LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung, các số liệu và kết quả thu được là
do tôi trực tiếp theo dõi và thu thập với một thái độ khách quan, trung thực tại
địa phương cùng với việc tham khảo các bài viết trên sách, báo, tạp chí, các
luận văn thạc sỹ, một số luận văn tốt nghiệp của trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội và một số trường khác trong nước. Các tài liệu đã trích dẫn của các tác
giả đều được liệt kê đầy đủ, không sao chép bất cứ tài liệu nào mà không có
trích dẫn.
Tôi xin cam đoan các số liệu được sử dụng trong luận văn tốt nghiệp đại
học của tôi là đúng sự thật và chưa được sử dụng cho một công trình nghiên cứu
nào khác.
Hà Nội, ngày
tháng năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Thị Vân Anh
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp của mình tôi đã nhận được
sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo trong trường và tập
thể lãnh đạo UBND xã An Đồng cùng các hộ nông dân trong xã, đến nay tôi
đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp đại học của mình.
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Kinh
tế và PTNT cũng như các thầy cô trong trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
đã dạy dỗ, dìu dắt tôi đến ngày hôm nay.
Sau nữa, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo PGS.TS.
Nguyễn Tuấn Sơn, giảng viên khoa Kinh tế và PTNT đã tận tình hướng dẫn
đã thu thập được của 60 hộ gia đình đã, đang và chưa tham gia xuất khẩu lao
động, từ đó so sánh tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của các hộ gia
đình nhằm đạt một số các mục tiêu sau: i) Đánh giá thực trạng xuất khẩu lao
động ở xã An Đồng huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình trong thời gian qua
(2005 – 2009); ii) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định đi
xuất khẩu lao động của người dân địa phương; iii) Phân tích những tác động
do xuất khẩu lao động mang lại cho người dân của xã An Đồng trong thời
gian qua; iv) Đề xuất các giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế
những tác động tiêu cực do xuất khẩu lao động mang lại đối với người dân tại
địa phương.
Kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng về số lượng xuất khẩu lao
động tại xã An Đồng huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình là không đông so với
các xã khác trong huyện, bình quân cứ 11 hộ gia đình thì có 1 hộ gia đình có
lao động đi xuất khẩu tương ứng với cứ 43 khẩu thì có 1 khẩu đi xuất khẩu
lao động. Số lượng lao động đi xuất khẩu của xã tăng qua các năm tuy nhiên
tốc độ tăng không đồng đều giữa các năm. Lượng người đi xuất khẩu lao
động của xã trong giai đoạn 2005 – 2009 chiếm 24,18% tổng số lao động
xuất khẩu của toàn huyện. Thực trạng về chất lượng lao động đi xuất khẩu
nước ngoài cũng không khác gì tình trạng chung của các địa phương khác,
lao động đi xuất khẩu đều là lao động phổ thông chưa qua đào tạo, trình độ
chuyên môn chưa cao, tay nghề thấp, tác phong chậm chạp, tinh thần trách
nhiệm chưa cao, chủ yếu mới qua đào tạo sơ đẳng. Thực trạng về độ tuổi và
giới tính thì phần lớn là lao động nam giới tham gia xuất khẩu chiếm
53,22% tổng số. Độ tuổi tham gia xuất khẩu lao động chiếm đa số ở lứa tuổi
3
từ 26 – 30 tuổi, chiếm 49,49%. Thực trạng về ngành nghề công việc chủ yếu
là làm việc thủ công, ít hoặc không sử dụng công nghệ kỹ thuật cao như xây
dựng, may mặc, giúp việc gia đình, điện tử… thị trường lao động tham gia
người lao động nói riêng và đối với cộng đồng nói chung. Phần lớn các hộ được
điều tra đều cho rằng sau khi đi XKLĐ về nước những người ở nhà đều có
những biến đổi nhất định, gia đình bất hòa, gia đình, con cái thiếu người chăm
sóc, tính bền vững của gia đình bị giảm sút. Người đi XKLĐ đặc biệt là đối với
lao động nữ đồng nghĩa với việc con cái ở nhà không ai chăm sóc, cha mẹ già
không ai phụng dưỡng. Cũng chính từ đó mà gây mất trật tự an ninh xã hội và tỷ
lệ thất nghiệp tự nguyện ngày một gia tăng. Thêm vào đó, XKLĐ còn làm cho
người lao động chán ruộng không muốn lam lũ như trước nữa.
Cuối cùng nghiên cứu của chúng tôi đưa ra một số định hướng và giải
pháp nhằm khắc phục những tác động tiêu cực, phát huy những tác động tích
cực nhằm đẩy mạnh công tác XKLĐ góp phần vào công cuộc CNH - HĐH
đất nước.
5
MỤC LỤC
Lời cam đoan ............................................................................................................... i
Lời cảm ơn ..................................................................................................................................
ii
Mục lục .......................................................................................................................................
iii
Danh mục bảng............................................................................................................................
ix
Danh mục sơ đồ và bảng biểu.....................................................................................................
x
Danh mục các từ viết tắt..............................................................................................................
xi
DANH MỤC BẢNG
TBXH
TTCN – CN
THCS
THPPT
TNBQ
TN
Tr.đ
UBND
VL
XĐGN
XH
XKLĐ
WTO
Ảnh hưởng ít
Ảnh hưởng mạnh
Ảnh hưởng trung bình
Bình quân
Cơ cấu
Cao đẳng
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Dịch vụ
Đào tạo
Đơn vị tính
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ
Không ảnh hưởng
Kinh tế - xã hội
Lao động
Lao động xã hội
nhiều nước chú trọng đặc biệt là đối với các nước đang phát triển.
Ở Việt Nam với dân số hơn 85 triệu người, trong đó lực lượng lao động
chiếm 60%, tỷ lệ thất nghiệp khoảng 6,3% thì sức ép của tình trạng thiếu việc
làm là một vấn đề vô cùng cấp thiết. Trước tình hình đó, xuất khẩu lao động là
một hướng đi quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động
trong nước, giúp họ nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống gia đình. Mặt khác,
xuất khẩu lao động còn góp phần giải quyết các mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã
hội, mang lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia và tạo sự ổn định cho xã hội [5].
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề xuất khẩu lao động trong
việc giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân, Đảng và Nhà
nước ta đã và đang có những chủ trương chính sách nhằm tạo điều kiện cho
lao động trong nước ra nước ngoài làm việc. Xuất phát từ chủ trương chính
sách đó, Đảng uỷ - Ủy ban nhân dân xã An Đồng đã và đang dành sự quan
tâm đặc biệt cho vấn đề lao động, việc làm nói chung và xuất khẩu lao động
nói riêng nhằm giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương.
An Đồng là một xã nằm ở phía Đông Bắc của huyện Quỳnh Phụ tỉnh
Thái Bình – quê hương của chị Hai năm tấn, nổi tiếng với nghề trồng lúa
nước truyền thống. Người dân nơi đây chủ yếu kiếm sống dựa vào làm nông
nghiệp là chính, tuy nhiên trong thời gian gần đây do sự khủng hoảng của nền
kinh tế, giá cả leo thang làm cho cuộc sống của người dân gặp nhiều khó khăn khi
chỉ dựa vào mấy sào ruộng. Thêm vào đó trong quá trình hội nhập của nền kinh tế,
9
xuất khẩu lao động đã phần nào tác động vào cuộc sống của người dân nơi đây.
Từ năm 2005 cho đến nay xã đã có gần 700 người đi lao động ở một số nước
như Đài Loan, Hàn Quốc, Ucraina, Nhật Bản… [21] và khoản tiền mà mọi
người mang về hằng năm là không nhỏ. Tuy nhiên những vấn đề bất cập phát
sinh từ xuất khẩu lao động cũng là điều đáng được xem xét. Vấn đề đặt ra là xuất
khẩu lao động ở đây đã và đang diễn ra như thế nào và những tác động của nó
- Tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân như thế
nào? Được thể hiện qua những mặt nào?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu gián tiếp là các vấn đề kinh tế - xã hội liên quan
đến hiện tượng xuất khẩu lao động ở địa phương.
- Đối tượng nghiên cứu trực tiếp là các hộ gia đình đã và đang có người
tham gia xuất khẩu lao động ở nước ngoài trên địa bàn xã.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Những tác động của xuất khẩu lao động đến hộ
gia đình và địa phương trên các mặt về kinh tế và xã hội của xã.
- Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu tình hình xuất khẩu lao động
tại địa phương từ năm 2005 – 2009.
- Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các hộ gia đình
đã và đang có người tham gia xuất khẩu lao động tại xã.
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM
11
2.1.1 Khái niệm về xuất khẩu
Quốc gia cũng như cá nhân không thể sống một cách riêng rẽ mà có
được đầy đủ mọi thứ hàng hoá. Việc bán hàng hoá, dịch vụ của quốc gia này
cho quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền để thanh toán được gọi là xuất khẩu.
Mục đích của xuất khẩu là khai thác được lợi thế của từng quốc gia
trong phân công lao động quốc tế. Dựa trên cơ sở là sự phát triển hoạt động
mua bán hàng hoá trong nước, hơn bao giờ hết xuất khẩu đã và đang diễn ra
mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trong tất cả các ngành, các lĩnh vực,
dưới mọi hình thức đa dạng và phong phú cả về hàng hoá hữu hình và hàng
một chính sách vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội giữ vai trò quan
trọng không chỉ đối với người lao động, các doanh nghiệp mà còn đối với
Nhà nước và xã hội. Hiện nay chưa có một khái niệm chuẩn nào về XKLĐ.
Đây là một trong những thuật ngữ được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác
nhau.
Hiểu theo nghĩa rộng, XKLĐ là việc đưa người lao động sang làm việc
tại nước ngoài. Theo nghĩa hẹp XKLĐ được hiểu là hoạt động trao đổi, mua
bán hay thuê mướn hàng hoá sức lao động giữa chính phủ một quốc gia hay tổ
chức, cá nhân cung ứng sức lao động của nước đó với chính phủ, tổ chức, cá
nhân sử dụng sức lao động nước ngoài trên cơ sở hiệp định hay hợp đồng cung
ứng lao động. Khi hoạt động XKLĐ được thực hiện sẽ có sự di chuyển lao động
có thời hạn và có kế hoạch từ một nước sang một nước khác. Trong hành vi trao
đổi này, nước đưa lao động đi được coi là nước XKLĐ, nước tiếp nhận sức lao
động được coi là nước nhập khẩu lao động. Trên thực tế có trường hợp xuất hiện
vai trò của nước thứ ba làm nhiệm vụ trung gian, môi giới hoặc kinh doanh. [6]
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì XKLĐ là hoạt động kinh tế
của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác
trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất pháp quy được thống
nhất giữa các quốc gia đưa và nhận lao động. Trong nền kinh tế thị trường,
XKLĐ là một hoạt động kinh tế đối ngoại, mang đặc thù của xuất khẩu nói
chung. Thực chất XKLĐ là một hình thức di cư quốc tế. Tuy nhiên, đây chỉ là
sự di cư tạm thời và hợp pháp. [6]
13
Theo chỉ thị số 41 – CT/TW ngày 29/09/1998 của Bộ chính trị cho rằng
XKLĐ được hiểu là việc đưa lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời
hạn ở nước ngoài. Đây là một hoạt động kinh tế – xã hội của Nhà nước nhằm góp
phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và nâng cao trình
và tiếp nhận lao động...
Phân tích cụ thể, ta thấy những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự hình
thành và phát triển XKLĐ là do:
Thứ nhất, do có sự mất cân đối về số lượng lao động, khi nguồn lao
động một nước không đáp ứng đủ hoặc vượt quá nhu cầu sử dụng trong nước.
Sự dư thừa lao động, vượt quá nhu cầu sử dụng trong nước của một nước có
thể là do nước đó có tỷ lệ phát triển dân số cao nền sản xuất trong nước lạc
hậu, kém phát triển nên nhu cầu sử dụng lao động thấp hoặc do nước đó có sự
chuyển đổi cơ chế kinh tế mà trong giai đọan chuyển tiếp nền kinh tế chưa thể
phù hợp ngay với cơ chế mới nên đã giảm sút nghiêm trọng, sản xuất bấp
bênh, số lao động dư thừa tăng nhanh. Trong khi đó, nhiều nước có nền kinh
tế phát triển nhanh, nhu cầu sử dụng lao động lớn trong khi tốc độ tăng dân số
lại quá thấp nên đã xảy ra hiện tượng thiếu lao động.
Thứ hai, do có sự mất cân đối về cơ cấu ngành nghề nhất định mà
trong nước không có hoặc không đủ. Ví dụ: ở một số nước phát triển rất
thiếu lao động trong các ngành nặng nhọc, độc hại còn ở nước nghèo lại
thiếu các chuyên gia, cán bộ kỹ thuật có trình độ cao. Trong khi trình độ
phát triển kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật của mỗi quốc gia không thể
giải quyết hết sự mất cân bằng này, đòi hỏi phải có sự trao đổi lao động
với các quốc gia khác. Hành vi trao đổi này dẫn đến sự ra đời và phát
triển của XKLĐ.
Thứ ba, do có sự chênh lệch giá cả sức lao động trong nước và sức lao
động nước ngoài. Nhiều nước mặc dù không dư thừa lao động cũng tiến hành
XKLĐ vì có lợi cho cán cân thanh toán do họ có được những hợp đồng
XKLĐ có giá cao và bù lại họ nhập khẩu lao động từ những nước có giá cả
thấp hơn. Điều này lý giải vì sao có những nước vừa nhập khẩu lại vừa
XKLĐ như: Cuba, Malaysia, Bungari...
15
16
giỏi có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Và do đó, lao động từ chỗ dư thừa sẽ
chảy về chỗ thiếu hụt như một quy luật tất yếu. Sự di chuyển lao động này
cũng tuân theo quy luật cung - cầu của nền kinh tế thị trường.
* XKLĐ là một hoạt động xuất khẩu đặc biệt
Trong hoạt động XKLĐ, người lao động sẽ đem bán sức lao động của
mình cho chủ sử dụng lao động ở nước ngoài và nhận về một khoản tiền công
là tiền lương được trả. Chính vì sức lao động là một hàng hoá đặc biệt nên
tính chất của XKLĐ không chỉ đơn thuần như hoạt động xuất khẩu hàng hoá
thông thường, tranh chấp về những hàng hoá xuất khẩu giữa các nước đã khó
giải quyết bao nhiêu thì tranh chấp và những vi phạm trong việc XKLĐ giữa
các nước lại càng khó giải quyết và khó xử lý hơn rất nhiều.
* XKLĐ là một hoạt động kinh tế mang tính lợi ích cao
Ở nhiều nước trên thế giới, XKLĐ là một trong những giải pháp quan
trọng thu hút lực lượng lao động đang tăng lên của nước họ và thu ngoại tệ bằng
hình thức chuyển tiền về nước của người lao động và các lợi ích khác. Những lợi
ích này đã buộc các nước xuất khẩu phải chiếm lĩnh ở mức cao nhất thị trường
lao động ở nước ngoài, mà việc chiếm lĩnh được hay không lại dựa trên quan hệ
cung cầu sức lao động - nó chịu sự điều tiết, sự tác động của các quy luật của
kinh tế thị trường. Bên cung phải tính toán mọi hoạt động của mình làm sao để
bù đắp được chi phí và có phần lãi vì vậy cần phải có cơ chế thích hợp để tăng
khả năng tối đa về cung lao động. Bên cầu cũng phải tính toán kỹ lưỡng hiệu quả
của việc nhập khẩu lao động. Như vậy, việc quản lý Nhà nước, sự điều chỉnh
pháp luật luôn luôn bám sát đặc điểm này của hoạt động XKLĐ làm sao để mục
tiêu kinh tế phải là mục số một của mọi chính sách pháp luật về XKLĐ.
XKLĐ mang lại một khoản thu cho ngân sách Nhà nước nhờ khoản
thuế thu từ hoạt động của các công ty, doanh nghiệp XKLĐ.
quyết được tình trạng thiếu hụt lao động ở những nước tiếp nhận. Hoạt động XKLĐ
không chỉ đơn giản là đem sức lao động của người lao động từ nước này sang nước
khác, biên giới giữa các quốc gia không chỉ là mốc ngăn cách các quốc gia với nhau
mà còn ngăn cách cả nền văn hoá, lối sống, tín ngưỡng, phong tục, tập quán… của
các quốc gia đó. Chính vì lẽ đó hoạt động XKLĐ cũng kèm theo nó là một loạt
những xáo trộn về xã hội của nước XKLĐ và nơi tiếp nhận lao động xuất khẩu.
18
XKLĐ cũng góp phần cải thiện đời sống của nhân dân thông qua khoản
thu nhập mà người lao động gửi tiền về cho gia đình và người thân. Đây cũng
là một trong những biện pháp hiệu quả để thực hiện chương trình xoá đói
giảm nghèo cho nhân dân của Đảng và Nhà nước ta.
* XKLĐ diễn ra trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt
Cũng như mọi hoạt động kinh tế khác, hoạt động XKLĐ cũng đặt
trong môi trường cạnh tranh gay gắt. Sự cạnh tranh gay gắt trước hết là từ
phía những người lao động với nhau. Bởi số lượng người lao động được
chọn đi xuất khẩu sang các nước là có hạn trong khi số lượng người lao
động muốn đi xuất khẩu lại lớn. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh gay gắt này còn
diễn ra giữa những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực XKLĐ để sao cho
thu được nhiều lợi nhuận nhất, hoạt động sao cho có hiệu quả nhất. Họ phải
cạnh tranh nhau khi cùng xuất khẩu vào một thị trường, cùng hoạt động trên
một địa bàn. Sự cạnh tranh nhau còn diễn ra trên toàn thế giới chứ không
hạn hẹp trong phạm vi của một quốc gia khi mà nhiều nước trên thế giới
cùng cố gắng thúc đẩy hoạt động XKLĐ.
Tính gay gắt trong cạnh tranh của XKLĐ xuất phát từ hai nguyên
nhân chủ yếu. Một là, XKLĐ mang lại lợi ích kinh tế khá lớn cho các nước
đang có khó khăn về giải quyết việc làm. Do vậy, đã buộc các nước XKLĐ
phải cố gắng tối đa để chiếm lĩnh thị trường ngoài nước. Nghĩa là, họ phải
2.3 VAI TRÒ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU LAO
ĐỘNG
2.3.1 Vai trò của xuất khẩu lao động
XKLĐ đóng vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển của mỗi
quốc gia đặc biệt là những nước có nền kinh tế chậm và đang phát triển như Việt
Nam. Với ý nghĩa đó trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010
Đảng ta đã xác định: “ Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân
tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, nhằm làm lành mạnh hoá văn hoá xã
hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân”… “ Đẩy
mạnh XKLĐ, xây dựng và thực hiện đồng bộ chặt chẽ cơ chế chính sách về đào
tạo nguồn lao động, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài và tăng cường bảo vệ
20
quyền lợi, uy tín của người lao động Việt Nam ở nước ngoài” [11]. Trong đó,
Đảng và Nhà nước đã xác định rõ vai trò to lớn của việc XKLĐ. Cụ thể như sau:
Trước hết, về mặt xã hội XKLĐ có vai trò đặc biệt trong việc giải quyết
việc làm và ổn định thị trường lao động. Đối với các quốc gia có nền kinh tế
chưa phát triển khối lượng việc làm tạo ra trong xã hội là rất hạn chế so với
khối lượng lao động trong độ tuổi rất dồi dào của họ bởi vậy thất nghiệp và
giải quyết việc làm luôn là vấn đề đau đầu của các nhà lãnh đạo quốc gia.
Ở Việt Nam, hiện nay có gần 700.000 lao động và chuyên gia làm việc
tại trên 40 quốc gia có nền kinh tế và vùng lãnh thổ với nhiều nhóm ngành
nghề khác nhau. Theo cục Quản lý lao động ngoài nước và Bộ Lao động
thương binh – Xã hội, năm 2007 Việt Nam đã đưa được 85.000 lao động đi
xuất khẩu ở các nước trên thế giới, năm 2008 con số xuất khẩu lao động đã
tăng lên đến 87.000 người trong khi đó kế hoạch đề ra là 85.000 người vượt
so với kế hoạch là 2,35% có thể nói đây là năm thành công nhất của xuất khẩu
lao động Việt Nam, đến năm 2009 do khủng hoảng của nền kinh tế toàn cầu
tệ cao cho quốc gia. Không dừng lại ở đó, XKLĐ còn góp phần làm tăng thu
ngân sách Nhà nước nhờ những khoản thuế thu từ hoạt động của các doanh
nghiệp XKLĐ và từ khoản ngoại tệ lao động gửi về nước. Đồng thời, XKLĐ
còn giúp các doanh nghiệp làm XKLĐ thu được một khoản lợi nhuận đáng kể
để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. XKLĐ còn là một
trong những công cụ hữu hiệu cho việc chuyển giao công nghệ tiên tiến hiện
đại của nước ngoài thông qua quá trình đào tạo và làm việc ở nước ngoài của
người lao động. Thông qua đó quốc gia có lao động đi xuất khẩu sẽ có được
đội ngũ lao động có tay nghề và trình độ cao, có tác phong công việc và ý
thức kỷ luật cao. Bên cạnh đó đời sống của người lao động và người thân
trong gia đình họ cũng được cải thiện rõ rệt. Như vậy, XKLĐ vừa trực tiếp lại
vừa gián tiếp góp phần thúc đẩy sự phát triển và ổn định xã hội.
2.3.2 Những vấn đề đặt ra đối với xuất khẩu lao động
Một trong những thành tựu lớn của các cuộc đàm phán phương mại đa
phương của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là đã đưa được dịch vụ vào hệ
thống thương mại thế giới trong vòng đàm phán Urugoay (1986 - 1993) thông
qua Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), có hiệu lực từ ngày
01/01/1995 và đã đạt được các cam kết đầu tiên thông qua các cuộc đàm phán
22
mở rộng giữa các nước thành viên WTO. Sự ra đời của GATS không chỉ có tác
động thúc đẩy tự do hóa thương mại toàn cầu mà còn có ảnh hưởng lớn tới lĩnh
vực lao động - việc làm của các quốc gia, trong đó có vấn đề di chuyển quốc tế
của người lao động. Sự liên quan trực tiếp của GATS tới sự tự do di chuyển của
người lao động giữa các quốc gia là qui định về “tự do hóa sự di chuyển của con
người để cung cấp dịch vụ giữa các thành viên WTO” của GATS [17].
Với tư cách là thành viên WTO, Việt Nam chịu tác động, ảnh hưởng của
các quy định chung được áp dụng cho hoạt động thương mại toàn cầu của WTO.
Việt Nam đã thực hiện đưa người lao động ra nước ngoài làm việc từ những năm
tham gia mạnh mẽ hơn vào quá trình phân công lao động quốc tế. Song song với
quá trình này, cần cập nhật và thống kê riêng hoạt động của hai nhóm đối tượng
này để tránh sự trùng lặp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, đánh giá
hiệu quả kinh tế - xã hội của các nhóm lao động này đem lại cho đất nước trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ hai, với tư cách là thành viên WTO, trong các cuộc đàm phán về tự
do hóa thương mại dịch vụ trong WTO, Việt Nam cần tranh thủ sự đồng
thuận của các quốc gia đang phát triển, nhất là các nước đang xuất khẩu lao
động đối với các đề xuất, cam kết của Việt Nam về tự do hóa của GATS,
đồng thời ủng hộ ý kiến của nhóm nước này về yêu cầu các thành viên, nhất
là các nước phát triển dỡ bỏ rào cản đối với quá trình tự do hóa di chuyển của
lao động, nhất là lao động trình độ thấp như yêu cầu về kinh nghiệm, kiểm tra
nhu cầu kinh tế, hạn chế thị thực, hạn chế thời gian lưu trú hoặc công nhận tay
nghề lẫn nhau trong khu vực và của các ngành trên phạm vi toàn cầu để có cơ
hội đưa ra được những quy định, ý kiến có lợi cho Việt Nam với các nước để
tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động Việt Nam dễ dàng tiếp cận thị
trường lao động các nước này cũng như thị trường lao động quốc tế, góp phần
gia tăng lợi ích quốc gia khi tham gia vào quá trình phân công lao động toàn
cầu. Để thực hiện được những điều này, vấn đề cần thiết đặt ra là phải nhanh
chóng đổi mới phương pháp giáo dục hướng nghiệp và đào tạo, dạy nghề hiện
nay ở Việt Nam theo hướng tăng cường thực hành, thực nghiệm, tiếp cận với
hệ thống tiêu chuẩn bằng cấp, trình độ tay nghề của khu vực và thế giới. Do
đó, cần tăng cường sự phối hợp, liên kết, liên doanh giữa các trường học, các
cơ sở đào tạo dạy nghề với các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp, các việc
nghiên cứu, trung tâm ứng dụng khoa học... của Việt Nam và nước ngoài tại
Việt Nam trong giáo dục đào tạo, dạy nghề; đẩy mạnh sự hợp tác quốc tế, liên
kết, liên doanh với các đối tác nước ngoài trong việc đào tạo và dạy nghề,
công nhận trình độ, bằng cấp, chứng chỉ tay nghề cho lao động Việt Nam để
phù hợp với các tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.
Thứ ba, nới lỏng hay hạn chế sự di chuyển quốc tế của người lao động
tập trung chủ yếu ở nông thôn. Vì vậy, vấn đề lao động và việc làm ở nông
thôn vốn tồn tại nhiều khó khăn, nay lại càng trở nên khó khăn hơn do ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Có thể nói rằng khu vực nông
thôn ở Việt Nam đang rất dễ tổn thương trước tác động của toàn cầu hóa.
Thêm vào đó, việc đình đốn sản xuất ở các doanh nghiệp trong nước dẫn đến
tình trạng mất việc làm, trực tiếp thu hẹp quy mô việc làm ở cả nông thôn và
25