Tìm hiểu công tác quản lý bảo vệ rừng có sự tham gia của người dân tại xã tân trạch huyện bố trạch tỉnh quảng bình - Pdf 46

LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn quan trọng trong tiến trình học tập của
mọi sinh viên, nhằm đánh giá, tổng hợp những kiến thức đã được truyền đạt
trong quá trình học tập trên ghế nhà trường, đồng thời là cơ hội để mỗi người
bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, vận dụng những kiến thức
đã học vào thực tiễn sản xuất và quản lý. Qua đó củng cố nâng cao năng lực làm
việc của bản thân, tạo hành trang trước khi ra trường để bước vào môi trường
công tác.
Xuất phát từ những quan điểm đó, được sự nhất trí của Trường đại học
Quảng Bình, Khoa Nông – Lâm – Ngư và nguyện vọng của bản thân, tôi đã về
thực tập tại xã Tân Trạch – huyện Bố Trạch – tỉnh Quảng Bình để tiến hành thực
hiện đề tài.
“Tìm hiểu công tác quản lý bảo vệ rừng có sự tham gia của người dân
tại xã Tân Trạch- huyện Bố Trạch - tỉnh Quảng Bình.”
Để hoàn thành đề tài này, trong suốt thời gian thực hiện tôi đã nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô giáo trong khoa, các bạn bè, đồng nhiệp, đặc
biệt là sự chỉ bảo, hướng dẫn chu đáo của cô giáo Nguyễn Thị Quỳnh Phương,
cùng sự quan tâm của cán bộ xã Tân Trạch và sự tham gia nhiệt tình của người
dân địa phương.
Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về tất cả những giúp
đở quý báu đó. Do hạn chế về mặt chuyên môn và thời gian nghiên cứu, nên chắc
chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót trong khi thực hiện đề tài này, bản thân tôi
mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của các thầy, cô giáo và các
bạn bè đồng nghiệp để khóa luận của tôi được đầy đủ và hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Quảng Bình, ngày tháng năm 2017
Tác giả

Phan Thành Đạt



4.2.1. Công tác quản lý bảo vệ rừng trước khi giao đất lâm nghiệp ................... 26
4.2.2. Công tác quản lý bảo vệ rừng sau khi giao đất lâm nghiệp ...................... 27
4.2.3. Vai trò của các bên liên quan trong công tác quản lý bảo vệ rừng. .......... 29
4.2.4. Cơ chế chia sẽ lợi ích của người dân khi tham gia quản lý bảo vệ rừng.
............................................................................................................................. 32
4.2.4.1. Quyền hưởng lợi từ rừng của cộng đồng .............................................. 33
4.2.4.2. Nghĩa vụ của cộng đồng ........................................................................ 33
4.2.5. Giới thiệu các hình thức và tổ chức tham gia bảo vệ rừng tại xã Tân Trạch.
............................................................................................................................. 34
4.2.5.1. Xây dựng quy ước, hướng ước mơ bảo vệ rừng xóm ............................ 34
4.2.5.2.Triển khai ký cam kết không vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng
............................................................................................................................. 36
4.2.5.3. Xây dựng nội dung quy chế phối hợp cho các tổ chức tham gia bảo vệ
rừng trên địa bàn.................................................................................................. 36
4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo vệ rừng trên địa bàn. .................................. 39
4.3.1. Các yếu tố bên trong.................................................................................. 39
4.3.2. Các yếu tố bên ngoài. ................................................................................ 41
4.4. Những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức trong công tác bảo vệ rừng có
sự tham gia của người dân................................................................................... 42
4.4.1. Thuận lợi. .................................................................................................. 42
4.4.2. Khó khăn. .................................................................................................. 42
4.4.3. Cơ hội. ....................................................................................................... 43
4.4.4. Thách thức. ................................................................................................ 43
4.5. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ rừng có sự tham
gia của người dân. ............................................................................................... 43
4.5.2. Giải pháp về chính sách ............................................................................ 43
4.5.1. Giải pháp về nguồn vốn ............................................................................ 44
4.5.3. Giải pháp về kỹ thuật ................................................................................ 45
Chương V: KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ ............................................. 47


FAO :

Tổ chức lương thực của Liên Hợp Quốc

CN :

Chi nhánh

BVR :

Bảo vệ rừng

QSD :

Quyền sử dụng

BQL :

Ban quản lý

BCH :

Ban chỉ huy

PCCC :

Phòng cháy chữa cháy

PCCN :



PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề.
Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước ta, rừng không những là
cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan
trọng, rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và
các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ
của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn
phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước và làm giảm mức ô nhiễm
không khí. Vấn đề quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng hiện nay được
coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội Việt Nam. Một trong những đòi hỏi để thực hiện thành công nhiệm vụ
này là phải có những cơ chế thích hợp thu hút sự tham gia tích cực của cộng
đồng dân cư cũng như nâng cao chuyên môn, trách nhiệm của các tổ chức quản
lý đặc biệt là các lâm trường Quốc doanh vào công tác quản lý, sử dụng tài
nguyên rừng có hiệu quả và bền vững.
Hiện nay việc quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng theo hình thức quản lý lâm
nghiệp truyền thống đã ngày càng thể hiện rõ sự bất cập và không còn phù hợp
trong điều kiện thực tế xã hội. Hình thức quản lý lâm nghiệp truyền thống đó có
xuất phát điểm và chỉ phù hợp trong bối cảnh rừng còn nhiều, dân số ít, nhu cầu
của con người đòi hỏi về lâm sản còn thấp hơn nhiều so với khả năng cug cấp
của tự nhiên lúc này tác động của con người đến rừng không để lại những ảnh
hưởng lớn tới môi trường, xã hội cũng như cảnh quan du lịch.
Trong cách quản lý lâm nghiệp truyền thống việc bảo vệ rừng chỉ dựa vào
lực lượng Nhà nước với các biện pháp luật hành chính và xử phạt. Với cách
quản lý bảo vệ đó hậu quả là trong một thời gian rừng không được bảo vệ, phát
triển mà còn bị tàn phá nghiêm trọng.
Theo tài liệu của P.Maurand năm 1943 diện tich rừng nước ta có khoảng
14.300.000 ha với độ che phủ 43,8% diện tích cả nước vậy mà trong những thập
kỷ vừa qua diện tích rừng và đất rừng có sự thay đổi theo chiều hướng xấu đi
một cách nghiêm trọng. Theo số liệu mới nhất, hiện nay diện tích rừng tính đến

động rất tinh vi nên hiệu quả QLBVR chưa cao; Việc giao rừng cho cộng đồng
trên địa bàn xã còn nhiều vấn đề tồn tại trong tiến trình giao và QLBVR. Trong
những năm qua, nhiều chương trình và dự án về nền lâm nghiệp có sự tham gia của
nhiều thành phần của chính phủ, các tổ chức Quốc tế được thực hiện ở nhiều nơi
trên đất nước ta với nhiều hoạt động và đã mang được những kết quả nhất định.
Từ thực tiễn về xu hướng mới trong công tác bảo vệ rừng, từ nhận thức cá
nhân để góp phần bổ sung và hoàn thiện những cơ sở lý luận và thực tiễn từ đó
đề xuất các giải pháp khuyến khích sự tham gia của người dân và cộng đồng vào
công tác bảo vệ. Bản thân tôi đã tiến hành nghiên cứu, thực hiện đề tài: “Tìm
hiểu công tác quản lý bảo vệ rừng có sự tham gia của người dân tại xã Tân
Trạch- huyện Bố Trạch - tỉnh Quảng Bình.”

2


1.2. Mục đích nghiên cứu
- Đề xuất những giải pháp nhằm khuyến khích sự tham gia của cộng đồng
vào bảo vệ rừng.
- Nâng cao nhận thức cho người dân về hiện trạng của mình, các vấn đề
gây trản trở, các tiềm năng và cơ hội phát triển.
- Huy động khả năng và nguồn lực của cộng đồng tham gia vào các hoạt
động bảo vệ và phát triển rừng.

3


PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU.
2.1. Tình hình quản lý bảo vệ rừng có sự tham gia trên thế giới.
Khi nói tới phát triển lâm nghiệp hiện nay, người ta bàn nhiều tới lâm
nghiệp xã hội hay lâm nghiệp cộng đồng, là nền lâm nghiệp có sự tham gia của



nước. Để hiểu rõ hơn chúng ta đi vào tìm hiểu tình hình quản lý rừng cộng đồng
một số quốc gia đại diện như sau:
* Ấn Độ:
Trong những năm 1920, các nhà chức trách thuộc địa tại Ấn Độ đã thử
đưa ra các hệ thống quản lý rừng địa phương mới. Tại bang Uttar Pradesh, người
ta đã thành lập các “hội đồng rừng” địa phương đặc biệt (van panchayat) nhằm
mục đích tạo ra một lớp đệm giữa rừng của nhà nước và dân làng địa phương.
Hội đồng này có quyền đưa ra những quy tắc giải quyết các vấn đề sử dụng rừng
chung của địa phương dựa trên những luật lệ được chính phủ ban hành [12].
Sau đó với sự hỗ trợ của những nhà tài trợ trong và ngoài nước, nhiều
chính phủ ở các bang ở Ấn Độ đã bắt đầu xúc tiến các kế hoạch xây dựng lâm
nghiệp xã hội thông qua những kế hoạch quản lý tài nguyên rừng công cộng. Và
Ấn Độ trở thành một trong những nước đầu tiên thử nghiệm “lâm nghiệp xã hội”
trong những năm 1970, tuy nhiên mục tiêu là không để cho người dân kiểm soát
quá lớn nguồn tài nguyên rừng. Thay vào đó, lâm nghiệp xã hội tập trung vào
việc thiết lập rừng cho cộng đồng sử dụng trên đất chưa có rừng để giải phóng
những khu rừng hiện có cho khai thác thương mại. Tuy nhiên, với việc thử
nghiệm lâm nghiệp xã hội khá sớm đã dẫn đến các cuộc xung đột ngày càng
tăng giữa các cơ quan lâm nghiệp và người dân địa phương, khiến chính phủ
phải đưa ra một chính sách mới nhấn mạnh việc quản lý rừng cho bảo tồn và
nhu cầu của người dân. Điều này dẫn đến sự ra đời của chương trình quản lý
rừng có sự tham gia (JFM), đây là chương trình nổi tiếng nhất trên toàn cầu
được biết đến với hệ thống quản lý rừng dựa trên sự chia sẻ trách nhiệm và lợi
ích giữa nhà nước và người dân địa phương [13].
Việc sửa đổi hiến pháp 73 và đạo luật 1992 cũng có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng. Nó phân cấp những quyền hạn khác nhau liên quan đến việc thực thi
những kế hoạch phát triển kinh tế và công bằng xã hội cho các tổ chức (PRIs),
hoặc những hội đồng làng, những tổ chức mà có chức năng ở huyện, khối hay ở

Qua nhiều thử nghiệm nhóm sử dụng rừng (FUG) được xem là có hiệu quả nhất.
Sau 25 năm thực hiện quản lý rừng có sự tham gia của người dân đã có 1,1 triệu
hecta rừng, chiếm 25% diện tích quốc gia đã được giao cho nhóm hộ quản lý
(Kanel, 2004) [13].
* Campuchia:
Luật đất đai (2001) đã cộng nhận quyền sở hữu tập thể của người dân bản
địa như là một yêu cầu đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên. Và sau đó chính
sách ngành Lâm nghiệp thông qua vào năm 2002 của Campuchia đã xác định sự
tham gia của người dân địa phương trong việc bảo tồn và quản lý rừng bền vững
là một phần quan trọng của việc cải cách chính sách. Việc phân cấp chính sách đã
tạo điều kiện hỗ trợ nhà nước cho lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ). Luật Rừng
6


(2002) đã mô tả các nhà tài trợ lâm nghiệp phải làm thế nào để vận hành và cho
phép cộng đồng được cấp quyền sở hữu tập thể.
Một điểm nhấn trong cách tiếp cận là sự nhấn mạnh khi mà Dự án Nghiên
cứu Lâm nghiệp cộng đồng đã đặt sự tham gia của người dân địa phương vào
việc lập kế hoạch, việc bầu ra những đại diện và đưa ra quyết định. Các làng
được bầu ra một uỷ ban quản lý lâm nghiệp cộng đồng và đóng góp cho dự thảo
quy định LNCĐ và sự thoả thuận quản lý LNCĐ. Một khi hệ thống quản lý
LNCĐ được triển khai, uỷ ban quản lý phải có trách nhiệm tìm kiếm những giải
pháp cho những vấn đề phát sinh. Sau đó, người dân trong vùng dự án thiết lập
cho riêng mình hệ thống chia sẻ lợi ích. Chum Kiri là nơi đầu tiên được chọn để
thực hiện dự án nghiên cứu rừng cộng đồng của chính phủ. Năm 2000 dự án bắt
đầu thiết lập với sự tham gia của 3 ngôi làng là Prey Yav, Damnakchoul và
Tbeing Pouk với tổng diện tích là 922 hecta. Cục Lâm nghiệp đã xác định có
hơn 200 khu rừng cộng đồng. Tổng cộng, có 19 tỉnh, thành phố, 76 quận, huyện,
157 xã, 615 làng nghề tham gia hoạt động lâm nghiệp cộng đồng. Có khoảng
60.000 hộ gia đình tham gia, quản lý về 180.000 ha rừng vừa bị xuống cấp [13].

đồng để tìm ra các giải pháp khắc phục. Cục Lâm nghiệp Hoàng gia đề xuất dự
thảo đầu tiên về dự luật lâm nghiệp cộng đồng, trong đó phần lớn là một bộ quy
tắc và quy định để cho phép người dân địa phương tham gia trong đề án tái trồng
rừng của chính phủ (Makarabhirom 2000).
Cộng đồng rừng ngập mặn Pred Nai được xem như một trường hợp
nghiên cứu để minh họa cho khả năng tham gia của người dân trong lâm nghiệp,
các làng Pred Nai đã thành công trong việc ngăn chặn việc đốn gỗ và tiến hành
tham gia các hoạt động như trồng cây. Những tác động ngay lập tức bao gồm
việc cải thiện sinh kế và điều kiện của các hệ sinh thái rừng ngập mặn, ngoài ra
còn là xúc tác cho phong trào quản lý dựa vào cộng đồng ở Thái Lan [13].
* Trung quốc:
Ở Trung Quốc rừng tiếp tục được quản lý theo tập thể, Trung Quốc là nơi
mà tập thể làm chủ hơn một nửa đất lâm nghiệp của quốc gia. Theo thống kê chính
thức của phòng thống kê, kể từ cuối những năm 1950, quyền sở hữu đất lâm nghiệp
đã được giới hạn cho nhà nước hoặc cho các cơ quan tập thể, tổng diện tích rừng
thuộc sở hữu của nhà nước chiếm 41,6% tổng số, còn lại là thuộc sở hữu của các cơ
quan tập thể, cụ thể là, các đơn vị hành chính cơ bản, các thị trấn và làng mạc.
Chiến lược quản lý rừng đầu tiên trên toàn quốc, là một chiến lược được triển khai
từ năm 1950 và đến nay vẫn còn tiếp tục, là chiến lược có quy mô lớn đã vận động
được sự tham gia của người dân địa phương vào quản lý và bảo vệ rừng. Đó là
những khu rừng được người dân địa phương trồng dọc theo các dòng suối, con
sông, đập để bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn, những khu rừng trồng để bảo tồn
nguồn nước sinh hoạt và cả những khu rừng trồng chắn gió và cát. Tỉnh Sơn Tây là
8


một ví dụ, vào giữa nhưng năm 1950, ngoài những khu rừng của làng, các hộ gia
đình, rừng còn được quản lý theo tập thể như “rừng thanh niên”, “rừng của phụ
nữ”, “ rừng của những người lính”, “rừng của trường”, “rừng nhà máy”... [13].
* Lào:


2.2. Thực trạng công tác bảo vệ rừng những năm qua trên Việt Nam
Hình thức quản lý rừng có sự tham gia của người dân đã tồn tại từ lâu đời
ở nước ta, nhưng sau khi Luật đất đai 2003 và Luật bảo vệ và phát triển rừng
2004 ra đời, người dân được cộng nhận là một chủ rừng thật sự, ngoài những
diện tích rừng do người dân tự quản lý lâu đời, nhà nước còn giao thêm diện tích
rừng cho cộng đồng quản lý. Theo Võ Đình Tuyên thì tính đến tháng 12 năm
2009, đã giao cho người dân quản lý trên toàn quốc là 191.383 hecta rừng
chiếm 1,4%, trong đó cộng đồng quản lý 171.395 hecta rừng tự nhiên, chiếm
1,7% so với tổng diện tích rừng tự nhiên của cả nước [11].
Tỷ lệ diện tích rừng theo các chủ thể quản lý
Tỷ lệ, Tổ chức
khác, 5.0, 5%

Ban QLR

18,3%
32,6%

1,4%

Doanh nghiệp nhà nước
Tổ chức KT khác

15,4%
Tỷ lệ, Hộ gia
đình, 24.8, 25%

Đơn vị vũ trang
Hộ gia đình

cộng đồng tự công nhận và quản lý lâu đời nhưng chưa được nhà nước giao với
diện tích 247.029,5 ha tương đương 8,9%. Thứ ba, rừng và đất rừng sử dụng vào
mục đích lâm nghiệp của các tổ chức nhà nước được cộng đồng nhận khoán bảo
vệ, khoanh nuôi và trồng mới theo hợp đồng khoán nhận rừng lâu năm (50 năm)
với diện tích 902.662,7 tương đương 32,3% [6]. Cũng trong báo cáo của mình,
Nguyễn Bá Ngãi đã đưa ra bảng số liệu tổng hợp về diện tích rừng cộng đồng
được thống kê theo các vùng kinh tế - sinh thái (Bảng 2.1).
Bảng 2.1. Thống kê diện tích rừng cộng đồng theo vùng kinh tế - sinh thái
Đơn vị: Ha
Diện tích đất Diện tích đất lâm nghiệp của người
lâm nghiệp dân theo nguồn gốc hình thành

Tên vùng

tại các vùng

Giao

Chưa giao

Khoán

Toàn quốc

2.792.946,3

1.643.254,1

247.029,5


0

0

1.124,4

4.612,9

Nam Trung Bộ 5.373,3
Tây Nguyên

62.422,3

19.229,6

671,2

42.521,5

Đông Nam Bộ

0

0

0

0

12.813,1


Số xã
được quy
hoạch

Số cộng
Diện
Đất lâm nghiệp
đồng
tích
được quy
được giao rừng đã
hoạch (ha)
rừng
giao (ha)

1

Điện Biên

4

30.284,41

8

4.287,5

2


4

551,5

5

Yên Bái

6

19.721,40

8

3.263,3

6

Nghệ An

4

29.407,11

3

369,0

7


6

1.374,5

10

Đắc Nông

2

17.881,10

2

1.900,2

39

241.933,42

64

16.798,1

Cộng 10 tỉnh

(Nguồn: Lê Thị Thưa, 2009)
Theo báo cáo này thì việc thí điểm mô hình lâm nghiệp cộng đồng tại các
xã tham gia dự án bước đầu đã thực hiện tốt. Đã hoàn thành xây dựng quy hoạch
bảo vệ và phát triển rừng có sự tham gia của người dân của 39 xã tham gia Dự

sử dụng

Bản Huổi Cáy, xã Mùn Chung, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên –
người dân đồng bào H’Mông
1

Người
dân Bản tự công Rừng
tự Bảo vệ nguồn
quản lý theo nhận từ lâu đời. nhiên, 81 ha nước. lấy gỗ làm
truyền thống
nhà, các lâm sản
khác tiêu dùng
hàng ngày.

Thôn Cài, xã Vũ Lâm, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình- người dân đồng
bào Mường
2

Nhóm hộ gia Xã hợp đồng sử Rừng
tự Phủ xanh đất trống,
đình
dụng rừng.
nhiên, rừng lấy gỗ, tre nứa bán
trồng, 31 ha ra thị trường.
(Nguồn: Nguyễn Bá Ngãi, 2009)

Trong đó thì tại Điện Biên nhóm hộ được UBND huyện giao đất giao rừng,
có quyết định kèm theo quyền lợi và nghĩa vụ của nhóm hộ. Trên thực tế, ở
nhiều nơi, việc quản lý rừng có sự tham gia của người dân đã được hình thành

VietNam” đã chỉ ra rằng, từ năm 2000 các cộng đồng người dân địa phương đã
được khuyến khích lập hương ước quản lý bảo vệ của cộng đồng được chi cục
hoặc cơ quan lâm nghiệp công nhận. Trong tỉnh Lai Châu có 1.791 ngôi làng
của 145 xã có quy ước, và ở tỉnh Sơn La, Hòa Bình có 339 và 1.566 quy ước,
tương ứng. Những quy ước được xây dựng dựa theo phong tục và truyền thống
quản lý và bảo vệ rừng, đồng thời được sửa đổi và phát triển để đáp ứng yêu
cầu của giai đoạn hiện nay. Các mô hình quản lý đã chứng minh là có hiệu quả,
được công nhận và được áp dụng rộng rãi. Các mô hình không chỉ củng cố vai
trò của người dân trong quản lý và bảo vệ rừng, mà còn là củng cố vai trò của
của phụ nữ (ví dụ: trên địa bàn tỉnh Sơn La) [12].
14


Bên cạnh đó Jean-Christophe Castellaa, Stanislas Boissaua, Nguyen Hai
Thanh và Paul Novosad đã có nghiên cứu về ảnh hưởng của việc giao đất giao
rừng ở một số tỉnh miền núi Việt Nam. Nghiên cứu đã chỉ ra quá trình hình thành
việc giao rừng và ảnh hưởng của việc giao rừng đến hệ thống sinh kế định canh
định cư, đến sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế. Từ đó rút ra bài học cho
các can thiệp đến sự phát triển cũng như tác động của các chính sách [8].
* Một số tỉnh Tây Nguyên:
Theo Bảo Huy trong “Xây dựng cơ chế hưởng lợi trong quản lý rừng cộng
đồng” thì kết quả trong 6 năm thử nghiệm, đã giao được 7.620 ha rừng tự nhiên, từ
nghèo đến trung bình, giao cho 6 cộng đồng thôn buôn ở 4 tỉnh (Bảng 2.4) [3].
Bảng 2.4. Diện tích rừng giao cho người dân ở các vùng thí điểm
DT rừng
giao(ha)

Đặc điểm rừng

808

Xã Yang Mao,
huyện Krông Bông,
tỉnh Dak Lak

Tên thôn

Địa điểm

Xã Hiếu, huyện
Vi
Ch
Kon Plong, tỉnh
Ring
Kon Tum

Xã Quảng Tâm,
Bu Nơr
huyện Tuy Đức,
(Thôn 6)
tỉnh Dak Nông
Xã Dăk Rtih, huyện
Mê Ra,
Dăk RLắp, tỉnh Dak
Bu Đưng
Nông
Tổng diện tích rừng (ha)

964

Rừng lá rộng thường xanh.

nhận rừng được hưởng lợi. Lý do căn bản là đa số các khu rừng được giao chưa
đạt tiêu chuẩn rừng khai thác theo các quy định hiện hành và như vậy người
quản lý rừng phải chờ đợi. Điều này đã hạn chế mối quan tâm quản lý rừng tự
nhiên của người dân; Để xác định quyền hưởng lợi của chủ rừng một cách công
bằng là dựa vào tăng trưởng sau giao rừng, người quản lý hưởng được phần tăng
trưởng rừng mà họ nuôi dưỡng, nếu bảo vệ nuôi dưỡng tốt sẽ hưởng lợi cao hơn
nhờ gia tăng lượng tăng trưởng. Tuy nhiên tăng trưởng theo trữ lượng là một
vấn đề khó xác định và thực tế ở Việt Nam đang thiếu chỉ tiêu này cho các kiểu
rừng, điều kiện lập địa, khí hậu và trạng thái rừng khác nhau. Vì vậy tiếp cận
theo tăng trưởng để xác định hưởng lợi là một nguyên tắc cần được áp dụng, tuy
nhiên cần có cách xác định đơn giản để có thể vận dụng và người dân có thể tiếp
cận được. Ông cũng chỉ ra rằng xây dựng mô hình rừng ổn định như là công cụ
xác định tăng trưởng số cây, làm cơ sở xác định quyền hưởng lợi, lập kế hoạch
và giám sát quản lý rừng cộng đồng. Một lựa chọn quan trọng trong trường hợp
này là lập kế hoạch và thực hiện khai thác hưởng lợi gỗ củi dựa vào mô hình
rừng ổn định. Mục tiêu xây dựng mô hình rừng ổn định nhằm định hướng trong
cân đối khả năng cung cấp của rừng địa phương với nhu cầu lâm sản của cộng
đồng ổn định trong một kỳ kế hoạch 5 năm, làm cơ sở cho việc xác định giải
pháp khai thác, chặt nuôi dưỡng rừng tự nhiên theo hướng dẫn dắt rừng về dạng
ổn định và tính toán được khả năng cung cấp gỗ, củi cho đời sống người dân [3].
Ngoài nguồn hưởng lợi từ lượng tăng trưởng về gỗ của rừng và các sản
phẩm lâm sản ngoài gỗ từ rừng thì trong nghiên cứu về cơ chế hưởng lợi từ
QLRCĐ, Bảo Huy cũng nhấn mạnh hưởng lợi từ các dịch vụ môi trường rừng,
đây là một tiềm năng để tạo ra thu nhập và khuyến khích người nhận rừng bảo vệ
và phát triển rừng; do vậy cần có nhiều quan tâm để phát triển chính sách về lĩnh

16


vực này; trong đó chi trả hấp thụ CO2 trong bảo vệ các khu rừng non, nghèo chưa

bảo vệ với khu
bảo tồn Pù Hu

2

Nhóm hộ
Giao cho 120 ha do 10 Trồng rừng sản xuất
tự
liên hộ quản lý và nhóm hộ tự liên cung cấp Luồng cho
kết quản sử dụng, các kết quản lý.
thị trường.

hộ tự liên kết

Rừng tự nhiên,
200 ha, trong đó
giao: 102 ha,
hợp đồng khoán:
98 ha

Bảo vệ nguồn nước,
lấy gỗ làm nhà, các
lâm sản khác tiêu
dùng hàng ngày, thu
nhập từ khoán bảo vệ

(Nguồn: Nguyễn Bá Ngãi, 2009)
Theo nghiên cứu của Vũ Hoài Minh và Dr. Hans Warfving tại Nghệ An
cho thấy tại đây mô hình quản lý rừng có sự tham gia của người dân đã xuất hiện
rất sớm và đã thu được một số kết quả trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Năm

huyện Hướng Hoá đã giao 187,9ha và huyện Đakrông đã giao 1.318,5ha cho
cộng đồng quản lý bảo vệ rừng. Đối tượng rừng giao là rừng phòng hộ ít xung
yếu, giao cho các đồng bào dân tộc ít người như Vân Kiều, Pako. Qua thực hiện
giao thí điểm rừng tự nhiên cho cộng đồng và hộ gia đình ở 2 huyện bước đầu đã
đạt được một số kết quả như là hạn chế được các vụ vi phạm tài nguyên rừng,
rừng được phục hồi và phát triển tốt, đồng thời tạo được động lực phát triển kinh
tế cho người dân. Tuy nhiên còn một số hạn chế là nghiệp vụ quản lý bảo vệ và
phát triển rừng của người dân chưa cao, đặc biệt là việc đầu tư làm giàu rừng
của cộng đồng và hộ gia đình chưa được quan tâm [10].
Về việc lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng thì theo Khổng Trung, với
sự hỗ trợ của dự án, 11 cộng đồng thuộc các xã A Vao, Tà Long, Pa Nang,
Đakrông, A Ngo, Húc của Quảng Trị đã xây dựng được kế hoạch quản lý rừng
cộng đồng, được UBND xã phê duyệt, song việc thực hiện kế hoạch đó vẫn chưa
được triển khai [4]. Một thực tế là không chỉ riêng ở Quảng Trị mà hiện nay rất
nhiều cộng đồng ở các tỉnh trên cả nước hoặc là không xây dựng kế hoạch quản
18


lý rừng sau khi giao, hoặc là có kế hoạch nhưng việc triển khai thực hiện chưa
có hiệu quả.
Đã có nhiều nghiên cứu về việc lập kế hoạch quản lý rừng sau khi giao,
trong đó phải kể đến đề tài của Bảo Huy về “Xây dựng mô hình quản lý rừng và
đất rừng dựa vào cộng đồng dân tộc thiểu số J Rai và Bahnar ở tỉnh Gia Lai”, để
tài đã tiến hành xây dựng tài liệu hướng dẫn: “ Lập kế hoạch quản lý rừng dựa
vào cộng đồng”. Hướng dẫn này có hệ thống theo tiến trình, dưới dạng các cộng
cụ để lập kế hoạch để kinh doanh rừng dựa vào cộng đồng sau khi giao đất giao
rừng. Các phương pháp điều tra và lập kế hoạch quản lý rừng được giới thiệu là
đơn giản, tạo điều kiện để người dân có khả năng tham gia, có tính thực tiễn và
như là một tài liệu cụ thể hóa các quy phạm lâm sinh hiện hành cho phù hợp với
điều kiện quản lý rừng của các người dân dân tộc thiểu số [3].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status