dịch cơ cấu GTSX ngành thủy sản Nam Định giai đoạn
2006-2016 ........................................................................................... 77
Biểu đồ 3.10: TNBQ/người/năm của nhân khẩu nông nghiệp Nam Định theo
giá hiện hành giai đoạn 2006-2016.....................................................83
Biểu đồ 3.11: TNBQ/người/năm theo giá hiện hành giữa nông nghiệp, phi
nông nghiệp và thành thị Nam Định giai đoạn 2006-2016 ................85
Biểu đồ 3.12: Giá trị sản phẩm thu được/ha đất nông nghiệp Nam Định giai
đoạn 2006 - 2016 ................................................................................87
Biểu đồ 3.13: Diện tích rừng ngập mặn và tốc độ giảm diện tích rừng ngập
mặn của Nam Định giai đoạn 2006-2016 ...........................................94
Hình 2.1: Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ...........................................31


1
MỞ ĐẦU
Nông nghiệp là ngành kinh tế có vị trí đặc biệt trong nền kinh tế thị trường
hiện đại. Mặc dù ngày càng chiếm tỷ trọng nhỏ hơn trong cơ cấu GDP, song ý nghĩa
và tầm quan trọng của ngành nông nghiệp không ngừng tăng lên. Ngoài cung cấp
lương thực, thực phẩm nuôi sống con người, nông nghiệp còn cung cấp nguyên liệu
cho nhiều ngành kinh tế khác. Đối với các nước đang thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa (CNH, HĐH) như Việt Nam, nông nghiệp còn góp phần quan trọng vào
tạo việc làm, tạo thu nhập cho đại bộ phận dân cư và xóa đói giảm nghèo. Nông
nghiệp thực hành tốt góp phần giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường
(BVMT) và sự đa dạng sinh học.
Sau 30 năm đổi mới và phát triển, nông nghiệp Việt Nam ngày càng khẳng
định vị thế của mình với việc cung cấp sinh kế trực tiếp cho 8,61 triệu hộ nông, lâm,
thủy sản [6, tr.17], tạo việc làm cho 44% lao động (trên 23 triệu người) [106, tr.138],
đóng góp trên 17% GDP cho nền kinh tế [106, tr.170] và gần 20% giá trị xuất khẩu.

làm thoái hóa đất nông nghiệp ngày càng gia tăng, xâm nhập mặn ngày càng lấn sâu
nội đồng, đa dạng sinh thái ngày càng suy giảm nên SXNN của Tỉnh không hiệu quả,
kém bền vững, chưa đảm bảo cuộc sống cho nông dân. Những bất cập đó khiến cho
một bộ phận nông dân không thiết tha với đồng ruộng, tình trạng ruộng đất bị bỏ hoang
ngày càng tăng và đến vụ xuân năm 2016 có 83 xã, thị trấn với 950 ha tập trung ở các
huyện Ý Yên, Trực Ninh, Nam Trực, Mỹ Lộc [3]. Vì vậy, cần phải tìm ra cách thức sản
xuất mới để ngành nông nghiệp của Tỉnh khai thác được tiềm năng, lợi thế phát triển
hiệu quả và bền vững.
Nhận thức được tình hình trên, Nam Định đã ban hành chính sách khuyến
khích doanh nghiệp (DN) đầu tư vào nông nghiệp; hỗ trợ tổn thất trong sản xuất
nông, thủy sản; khuyến khích ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ (KHCN) vào
SXNN; thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
và phát triển bền vững (PTBV)… Tuy nhiên, kết quả thực hiện chưa đáp ứng được
yêu cầu đặt ra.
Để góp phần vào giải quyết vấn đề này, cần có những nghiên cứu cơ bản về
lý luận, tìm hiểu kinh nghiệm thực tiễn và phải có những phân tích đánh giá thực
trạng, từ đó phát hiện ra các nguyên nhân, tìm kiếm giải pháp để ngành nông nghiệp
của Tỉnh phát triển theo hướng bền vững. Vì vậy, nghiên cứu sinh chọn đề tài:
“Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Nam Định” làm luận án tiến
sỹ kinh tế, chuyên ngành Kinh tế phát triển vừa có tính cấp thiết cả về lý luận và
thực tiễn.


3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp (PTNN) theo hướng bền vững ở
tỉnh Nam Định giai đoạn 2006 - 2016 và đề xuất giải pháp thúc đẩy PTNN theo
hướng bền vững ở tỉnh Nam Định đến năm 2030.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Về thời gian: Đề tài luận án nghiên cứu thực trạng PTNN theo hướng bền
vững trên địa bàn tỉnh Nam Định giai đoạn 2006 - 2016, đề xuất giải pháp phát triển
ngành nông nghiệp theo hướng bền vững của tỉnh đến năm 2030.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận về PTBV đã được Hội nghị
thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazin)
năm 1992 và Hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV tổ chức ở Johannesburg (Cộng
hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định: PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp
chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt phát triển kinh tế, xã hội và môi trường. Dựa
trên cơ sở đó, luận án nghiên cứu PTNN theo hướng bền vững dưới ba góc độ kinh
tế, xã hội và môi trường. Ngoài ra, luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước Việt Nam về PTBV nói chung, PTNN theo hướng bền vững nói
riêng; chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, PTNN của tỉnh Nam Định. Đồng thời,
luận án kế thừa những lý thuyết kinh tế hiện đại như PTNN trong điều kiện BĐKH,
hội nhập quốc tế, chuỗi giá trị và giá trị gia tăng, quan hệ giữa nông nghiệp với công
nghiệp và dịch vụ v.v..
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng
Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử Mác - Lênin để nghiên cứu. Ngoài ra, luận án sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu khác, trong đó chủ yếu là phương pháp phân tích, tổng hợp, thống
kê, so sánh… Đồng thời để có thêm các thông tin liên quan đến PTNN theo hướng
bền vững ở tỉnh Nam Định, NCS sử dụng phương pháp điều tra thu thập thông tin
bằng bảng hỏi dành cho 50 cán bộ ở các chi cục thuộc sở Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn (NN&PTNT) Nam Định, như: Chi cục Thủy sản, Chi cục Kiểm lâm, Chi
cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm và Thủy
sản, Chi cục Chăn nuôi thú Y; một số cán bộ thuộc phòng NN&PTNT các huyện


TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được
công bố liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận án. Các công trình đã đạt được
những kết quả nhất định, là cơ sở để định hướng cho nghiên cứu tiếp theo của luận án.
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1.1. Những công trình nghiên cứu lý luận về phát triển nông nghiệp
theo hƣớng bền vững
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu về khái niệm, nội dung và chỉ tiêu đánh
giá phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
Tùy từng giai đoạn phát triển, tùy từng góc độ tiếp cận, các nhà nghiên cứu
có quan niệm khác nhau về PTNN theo hướng bền vững, theo đó, khái niệm PTNN
theo hướng bền vững cũng có nội dung và chỉ tiêu đánh giá khác nhau. Có thể kể
đến một số công trình tiêu biểu sau:
Những năm 90 của thế kỷ XX, SXNN ở các quốc gia đang phát triển tiêu tốn
nhiều nguồn lực (đất đai, nguồn nước, lao động), gây ONMT song năng suất thấp,
chưa đảm bảo cuộc sống của dân cư nông nghiệp. Trước vấn đề đặt ra của PTNN thời
kì đó, các công trình nghiên cứu về PTNN đã hướng vào vấn đề BVMT đất, nước và
khởi xướng PTNN theo hướng bền vững. Mục đích của PTNN theo hướng bền vững
là nhằm kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo tồn, duy trì hệ sinh thái trong
SXNN để thỏa mãn nhu cầu của con người. Vì vậy, có nhiều khái niệm về PTNN theo
hướng bền vững đã được đưa ra. Chẳng hạn, TAC/CGIARC (Ban cố vấn kỹ thuật
thuộc nhóm chuyên gia quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp của Liên hợp quốc) đưa ra
quan niệm: Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững phải bao hàm quản lý thành
công tài nguyên thiên nhiên (TNTN) nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người đồng thời
cải tiến chất lượng môi trường và gìn giữ được TNTN [70, tr.12]. Quan niệm này chỉ
ra, PTNN theo hướng bền vững cần bảo tồn và phát triển TNTN.
Tổ chức Lương thực của Liên hiệp Quốc (FAO) (1990) trong “World Food

nghiệp bền vững cơ sở và ứng dụng” [68, tr.8] đã chỉ ra: “Nông nghiệp bền vững
không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái đã có trong tự nhiên mà còn tìm cách khôi phục
những hệ sinh thái đã bị suy thoái”. Quan niệm này chỉ ra, PTNN theo hướng bền
vững, ngoài việc bảo vệ hệ sinh thái hiện có còn phải phục hồi, tái tạo những hệ sinh
thái trong tự nhiên đã bị suy thoái.


8
Tác giả Vũ Đình Thắng và cộng sự (2006) trong “Giáo trình Kinh tế nông
nghiệp” cho rằng, phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững là khả năng duy trì
hay tăng thêm năng suất và sản lượng nông sản trong một thời gian dài mà không
ảnh hưởng xấu đến điều kiện sinh thái. Đồng thời, các tác giả cũng cho rằng, nông
nghiệp bền vững chỉ có ý nghĩa tương đối, con người cần phải điều chỉnh để lập nên
một thế bền vững mới [93, tr.32].
Ngoài ra, các công trình nghiên cứu của một số tổ chức và cá nhân trong các hội
nghị, hội thảo cũng đưa ra quan niệm về PTNN theo hướng bền vững, như: “Phát triển
nông nghiệp theo hướng bền vững phải bao hàm quản lý thành công TNTN nhằm thỏa
mãn nhu cầu của con người đồng thời cải tiến chất lượng môi trường và gìn giữ được
TNTN” [70, tr.12]; hoặc: sản xuất nông nghiệp bền vững là chúng ta cần chọn một biện
pháp sản xuất để cây trồng, vật nuôi của chúng ta tiếp tục cho mỗi năm một lãi, chất
lượng nguồn nước và đất đai hàng năm vẫn được duy trì tốt để thế hệ con cháu chúng
ta tiếp tục được hưởng cái lợi từ đất và môi trường nước v.v... [55]. Quan niệm về
SXNN theo hướng bền vững như trên cũng đã đề cập đến vấn đề kinh tế, môi trường và
xã hội trong quá trình phát triển.
Như vậy có thể thấy, trong từng giai đoạn, trước yêu cầu thực tiễn phát triển
của ngành nông nghiệp đặt ra, quan niệm về PTNN theo hướng bền vững có sự khác
nhau nhất định, song về cơ bản đã nhấn mạnh đến giải quyết hợp lý, chặt chẽ, hài
hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng nông nghiệp với BVMT và cải thiện cuộc sống
con người. Các nghiên cứu này mới dừng lại ở quan niệm, chưa đưa ra chỉ tiêu đánh
giá PTNN theo hướng bền vững.

chung, của từng ngành riêng biệt, hoặc của từng sản phẩm cụ thể; (v) Giá trị sản xuất
tính trên 1 ha đất nông nghiệp; (vi) Giá trị sản xuất do 1 lao động tạo ra; (vi) Cơ cấu
giữa các ngành của SXNN. Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc và hiệu quả tăng trưởng của
ngành nông nghiệp chưa được bàn đến. Còn bền vững về xã hội đó là nâng cao thu
nhập cho người dân và đảm bảo tính công bằng trong việc hưởng thụ các thành quả do
phát triển mang lại. Tiêu chí đánh giá, gồm có: (i) Thu nhập bình quân một nhân
khẩu/tháng; (ii) Tỷ lệ người nghèo; (iii) Trình độ dân trí của nông dân; (iv) kết cấu hạ
tầng (KCHT) kinh tế - xã hội trên địa bàn. Bền vững về môi trường là bảo vệ và không
ngừng nâng cao độ phì của đất, bảo vệ và nâng cao chất lượng nguồn nước và bảo vệ
rừng. Tiêu chí phản ánh, gồm có: (i) Diện tích đất bị hoang hóa; (ii) Diện tích đất không
được tưới tiêu hợp lý; (iii) Lượng phân hóa học, lượng thuốc trừ sâu, thuốc BVTV và
các loại hóa chất sử dụng trong nông nghiệp; (iv) Tỷ lệ đất được bảo vệ, duy trì đa dạng
sinh học; (v) Diện tích rừng và tỷ lệ che phủ rừng; (vi) Số vụ và diện tích rừng bị cháy,


10
bị chặt phá. Nhìn chung, mặc dù chưa đầy đủ, song nghiên cứu đã đưa ra hệ thống chỉ
tiêu đánh giá PTNN theo hướng bền vững tương đối khá toàn diện.
Phí Văn Hạnh (2016) trong “Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở
vùng ĐBSH” [37] đưa ra 4 nội dung, gồm có: (1) Chuyển dịch kinh tế (CCKT) nông
nghiệp theo hướng bền vững; (2) Nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả SXNN
theo hướng bền vững; (3) Tăng trưởng nông nghiệp toàn diện gắn với đảm bảo công
bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo nâng cao đời sống nhân dân; (4) Tăng trưởng nông
nghiệp gắn với bảo vệ môi trường (BVMT) bền vững. Từ 4 nội dung trên, tác giả đã
đưa ra 4 nhóm tiêu chí đánh giá PTNN theo hướng bền vững. Tuy nhiên, dưới góc độ
kinh tế chính trị, các chỉ tiêu mới được xem xét dưới góc độ định tính. Cụ thể, về
chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng bền vững, tác giả đưa ra các tiêu chí phản
ánh CCKT nông nghiệp trong nội bộ ngành (tính hợp lý trong chuyển dịch cơ cấu toàn
ngành nông nghiệp dưới sự tác động của phát triển lực lượng sản xuất; tính hợp lý và
hiệu quả trong chuyển dịch của các phân ngành trồng trọt, chăn nuôi; phân ngành khai

Phạm Thị Khanh (2004) trong “Huy động vốn trong nước phát triển nông
nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng” [57] chỉ ra, vốn tác động đến SXNN nông
nghiệp một cách gián tiếp thông qua đất đai, cây trồng, vật nuôi hay phương tiện kỹ
thuật… Sự gia tăng vốn đầu tư PTNN làm tăng năng lực sản xuất, thúc đẩy gia tăng
năng suất, sản lượng và nâng cao chất lượng nông sản phẩm hàng hóa. Bởi vì, vốn
là tiền để phát triển kết cấu hạ tầng (KCHT), ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, phát triển
các ngành công nghiệp, dịch vụ phục vụ SXNN, chuyển dịch CCKT và nâng cao
chất lượng lao động nông nghiệp.
Nguyễn Thị Tố Quyên (2012) trong “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn
trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới” [80] cho rằng, các nguồn lực đầu vào, như:
vốn, đất đai, chất lượng lao động, KCHT có ảnh hưởng đến PTNN theo hướng bền
vững vì đây là điều kiện để phát triển SXNN.
Đào Duy Khuê (2012) trong “ Khoa học và công nghệ thúc đẩy sản xuất
nông nghiệp hàng hóa - giảm nghèo nhanh cho nông dân” [59] đã chỉ ra, KHCN
phát triển và được ứng dụng mạnh mẽ vào lĩnh vực nông nghiệp đã tạo ra sản phẩm
hàng hóa có giá trị cao và đây là cơ sở hàng đầu để PTNN theo hướng bền vững.
Vũ Trọng Bình (2013) trong “Phát triển nông nghiệp bền vững: Lý luận và
thực tiễn” [8] chỉ ra có sáu yếu tố chính ảnh hưởng tới PTNN theo hướng bền vững,
đó là: (i) Hội nhập quốc tế; (ii) Phát triển công nghiệp, đô thị; (iii) Quy hoạch không
gian giữa công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp; (iv) Quá trình hiện đại hóa nông
nghiệp và nông thôn; (v) Vai trò của nông dân; (vi) Chính sách PTNN. Qua phân


12
tích, luận giải của tác giả cho thấy sáu yếu tố trên có ảnh hưởng rất lớn đến PTNN
theo hướng bền vững trong điều kiện hiện nay.
Trong điều kiện hội nhập và BĐKH đang trực tiếp tác động đến ngành nông
nghiệp, các công trình gần đây đã tập trung nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng to lớn của
hội nhập quốc tế và BĐKH đến ngành nông nghiệp.
Về ảnh hưởng của hội nhập đến ngành nông nghiệp, tác giả Nguyễn Từ và

nghiên cứu chỉ ra. Chẳng hạn, tác giả Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu (2012) trong
“Biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển” [29] chỉ ra, BĐKH tác động lên hệ sinh thái
biển và hoạt động kinh tế - xã hội. Đối với Việt Nam, BĐKH vùng ven biển với
những biểu hiện cụ thể: nước biển dâng, xâm nhập mặn, thời tiết cực đoan đã ảnh
hưởng đến SXNN, qua đó, ảnh hưởng đến sinh kế người dân. Tác giả Đinh Vũ Thanh,
Nguyễn Văn Viết (2012) trong “Tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực nông
nghiệp và giải pháp ứng phó” [94] cho rằng, BĐKH đã tác động đến các lĩnh vực của
ngành nông nghiệp, như: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; tài nguyên nước và thủy
lợi,…; Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu khác chỉ ra, BĐKH đã tác động đến
SXNN, như: (1) Làm giảm các đầu vào cơ bản của SXNN và ảnh hưởng trực tiếp đến
sản lượng của các ngành này; (2) Làm thay đổi quy trình sinh trưởng và mùa vụ, giảm
năng suất và hiệu quả của SXNN; (3) Biến đổi khí hậu đã và đang đe dọa nghiêm
trọng đến cơ sở hạ tầng nông nghiệp làm tăng mức độ rủi ro và tổn thất cho các ngành
sản xuất; (4) Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến các ngành nông nghiệp chủ lực và gây
ra tổn thất lớn cho nền kinh tế. Điển hình cho các công trình này có thể kể đến nghiên
của Mai Hạnh Nguyên (2010) [73]; Tô Văn Trường (2011) [107]; Bùi Thị Kim Dung
(2012) [31]; DARA International (2013) [131].
1.1.1.3. Các công trình nghiên cứu về vai trò của nông nghiệp trong phát
triển bền vững
Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng không chỉ của Việt Nam mà còn
của nhiều nước trên thế giới. Trong điều kiện đẩy nhanh CNH,HĐH, phát triển kinh
tế thị trường, hội nhập và BĐKH, vai trò của nông nghiệp không hề bị mất đi mà
ngược lại càng được coi trọng. Điều này đã được các công trình nghiên cứu trong và
ngoài nước đề cập đến. Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
FAO (1990) trong “World Food Dry”[134] chỉ ra rằng, PTNN là điều kiện,
phương tiện để nền kinh tế đạt được sự bền vững. Điều này được thể hiện: (i) Trong
các chu kỳ khủng hoảng kinh tế, tài chính, nông nghiệp ít bị tác động nên nông
nghiệp tăng trưởng cao sẽ giúp nền kinh tế vượt qua khủng hoảng dễ dàng và tạo
điều kiện phục hồi kinh tế nhanh hơn; (ii) Tăng trưởng nông nghiệp cao giúp giảm
nghèo nhanh chóng ở nông thôn và cả thành thị. Tăng trưởng nông nghiệp làm tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status