TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA NÔNG- LÂM- NGƯ
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI: Nghiên cứu thực trạng và giải pháp quản lý đối với việc gây nuôi
các loài động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Sinh viên thực hiện: Lưu Thị Diệp Thanh
Lớp: Đại học Lâm Nghiệp K55
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị quỳnh Phương
Bộ môn: Lâm Nghiệp trồng trọt
NĂM 2017
Lời cảm ơn!
Có được bài khóa luận này, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc
đến Chi cục Kiểm lâm, phòng Quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên, đặc
biệt là anh Nguyễn Thanh Tây đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ em với
những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình thực tập và nghiên cứu đề tài
“Nghiên cứu thực trạng và các giải pháp quản lý đối với việc gây nuôi các loài
động vật hoang dã ở địa bàn tỉnh Quảng Bình”. Tạo điều kiện thuận lợi cho em
thu thập số liệu ngoại nghiệp cũng như tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan đến đề
tài tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫ Th.s Nguyễn Thị Quỳnh Phương
đã luôn bên cạnh, hướng dẫn củng cố kiến thức còn thiếu sót cho em trong suốt quá
trình thực tập và nghiên cứu đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!
mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân, đồng thời công tác quản lý gây nuôi
ĐVHD gặp nhiều khó khăn, trở ngại.
Đến nay, quy mô gây nuôi đã được nhân lên và được mở rộng trên địa bàn
toàn tỉnh. Ngoài ra, điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Bình thuận lợi cho việc gây
nuôi một số loài động vật hoang dã như: nhím, lợn rừng, kỳ đà vân, chồn, baba,
rùa, rắn, cầy vòi hương....Để hoạt động gây nuôi ĐVHD được phát triển, nhân rộng
mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho
công tác quản lý hoạt động gây nuôi ĐVHD các ban ngành chức năng cũng như
các nhà khoa học cần nghiên cứu tạo một hành lang pháp lý, những hướng dẫn quy
trình về thủ tục gây nuôi và kỹ thuật gây nuôi các loài ĐVHD.
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và các
giải pháp quản lý đối với việc gây nuôi các loài động vật hoang dã trên địa bàn
tỉnh Quảng Bình” là rất cần thiết, giúp chúng ta định hướng đề xuất các giải pháp
quản lý ĐVHD có hiệu quả, nhằm quản lý tốt và thúc đẩy hoạt động gây nuôi các
loài động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh theo hướng bền vững, tạo điều kiện cho các
hộ dân phát triển kinh tế, nâng cao đời sống, giảm áp lực săn bắt từ rừng tự nhiên.
1.2 Mục tiêu của đề tài:
Đánh giá thực trạng gây nuôi các loài động vật hoang dã ở địa bàn tỉnh;
phân tích những thuận lợi, khó khăn, các vấn đề còn bất cập trong quản lý hoạt
động gây nuôi; phân tích vai trò của các bên liên quan và trên cơ sở hành lang pháp
lý đối với hoạt động gây nuôi ĐVHD để đề xuất các giải pháp, cho việc gây nuôi
các loài ĐVHD trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
1.3Yêu cầu của đề tài:
Thu thập số liệu đầy đủ để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động gây nuôi
các loài ĐVHD trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; làm rõ các
thuận lợi, khó khăn và các vấn đề còn bất cập trong hoạt động quản lý gây nuôi các
loài ĐVHD và đi đến đề xuất các giải pháp cho việc quản lý có hiệu quả.
nghiên cứu của trường đại học Putra, Kebangsaan và Mardi của Malaysia nhằm
quản lý và nâng cao năng suất, dinh dưỡng. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy thịt
nhím có lượng protein tương đương với thịt bò và thịt cừu nhưng lượng chất béo
thấp hơn.Các loại acid amin có vai trò quan trọng trong việc chữa lành vết thương và
các loại acid béo khác.[13]
Cũng tại Malaysia, Perhilitan đã có 2 dự án chăn nuôi nhím thương mại hợp
tác với người dân, một dự án bắt đầu từ năm 2005 tại Negeri Sembiann với 20 đực
và 30 con cái, một dự án khác bắt ñầu từ năm 2006 tại Bangting, Selangor với 32
cá thể, tất cả các cá thể nhím ñược cấy ghép các vi mạch với mục đích nhận dạng,
cán bộ thú y cung cấp các dịch vụ tư vấn và theo dõi. Mục đích dự án là đảm bảo
số lượng lớn nhím bị giam cầm có thể đạt được thông qua hệ thống chăn nuôi và
ứng dụng các công nghệ sinh học mới nhất.[6]
Như vậy, có thể thấy việc gây nuôi ĐVHD ở nhiều nước trên thế giới đã phát
triển mạnh để đáp ứng nhu cầu sử dụng cũng như xuất khẩu sản phẩm một cách
rộng rãi.Việc liên doanh cũng đã được chú ý trong gây nuôi đối với một số loài
cho sản phẩm có tính cạnh tranh, nhằm hướng đến phát triển gây nuôi bền vững
và phát triển mở rộng thị trường. Việc áp dụng công nghệ nhằm quản lý và giám
sát gây nuôi đối với các loài cũng đã được chú trọng. Tất cả những thành quả đó
rất đáng để chúng ta có thể tham khảo và áp dụng một cách phù hợp cho phát triển
gây nuôi ĐVHD ở Việt Nam.
2.2 Tình hình gây nuôi các loài ĐVHD trong nước
Theo số liệu của Cục Kiểm lâm, đến nay đã có khoảng 10.000 cơ sở nuôi
động vật hoang dã đăng ký với cơ quan chức năng ở cả 63 tỉnh, thành phố với
khoảng 3 triệu con thuộc 70 loài đang được nuôi, trong đó có 4 loài chính là trăn,
cá sấu, khỉ đuôi dài và rắn các loại. Đồng bằng Sông Cửu Long và Đông Nam Bộ
là hai khu vực nuôi động vật hoang dã lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 70%; tiếp
theo là đồng bằng Sông Hồng chiếm 20%. Nhìn vào con số trên, nhiều chuyên gia
bảo tồn động vật hoang dã lo ngại, cho rằng Nhà nước không nên cho phép gây
nhốt, có thời gian tăng trưởng hợp lý và có giá trị kinh tế cao. Đơn cử như cá sấu, ba
ba trơn, trăn, rắn... có thể được gây nuôi sinh sản với số lượng lớn và thu được lợi
nhuận khá cao.
Đại diện WCS cũng cho rằng, về mặt lý thuyết, động vật gây nuôi có thể thay
thế cho động vật hoang dã nhưng đòi hòi phải có sự kiểm soát chặt chẽ và nâng cao
hiểu biết về những tác động của thị trường và thị hiếu người tiêu dùng. Thực tế cho
thấy nhiều trang trại gây nuôi do chạy theo lợi nhuận đã không ngần ngại bổ sung
thêm các cá thể động vật hoang dã từ tự nhiên vào số lượng động vật gây nuôi. Hơn
nữa, nếu việc gây nuôi thu lãi sẽ khuyến khích những người khác làm theo. Tại đây
sẽ hình thành ngành công nghiệp gây nuôi động vật hoang dã và kết quả là số lượng
quần thể động vật hoang dã trong tự nhiên càng bị gây áp lực lớn.
Chủ tịch Hội động vật học Việt Nam Đặng Huy Huỳnh cho biết, ở nhiều nước
trên thế giới, chăn nuôi động vật hoang dã đã trở thành ngành sản xuất hàng hóa thật
sự, mang lại rất nhiều lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, việc nhân nuôi các loài động vật
hoang dã tại nước ta đến nay còn mang tính tự phát, chưa thực hiện đúng hướng dẫn,
hình thức nuôi nhốt chưa phù hợp và không đáp ứng yêu cầu an toàn dịch bệnh,
chuồng trại. Vì vậy, các cơ quan quản lý nên hướng dẫn quy trình cụ thể, quy định
các danh mục được phép gây nuôi, kinh doanh và góp phần vào mục tiêu bảo tồn.
Tuy nhiên, theo GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh, Chủ tịch Hội Động vật học
Việt Nam, so với các nước, việc gây nuôi ĐVHD ở nước ta còn mang tính tự phát,
nhỏ lẻ, chưa phải là ngành sản xuất hàng hóa để có thể trở thành một ngành kinh tế
nông nghiệp mũi nhọn, kết hợp gây nuôi, kinh doanh, bảo tồn với du lịch như các
nước châu Âu (Nga, Đức, Hungari, Bungari, Ba Lan, Pháp), các nước Đông Nam
Á (Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Myanmar), các nước Đông Phi... Chưa thực
hiện đúng hướng dẫn, quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước.
Phương pháp nuôi đơn giản, chủ yếu là nuôi nhốt, chưa phù hợp với điều
kiện sinh thái nhiệt đới, chưa chủ động nguồn thức ăn cho động vật nuôi, chưa có
biện pháp phòng và chữa bệnh, chưa kết hợp với kỹ thuật công nghệ sinh học trong
cháy rừng số 2 đơn vị phụ trách địa bàn thành phố Pleiku (sau đây gọi chung là Hạt
Kiểm lâm) có trách nhiệm:
a. Tiếp nhận hồ sơ, hướng dẫn, kiểm tra xác nhận hồ sơ đăng ký trại nuôi
sinh sản, trại nuôi sinh trưởng cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn quản lý chuyển
Chi cục Kiểm lâm tỉnh thẩm định và cấp Giấy chứng nhận đăng ký.
b. Quản lý, kiểm tra, xác nhận việc cập nhật biến động số lượng cá thể động
vật hoang dã của các chủ trại nuôi đã được Chi cục Kiểm lâm cấp sổ theo dõi; tổng
hợp báo cáo tình hình quản lý trại nuôi sinh sản, trại nuôi sinh trưởng động vật
hoang dã trên địa bàn quản lý theo quy định.
2. Chi cục Kiểm lâm có trách nhiệm:
a. Thẩm định hồ sơ đã được Hạt Kiểm lâm kiểm tra, xác nhận, xét cấp hoặc
đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký trại nuôi sinh sản, trại nuôi sinh trưởng:
động vật hoang dã theo đúng quy định.
b. Hướng dẫn, quản lý, kiểm tra và cấp sổ theo dõi biến động số lượng cá thể
động vật hoang dã của các trại nuôi; tổng hợp báo cáo tình hình quản lý trại nuôi
sinh sản, trại nuôi sinh trưởng động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh.
3. Trình tự, thủ tục, thời hạn thẩm định, cấp Giấy chứng nhận đăng ký trại
nuôi sinh sản, trại nuôi sinh trưởng động vật hoang dã:
- Chậm nhất là 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng ký trại nuôi
sinh sản, trại nuôi sinh trưởng động vật hoang dã của tổ chức, cá nhân. Hạt Kiểm
lâm phải tiến hành kiểm tra, xác nhận; đồng thời, gửi hồ sơ đã kiểm tra báo cáo
Chi cục Kiểm lâm. Trường hợp từ chối tiếp nhận hồ sơ, phải thông báo lý do từ
chối tiếp nhận cho tổ chức, cá nhân có hồ sơ đề nghị đăng ký.
- Chậm nhất là 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng ký của chủ
trại nuôi đã được Hạt Kiểm lâm kiểm tra, xác nhận. Chi cục Kiểm lâm phải tiến
hành thẩm định và cấp Giấy chứng nhận đăng ký cho các trại nuôi hoặc gửi hồ sơ
đã thẩm định cho cơ quan quản lý CITES Việt Nam xem xét, cấp Giấy chứng nhận
(Nếu động vật hoang dã quy định tại Phụ lục I của Công ước CITES). Trường hợp
hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản; các văn bản pháp luật có
liên quan.
Trường hợp vận chuyển động vật hoang dã là các loài thú dữ như hổ, gấu,
báo…; ngoài các thủ tục theo quy định, động vật phải được nhốt trong các loại
dụng cụ chuyên dùng (lồng, chuồng…) làm bằng vật liệu chắc chắn, tuyệt đối
không để động vật thoát ra ngoài đe dọa tính mạng, sức khỏe của con người.
Kiểm tra, xử lý vi phạm và kinh phí thực hiện:
1. Các cơ quan Kiểm lâm, Công an, Quản lý thị trường, Kiểm dịch động vật,
Bảo vệ môi trường theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm
kiểm tra, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật trong hoạt động nuôi, vận
chuyển động vật hoang dã quy định tại Quy định này và các văn bản pháp luật có
liên quan.
2. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định về nuôi, vận chuyển
động vật hoang dã thì căn cứ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm
hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự, bồi thường thiệt hại theo quy định của
pháp luật hiện hành.
3. Kinh phí cho hoạt động quản lý động vật hoang dã thực hiện theo Thông
tư số 59/2008/TT-BTC ngày 04/7/2008 của Bộ Tài chính “Về hướng dẫn việc quản
lý, sử dụng nguồn thu từ xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chống buôn lậu
gian lận thương mại, hàng giả và Thông tư số 13/2009/TT-BNN ngày 12/3/2009
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn “ Hướng dẫn một số quy định quản
lý, sử dụng nguồn thu từ xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi buôn lậu, gian
lận thương mại trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Điều kiện trại nuôi sinh sản, trại nuôi sinh trưởng động vật hoang dã:
1. Chuồng, trại nuôi phù hợp với đặc tính của loài nuôi và theo quy định hiện
hành.
2. Bảo đảm an toàn cho người nuôi và người dân trong vùng, bảo đảm an
toàn dịch bệnh, vệ sinh môi trường theo quy định của Nhà nước.
Lôi lam đuôi trắng, Gà Lôi lam mào đen, Trĩ... [8]
Về đa dạng thực vật: Với diện tích rừng 549.540 ha, trong đó rừng tự nhiên
456.536 ha, rừng trồng 93.003 ha, trong đó có 17.397 ha rừng thông, diện tích
không có rừng 70.640 ha. Thực vật ở Quảng Bình đa dạng về giống loài: có 138
họ, 401 chi, 640 loài khác nhau. Rừng Quảng Bình có nhiều loại gỗ quý như lim,
gụ, mun, huỵnh, thông và nhiều loại mây tre, lâm sản quý khác.Quảng Bình là một
trong những tỉnh có trữ lượng gỗ cao trong toàn quốc. Hiện nay trữ lượng gỗ là
31triệu m3 [8]
Theo số liệu tổng hợp, thu nhập, thành phần động vật Quảng Bình bao gồm:
1.977 loài (327 họ, 65 bộ) của 6 lớp động vật nổi bật. Trong đó, côn trùng: 1.045
loài (142 họ, 18 bộ); cá xương: 278 loài (74 họ, 17 bộ); ếch nhái: 38 loài (6 họ,
thuộc bộ không đuôi); bò sát: 78 loài (17 họ, 2 bộ); chim: 362 loài (56 họ, 15 bộ);
thú: 176 loài (32 họ, 12 bộ). Phong Nha – Kẻ Bàng còn có một thảm động thực vật
phong phú và đa dạng.
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là trung tâm đa dạng động vật nổi
tiếng của Việt Nam cũng như trên thế giới. Thống kê cho thấy thành phần loài các
nhóm động vật ở Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng rất phong phú, đa dạng và
chiếm tỷ lệ khá lớn (từ 47-100%) so với số loài đã phát hiện ở khu vực Bắc Trường
Sơn. Với điều kiện thiên nhiên thuận lợi của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
không chỉ tạo điều kiện cho sự phát triển của hệ thực vật mà còn là nơi ở, ăn và cư
trú an toàn cho các loài động vật. Thống kê bước đầu có 1.074 loài động vật xương
sống thuộc 338 giống với 134 họ, 43 bộ và 352 loài động vật không xương sống,
trong đó ngành thân mềm có 10 loài thuộc 8 chi, 6 họ và ngành chân khớp 292 loài
thuộc 5 lớp. Trong hệ động vật ở Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng có 68 loài
được ghi trong Sách đỏ của Việt Nam (1994), 44 loài được ưu tiên bảo vệ mức độ
toàn cầu và được ghi trong Sách đỏ các loài động vật có nguy cơ đe dọa của Liên
minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 1997). Sự đa dạng về hệ động vật ở
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng thể hiện ở đa dạng nhóm thú, nhóm chim,
Khu vực Động Châu- Khe Nước Trong là vùng đa dạng trọng điểm chỉ đứng
sau khu vực Phong Nha- Kẻ Bàng. Khu vực này có gần 20.000ha (thuộc xã Kim
Thủy, huyện Lệ Thủy), được ví như một mái nhà xanh chở che cho hàng vạn cư
dân sinh sống ở lưu vực sông Kiến Giang và Long Đại. Nơi đây, có một khu hệ
động thực vật cực kỳ phong phú, với khá lớn sinh cảnh vùng đất thấp đã được Tổ
chức Bảo tồn Chim quốc tế xác định là một vùng chim quan trọng trong vùng chim
đặc hữu đất thấp miền Trung. Qua điều tra khu hệ thực vật tại Động Châu, nhóm
chuyên gia thực vật của Viện Điều tra quy hoạch rừng đã thống kê được 987 loài,
539 chi thuộc 141 họ trong năm ngành thực vật bậc cao. Trong số các loài được
ghi nhận có 54 loài thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam 2007 và Sách
đỏ Thế giới (IUCN 2009). Bên cạnh đó, các chuyên gia thống kê được 241 loài
động vật có xương sống thuộc 77 họ và 21 bộ trong khu vực nghiên cứu….
Thời gian gần đây, Động Châu - khe Nước Trong được giới khoa học nhắc
đến nhiều hơn khi phát hiện sự phân bố của loài Sao la và nhiều loài thú quý hiếm
khác. Ở khu vực rừng này, các nhà khoa học ghi nhận có 26 loài thuộc nhóm thú
quý hiếm, trong đó, có nhiều loài nằm trong Sách đỏ của Việt Nam và thế giới.
Bên cạnh đó, đã phát hiện và ghi nhận có 61 đàn Vượn đen má trắng siki ở chín
tiểu khu của vùng rừng khe Nước Trong. Các chuyên gia bước đầu nhận xét, rừng
Động Châu - khe Nước Trong có số lượng đàn và cá thể Vượn đen má trắng siki
nhiều nhất so với các khu vực khác trong vùng Bắc Trung Bộ. Trên cơ sở quan sát
dọc đường Hồ Chí Minh nhánh phía Tây, đoạn qua khu vực này, các chuyên gia đã
ghi nhận được 9 đàn Chà vá chân nâu với số lượng từ 98 đến 108 cá thể. Kết quả
trên cho thấy, giá trị đa dạng sinh học đặc biệt ở khu vực này. [10]
Ngoài các loài động vật đặc hữu của tỉnh, trong các hệ sinh thái Quảng Bình
còn gặp những loài, phụ loài đặc hữu cho cả khu vực Đông Dương, thậm chí cả
vùng Đông Nam Á như sao la, voọc chà vá chân nâu (hay còn gọi là voọc ngũ sắc).
Theo Hiệp hội bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Quốc tế (IUCN) thì hiện nay có hơn
10% loài cá, 25% loài ếch nhái, 25% loài bò sát, 11% loài chim và 25% loài thú
xâm hại làm ảnh hưởng đến tài nguyên rừng; xây dựng kế hoạch tuần tra định kỳ
hàng tháng và thiết lập mạng lưới tuần tra cố định tại các Trạm Kiểm lâm.
Nhằm đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, Ban quản lý Vườn
luôn chú trọng tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng và cấp uỷ, chính
quyền địa phương trên địa bàn; Thực hiện tốt các quy chế phối hợp quản lý bảo vệ
rừng đã ký kết, điều chỉnh bổ sung và thực hiện chương trình hành động giảm thiểu
vi phạm pháp luật với UBND các xã vùng đệm xung yếu; phối hợp với lực lượng
chức năng kiểm tra rừng dọc tuyến biên giới Việt - Lào, khu vực tiếp giáp VQG.
Thành lập 21 nhóm bảo tồn thôn bản trên địa bàn 09 xã vùng đệm, tổ chức ký hợp
đồng bảo vệ rừng với 28 tổ bảo vệ rừng thôn bản, 01 tổ bảo vệ rừng Đồn biên
phòng và 70 cá nhân chuyên trách và triển khai thực hiện. Ngoài ra, Ban quản lý
Vườn đã phối hợp với Dự án Khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng, Dự án rừng đặc dụng
Phong Nha tổ chức tuyên truyền bảo vệ rừng, bảo vệ ĐDSH và PCCCR tại 10 xã; tập
huấn kỹ năng giáo dục bảo tồn, các hoạt động ngoại khoá tại các trường học trong vùng
đệm, đồng thời hỗ trợ và chuyển giao các mô hình phát triển cộng đồng vùng đệm
nhằm giảm áp lực lên tài nguyên Di sản.
Tính đến hết tháng 11/2016, đã tổ chức được 1.863 đợt tuần tra bảo vệ rừng,
tháo gỡ 49 lán trại (giảm 30% so với cùng kỳ), tháo gỡ 1.770 sợi dây bẫy (giảm 47%
so với cùng kỳ), đẩy đuổi 439 lượt người vào rừng và có ý định vào rừng trái phép
(giảm 46,6% so với cùng kỳ); lập hồ sơ và ra Quyết định xử lý 172 vụ vi phạm
(giảm 20% so với cùng kỳ), trong đó 80 vụ xử lý hành chính, 90 vụ không có người
nhận, 01 vụ khởi tố hình sự và 01 vụ chuyển cơ quan CSĐT ra Quyết định khởi tố.
Tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính và xử lý tài sản tịch thu sung công quỹ
Nhà nước là 516.935.000 đồng (giảm 56% so với cùng kỳ). [1]
Trong năm 2016, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã tiếp nhận, chăm sóc
và cứu hộ 89 cá thể động vật hoang dã, trong đó: Năm 2015 chuyển sang 53 cá thể,
tiếp nhận mới 36 cá thể; thả về môi trường tự nhiên 56 cá thể; không thành công 07 cá
thể; Hiện tại, đơn vị đang cứu hộ 26 cá thể; tiếp nhận chăm sóc và cứu hộ 378kg
với heo thịt thời gian khoảng 1 năm có thể xuất chuồng, heo giống khoảng 6 tháng
đã có thể xuất đi nơi khác làm giống. Một năm có thể heo mẹ đẻ tù 2-3 lứa, mỗi
lứa từ 7-12 con. Đối với heo con mới tách bầy sức khỏe còn yếu nên dễ mắc một
số bệnh về đường ruột và hô hấp.
* Nhím (Hystrix brachyuran)
+ Hình thức nuôi: nuôi nhốt hoàn toàn, diện tích nuôi hẹp.
+ Chăm sóc: Chuồng xây theo hàng ở trong nhà, kích thước dài, rộng, cao
khoảng 1 m vuông (nuôi 1 cặp ), nền dốc 5 độ để thoát nước.Thức ăn là các loại rau
củ quả ngũ cốc và có thể có khoáng chất, ngày cho ăn 2 dến 3 lần (không cho ăn ñồ
thiu thối ). Làm vệ sinh chuồng trại và tắm cho Nhím hàng ngày.
+ Sinh trưởng phát triển: sinh trưởng tốt trong điều kiện nuôi nhốt diện tích
hẹp, thức ăn đầy đủ về chất và số lượng. Nhím thịt nuôi khoảng 1 năm, trọng lượng
tố đa 18kg/con , nhím sinh sản từ 1-1,5 năm. Trung bình năm 2 lứa, mỗil ứa từ 1-2
con, có thể cao nhất lứa 4 con.
* Dúi (Rhizomys pruinosus)
+ Hình thức nuôi: nuôi nhốt hoàn toàn
+ Chăm sóc: Chuồng nuôi là chuồng xây nền cứng do dúi đào hang giỏi, cần
làm hang nhân tạo cho dúi chui ra vào.Cho ăn các loài rau củ quả tươi, không bị
thối, cho ăn hàng ngày, không theo bữa.Dọn vệ sinh vài ngày một lần.
+ Sinh trưởng và phát triển: dúi là ĐVHD mới được thuần hóa, sức đề kháng
mạn, ít dịch bệnh tuy nhiên dúi vẫn bị một số bệnh thông thường như kí sinh trùng
ngoài da, bệnh đường ruột. mỗi năm dúi đẻ từ 2-4 lứa. mỗi lứa tù 2-5 con.
* Cầy vòi hương (Paradoxurus Hermaphroditus)
+ Hình thức nuôi: nuôi nhốt hoàn toàn
+ Chăm sóc: Chuồng có thể rộng hoặc hẹp tùy điều kiện và phải thoáng khí.
Nuôi chung khi chuồng rộng, thường nhốt chung theo cặp. Thức ăn là cácoa ạitr ái
cây có thể cho ăn thêm động vật như chuột, kì nhông, thịt heo, gà…
+ Sinh trưởng và phát triển: có khả năng sinh trưởng rất nhanh, sinh sản
quanh năm nhưng tập trung chủ yếu vào tháng 10,11,12 hàng năm. Đẻ mỗi lứa từ
2-4 con.
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu
3.3.2. Đánh giá hiện trạng các loài động vật hoang dã được gây nuôi trên địa
bàn tỉnh Quảng Bình.
Quy mô gây nuôi ĐVHD tên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Quy trình chăm sóc, sinh trưởng phát triển một số loài ĐVHD được gây
nuôi phổ biến
Đánh giá hiệu quả của gây nuôi động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh
Thuận lợi, khó khăn của các chủ cơ sở trong quá trình gây nuôi ĐVHD
3.3.3. Hiện trạng công tác quản lý của cơ quan chức năng
Các văn bản pháp luật quy định công tác quản lý, bảo vệ động vật hoang dã
Cách thức, phương thức, biện pháp quản lý đang được áp dụng
Những thuận lợi, khó khăn và những vấn đề bất cập trong công tác quản lý
hoạt động gây nuôi động vật hoang dã
Vai trò của các bên liên quan trong công tác quản lý
3.3.4. Đề xuất các giải pháp quản lý việc gây nuôi động vật hoang dã trên địa bàn
tỉnh Quảng Bình
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập các thông tin, tài liệu, số liệu thứ cấp liên quan đến nội dung
nghiên cứu (Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, bản đồ, văn bản/chính sách có liên
quan...) ở thư viện, internet và từ các cơ quan như Chi cục Kiểm lâm, Hạt kiểm
lâm...Đây là những cơ sở dữ liệu ban đầu và là nguồn thông tin định hướng cho
việc nghiên cứu đề tài.
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu là phương pháp phỏng vấn các già làng,
trưởng bản, những người có kinh nghiệm trong cộng đồng để tìm hiểu kiến thức
bản địa về các loài động vật hoang dã.
Tây sang phía Đông nhưng không theo tuyến tính. Vùng đồng bằng, vùng cửa
sông có khi chỉ cao hơn mặt nước biển 2 - 3m, có nơi thấp hơn mực nước biển,
trong khi đó dải cồn cát ven biển lại cao hơn, thậm chí cao tới 40 - 50m.
Cùng với sự phân hoá địa hình theo hướng Tây - Đông, địa hình theo
hướng Tây - Nam cũng phân dị rõ rệt.
Các dạng địa hình thấp dần từ Tây đến Đông, từ Bắc vào Nam. Từ Bắc
Quảng Bình là dãy Hoành Sơn với vùng núi Minh Hóa cao 2.000m, đến Quảng
Ninh núi cao nhất chỉ có 1.257m. Sự phân hoá địa hình Quảng Bình theo hướng
Đông - Tây và Bắc - Nam, nhất là sự phân hoá theo độ cao và hướng núi Á vĩ
tuyến đã trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố vật chất và năng lượng, ảnh hưởng
trực tiếp đến chế độ khí hậu (nhiệt ẩm), sự phân hóa lớp thực bì, tạo nên sự đa
dạng sinh thái đặc sắc của Quảng Bình.[5]
4.1.1.3. Khí hậu
Quảng Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, luôn bị tác động
bởi khí hậu của phía Bắc, phía Nam và được chia làm hai mùa rõ rệt.
Mùa mưa từ tháng IX đến tháng III năm sau. Lượng mưa trung bình từ
1.600 - 2.800 mm/năm, thời gian mưa tập trung vào các tháng IX, X, XI. Mùa
khô từ tháng IV đến tháng VIII với nhiệt độ trung bình 24 - 250C, ba tháng có
nhiệt độ cao nhất là các tháng VI, VII, VIII. Nhiệt độ tối cao nhất tuyệt đối lên
đến 41,60C (trạm Tuyên Hóa, V/1992), 40,6 0C (trạm Ba Đồn, VII/1998), 40,7 0C
(trạm Đồng Hới, IV/1980); nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 5,0 0C (trạm Tuyên
Hóa, XII/1999), 7,6 0C (trạm Ba Đồn, XII/1975) và 7,8 0C (trạm Đồng Hới,
XII/1975).
Nhiệt độ trung bình năm của Quảng Bình tăng dần từ Bắc vào Nam, từ
Tây sang Đông. Cân bằng bức xạ đạt 70 - 80 kcal/cm2. Số giờ nắng bình quân
năm khoảng 1.700 - 2.000 giờ. [5]
4.1.1.4. Thủy văn
Do lãnh thổ Quảng Bình hẹp về bề ngang, độ dốc lớn nên sông ngòi thường
lượng
Lượng
dài
quân
lưu quân
bình
dòng
nước cấp
lưu
lưu
quân
chảy
Wo(106m3)
(km) vực
vực
vực Qo(m3/s)
(km2)
(km/km2)
(m)
(m)
STT
Tên
sông
1
Sông
Roòn
346,4
10.895,0
3
Sông
Lý Hoà
22
177
130
0,70
15
10,14
318,0
4
Sông
Dinh
37
343
7.980
539,72
16.974,6
Cộng
0,8 1,1
( Nguồn: Sở khoa học Công nghệ Quảng Bình.)
Đặc điểm nổi bật của chế độ mưa và dòng chảy ở Quảng Bình là đường
phân phối dòng chảy trong năm có hai đỉnh rõ rệt. Đỉnh chính xuất hiện vào tháng
IX, X; đỉnh phụ tiểu mãn xuất hiện vào tháng V, VI. Mùa lũ tập trung vào các
tháng X, XI, XII và chiếm 60 - 80% tổng lượng dòng chảy cả năm. Vào mùa này,
sông ngòi thường có lũ đột ngột gây úng lụt trầm trọng vùng cửa sông. Trong mùa
khô, nhiều đoạn sông bị cạn dòng và vùng cửa sông bị thủy triều tăng cường xâm
nhập mặn vào đất liền. Dòng chảy kiệt kéo dài trung bình 8 - 9 tháng, dài nhất là
10 tháng, ngắn nhất là 7 tháng. Trong mùa kiệt vẫn có mưa và lũ tiểu mãn, tháng lũ
tiểu mãn chiếm 1,72 - 5,75% lượng dòng chảy năm.
Dòng chảy lũ trên các sông của Quảng Bình chiếm phần lớn lượng dòng
chảy trong năm, vì vậy dòng chảy lũ là đặc trưng quan trọng trong chế độ thuỷ văn
tỉnh Quảng Bình.
Dòng chảy cạn, ở Quảng Bình ngoài lượng nước ngầm gia nhập dòng chảy
sông còn phải tính đến lượng mưa, đặc biệt là mưa tiểu mãn. Những tháng chuyển
Các khoáng sản kim loại và phi khoáng khác có mỏ than đá antraxit ở huyện
Minh Hoá; than bùn ở huyện Quảng Trạch, Lệ Thuỷ, Bố Trạch, là nguồn nguyên
liệu phục vụ sản xuất phân vi sinh.[5]
4.1.1.7. Tài nguyên rừng
Tỉnh Quảng Bình có tổng diện tích tự nhiên là 806.527 ha, trong đó đất có
rừng 549.540,15ha (bao gồm 456.536,88 ha rừng tự nhiên, 93.003,27 ha rừng
trồng); đất chưa có rừng 70.640,86 ha, độ che phủ đạt 66,97%. Là tỉnh nằm ở khu
vực Bắc Trung Bộ có diện tích rừng và đất lâm nghiệp tương đối lớn so với cả nuớc
.
Hình 4.2: Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng tỉnh Quảng Bình
Tài nguyên động, thực vật:Quảng Bình nằm trong khu vực đa dạng sinh học
Bắc Trường Sơn có khu hệ thực vật, động vật đa dạng, độc đáo với nhiều nguồn
gen quý hiếm. Đặc trưng cho đa dạng sinh học ở Quảng Bình là vùng Karst Phong
Nha - Kẻ Bàng.
Về động vật: Ngoại trừ Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và một số
điểm nhỏ lẻ không đáng kể khác thì công tác điều tra động vật rừng tại tỉnh Quảng
Bình từ trước đến nay hầu như chưa được triển khai. Tuy nhiên qua kết quả điều
tra tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là khu vực rừng tự nhiên khá lớn nằm
ở vùng trung tâm của tỉnh, nối liền các vùng rừng tự nhiên tập trung khác trong
tỉnh và nước bạn Lào. Do vậy có thể coi hệ động vật rừng Phong Nha - Kẻ Bàng là
đặc trưng cho khu hệ động vật rừng chung của tỉnh .
Thống kê bước đầu có 1.074 loài động vật xương sống thuộc 338 giống với
134 họ, 43 bộ và 352 loài động vật không xương sống, trong đó ngành thân mềm