Nghiên cứu các tính chất lý hoá học cơ bản của đất và đánh giá thích hợp của cây trồng tại xã Ngọc Mỹ, huyện Tân Lạc, tỉnh Hoà Bình - Pdf 22

LỜI NÓI ĐẦU
Kết thúc khoá học 2006 – 2010, được sự cho phép và nhất trí của Ban
giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa Lâm học tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu các tính chất lý hoá học cơ bản của đất và đánh giá thích
hợp của cây trồng tại xã Ngọc Mỹ, huyện Tân Lạc, tỉnh Hoà Bình”
Sau thời gian nghiên cứu và làm việc nghiêm túc, đến nay khoá luận đã
hoàn thành. Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn
sâu sắc tới thầy giáo Vi Văn Viện đã hết lòng hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong
quá trình thực hiện khoá luận này. Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể thầy
giáo, cô giáo trong Khoa Lâm học đã nhiệt tình giảng dạy, quan tâm trong
suốt khóa học này.
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các đồng chí lãnh đạo,
cán bộ xã Ngọc Mỹ và đông đảo bà con nhân dân xóm Biệng đã nhiệt tình
giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực tập ngoại
nghiệp.
Mặc dù đã cố gắng, nhưng do năng lực và kinh nghiệm của bản thân có
hạn, khoá luận này không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi kính mong nhận
được sự chỉ bảo, góp ý từ các thầy cô giáo và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày 9 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Thị Hoa
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tài nguyên đất có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống của con
người và sinh vật trên trái đất. Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển, quỹ
đất ngày càng khan hiếm hạn hẹp thì “Tấc đất là tấc vàng”. Từ ngàn đời xưa
cho đến nay đất đai luôn gắn bó mật thiết với con người, trong mọi ngành
nghề, lĩnh vực của cuộc sống.
Ngành lâm nghiệp không thể phát triển tốt nếu như không có đất. Bởi
đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là điều kiện tiên quyết. Trong hoạt động sản

nói chung và phân loại đất nói riêng.
V.V.Docutraev (1879) cho rằng: Đất là vật thể tự nhiên luôn biến đổi,
là sản phẩm chung được hình thành dưới tác động tổng hợp của 5 nhân tố
hình thành đất: Đá mẹ, Khí hậu, Địa hình, Sinh vật (Thực vật, động vật) và
thời gian. Trong đó ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của thực vật trong quá
trình hình thành đất “nhân tố chủ đạo trong quá trình hình thành đất ở nhiệt
đới là nhân tố thảm thực vật rừng” bởi vì nó là yếu tố sáng tạo ra chất hữu cơ
và khi chết nó tạo thành mùn [4].
Trong lĩnh vực đất rừng, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu tính
chất của đất ở các khu vực khác nhau và đã rút ra kết luận: Nhìn chung độ phì
của đất dưới rừng trồng đã được cải thiện đáng kể và sự cải thiện tăng dần
theo tuổi (Shash, 1878; Iha.M.N, Pande.P và Rathore, 1984; Basu.P.K và
Aparajita Madi, 1987; Chakraborty.R.N và Chakraborty – D, 1989; Ohta,
1993). Các loài cây khác nhau ảnh hưởng rất khác nhau đến độ phì của đất,
cân bằng nước, sự phân hủy thảm mục và chu trình dinh dưỡng khoáng
(Bernhard Reversat.F, 1993; Trung tâm Lâm nghiệp quốc tế (CIFOR), 1998;
Chandran.P, Dutta.D.R, Gupta.S.K và Banerjee.S.K, 1998) [4].
3
Basu.P.K và Aparajita Man (1987) nghiên cứu về ảnh hưởng của rừng
Bạch đàn lai trồng vào các năm 1971, 1975, 1981 đến tính chất đất. Kết quả
nghiên cứu của tác giả cho rằng nhìn chung độ phì đất dưới tán rừng Bạch đàn
lai đã được cải thiện và tăng theo tuổi cây. Chất hữu cơ và dung lượng cation
trao đổi tăng đáng kể trong khi đạm tổng số tăng rất ít và độ chua của đất
cũng giảm [6].
Chakraborty.R.N và Chakraborty.D (1989) đã nghiên cứu về sự thay
đổi tính chất đất dưới tán rừng Keo lá tràm ở các tuổi 2, 3, 4. Tác giả cho thấy
rừng trồng Keo lá tràm cải thiện đáng kể một số tính chất độ phì đất như độ
chua của đất biến đổi từ 5,9 – 7,6, khả năng giữ nước của đất tăng từ 22,9 –
32,7%, chất hữu cơ tăng từ 0,81 – 2,70%, đạm tăng từ 0,364 – 0,504% và đặc
biệt màu sắc đất biến đổi một cách rõ rệt từ màu nâu vàng sang màu nâu [10].

Trần Khải, 1997 cho rằng: Chất hữu cơ và độ ẩm là hai yếu tố quan
trọng hàng đầu giữ vai trò điều tiết độ phì nhiêu thực tế của đất [4].
Năm 1970, Nguyễn Ngọc Bình đã nghiên cứu sự thay đổi các tính chất
và độ phì của đất qua các quá trình diễn thế thoái hóa và phục hồi rừng của
thảm thực vật ở miền Bắc Việt nam. Tác giả cho rằng độ phì của đất biến
động rất lớn đối với mỗi loại thảm thực vật. Thảm thực vật đóng vai trò quan
trọng nhất trong việc duy trì độ phì của đất [4].
Trong khóa luận tốt nghiệp trường đại học lâm nghiệp năm 2000,
Phùng Thế Hoàn, Nghiên cứu tính chất vật lý, hóa học của đất từ 0 -20cm
vùng núi đá làm cơ sở cho việc chọn lựa cây trồng phù hợp tại khu bảo tồn
Thiên nhiên Hang kia – Pàcò – Mai Châu – Hòa Bình.
Trong ấn phẩm “Đánh giá tiềm năng sản xuất đất Lâm nghiệp Việt
nam” của Đỗ Đình Sâm và Nguyễn Ngọc Bình (2001), sử dụng 8 yếu tố để
đánh giá mức độ thích hợp cây trồng và đưa ra được tính chất phân chia độ
thích hợp cây trồng cho loài Bạch đàn trắng, Keo tai tượng, Tếch, Thông ba
lá, Thông nhựa và đề xuất vùng thích hợp đối với các loài cây đó.
Năm 2005, trong “Hệ thống đánh giá đất Lâm nghiệp” của Đỗ Đình
Sâm, Ngô Đình Quế và Vũ Tấn Phương, các tác giả đã thử nghiệm tiêu chí và
5
chỉ tiêu đánh giá đất đai làm cơ sở đánh giá mức độ thích hợp cây trồng, trong
đó có 7 tiêu chí về điều kiện tự nhiên. Từ các kết quả thử nghiệm và qua
nhiều cuộc hội thảo bộ tiêu chí và chỉ tiêu cho đánh giá đất đai và mức độ
thích hợp cây trồng được đề xuất 6 tiêu chí. Các tiêu chí đó là : Thành phần
cơ giới, độ dày tầng đất, độ dốc, thảm tươi thực vật, độ cao tuyệt đối và lượng
mưa bình quân năm.
Trong “Cẩm nang đánh giá đất phục vụ trồng rừng” năm 2005, hướng
dẫn cụ thể về phương pháp đánh giá mức độ thích hợp cây trồng theo phương
pháp yếu tố hạn chế với 6 tiêu chí được xác định ở trên và đưa ra tiêu chuẩn
thích hợp chuẩn cho 30 loài cây trồng chủ yếu.
6

- Độ ẩm không khí trung bình năm là 82%, độ ẩm tháng cao nhất là 99%
(tháng 3, 4), thấp nhất là 49% (tháng 1).
- Chế độ chiếu sáng: số giờ chiếu sáng trong năm là 2100 - 3000 giờ.
- Hướng gió chủ đạo là hướng Đông Nam, Tây Bắc và Tây Nam. Hàng
năm thường có gió mùa, gió lào và rét đậm kéo dài.
- Sương mù thường xuất hiện vào các tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
Sương muối thường xuất hiện nhiều vào tháng 12 và tháng 1 năm sau.
2.1.4. Điều kiện thổ nhưỡng
Theo tài liệu “Đất Hòa Bình”, Ngọc Mỹ là vùng có địa chất cổ nhất được
tạo thành từ kỷ Đề von cùng hệ tạo Sơn Hymalaya. Trải qua nhiều lần chuyển
động địa chất, các nham thạch bị xáo trộn, đá Trầm tích và đá Macma một phần bị
biến chất.
2.2. Lịch sử rừng trồng
Trước đây, toàn bộ khu vực đồi 174m và đồi 163m là rừng thứ sinh nghèo
chủ yếu là Tre, Luồng và dây leo, cây bụi. Vào những năm 1985 - 1986, nhằm
giải quyết vấn đề lương thực trước mắt tại xã theo vận động của chính quyền địa
phương người dân bắt tay vào khai thác rừng để trồng Sắn.
Hiện nay, toàn bộ khu vực đồi 174m và đồi 163m đều là rừng trồng Keo
thuần loài, Keo bắt đầu được đưa vào trồng từ năm 1992 theo dự án trồng rừng
của nhà nước.
Rừng Keo đã được khai thác một lần, hiện tại tuổi của rừng Keo ở đồi 174
là 10 - 12 tuổi, đồi 163 là 6 - 8 tuổi.
Khi trồng Keo, đất tại khu vực có được bón phân nhưng lượng phân bón là
thấp.
2.3. Tác động của con người vào khu vực nghiên cứu
Lao động trong xã là lao động nông lâm nghiệp. Do nhu cầu về chất đốt
cùng với đời sống kinh tế của nhiều hộ còn rất nhiều khó khăn nên người dân
thường lên đồi lấy củi, hoạt động chăn thả gia súc còn mang tính chăn thả tự nhiên
gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của cây bụi thảm tươi ở đây.
8

+ Hàm lượng mùn tổng số (M%).
+ Tổng cation bazơ trao đổi (S).
+ Độ no bazơ (V%).
+ Các chất dễ tiêu của đất (
+
4
NH
,
52
OP
,
OK
2
).
3. Đánh giá thích hợp của cây trồng tại khu vực nghiên cứu
9
4. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất bền
vững tại khu vực nghiên cứu
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp luận
Đất là một bộ phận hợp thành môi trường sinh thái và được đánh giá là
một nhân tố quyết định sự phân bố, sinh trưởng, phát triển, cấu trúc, sản
lượng và tính ổn định của cây rừng. Độ phì của đất có ảnh hưởng nhiều mặt
đến đời sống của cây rừng.
Đất ảnh hưởng đến cây thông qua đặc tính lý học và hóa học.
- Đặc tính lý học của đất ảnh hưởng đến tình hình không khí và khả
năng cung cấp nước cho cây trồng. Khả năng hấp thụ nước của cây phụ thuộc
vào nồng độ muối và nhiệt độ đất. Chế độ nước, nhiệt trong đất và độ sâu tầng
đất là nhóm nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến phân bố, hình thái và sự
phát triển của hệ rễ, thông qua đó ảnh hưởng đến tính ổn định của quần xã

vụ cho nghiên cứu của đề tài như: Khí hậu, đất, địa hình, thực vật, động vật,…
- Yêu cầu sinh thái của các loài cây nghiên cứu.
b) Điều tra đất
- Tiến hành điều tra ngoại nghiệp tại khu vực nghiên cứu ở 3 vị trí địa
hình: Sườn dưới, sườn giữa, sườn trên của hai quả đồi. Tương ứng với mỗi vị
trí trên tiến hành đào một phẫu diện chính.
- Mô tả phẫu diện theo bảng mô tả phẫu diện đất của bộ môn Khoa học
đất - Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam.
c) Lấy mẫu phân tích
Tại mỗi phẫu diện chính lấy 2 mẫu theo cấp độ sâu. Mẫu ở mỗi cấp độ
sâu là một mẫu tổng hợp từ nhiều mẫu đơn lẻ theo phương pháp Cộng hoà
liên bang Đức - 1990.
- Với độ sâu từ 0 - 20cm: Lấy mẫu tổng hợp từ 9 mẫu đơn lẻ, một mẫu
lấy từ thành quan sát phẫu diện chính, 8 mẫu còn lại lấy ở 8 nơi theo 8 hướng
Đông - Tây - Nam - Bắc - Đông Bắc - Tây Bắc - Đông Nam - Tây Nam, cách
phẫu diện chính 8 - 10m.
- Với độ sâu 20 - 50cm mẫu tổng hợp được lấy từ 5 mẫu đơn lẻ, một
mẫu ở thành phẫu diện chính, 4 mẫu còn lại lấy theo 4 hướng chính Đông,
Tây, Nam, Bắc xung quanh phẫu diện chính với bán kính 8 - 10m.
Mẫu đơn lẻ được lấy với lượng bằng nhau ở cùng một cấp độ sâu và
mỗi mẫu đất tổng hợp lấy 1kg đất.
12
d) Lấy mẫu dung trọng bằng ống dung trọng với độ sâu từ 0 - 20cm tại 5 vị trí,
trong đó 1 ở gần phẫu diện chính, 4 mẫu còn lại lấy ở phẫu diện phụ tỏa theo 4
hướng chính Đông - Tây - Nam - Bắc cách phẫu diện chính với bán kính 8 -10m.
e) Lấy mẫu tiêu bản của từng tầng phát sinh cho vào túi nilon và mẫu tổng
hợp của các tầng vào túi để về kiểm tra.
3.4.2.2. Phương pháp nội nghiệp
3.4.2.2.1. Xử lý mẫu
Mẫu đất lấy về hong khô trong bóng râm, nhặt bỏ rễ cây, đá lẫn, kết

13
- Xác định tổng cation bazơ trao đổi theo phương pháp Pappen và
Ghincovich.
- Xác đinh độ no bazơ theo công thức:

100(%) ×
+
=
HS
S
V

Trong đó: V% - Là độ no bazơ
S - Tổng số bazơ trao đổi
H - Độ chua thủy phân
- Xác định hàm lượng mùn tổng số bằng phương pháp Chiurin.
- Xác các chất N, P, K dễ tiêu (NH
4
+
, P
2
O
5
, K
2
O) bằng phương pháp so màu.
- Tổng hợp các chỉ tiêu phân tích đất thành bảng biểu ở các cấp độ sâu
lấy mẫu và lấy giá trị trung bình bằng cách tính bình quân gia quyền để rút ra
tính chất đất cho từng vị trí khu vực nghiên cứu.
Công thức tính bình quân gia quyền:

Tiêu chí
và ký hiệu
Chỉ tiêu và ký hiệu
Thành
phần cơ
giới (T)
Trung bình
(Thịt nhẹ -
Thịt TB)
(T1)
Hơi nặng
(Thịt nặng,
Sét nhẹ - Sét
TB) (T2)
Nhẹ (Cát pha)
(T3)
Rất nặng
hoặc rất nhẹ
(Sét nặng, cát
rời) (T4)
Độ dày
tầng đất,
cm (D)
> 100 (D
1
)
50 – 100 (D
2
)
<50 (D

2
);
700≤H<1000
(H
3
)
1000≤H<1700
(H
4
)
≥ 1700 (H
5
)
Lượng
mưa TB
năm, mm
(R)
R > 2000
(R
1
)
1500≤R≤2000
(R
2
)
1000≤R<1500
(R
3
)
R<1000 (R

- S
1
: Thích hợp cao
- S
2
: Thích hợp trung bình
- S
3
: Thích hợp kém
- N: Không thích hợp
16
Phần 4
KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
4.1. Hình thái phẫu diện đất
Hình thái phẫu diện đất (PDĐ) là sự biểu hiện bên ngoài, mà từ đó ta có
thể suy ra những tính chất bên trong của nó. Thông qua phẫu diện có thể suy
đoán được những yếu tố khí hậu, thực vật của những năm trước đây và đã có
tác động vào sự hình thành đất ra sao. Do đó những nghiên cứu về đất, đầu
tiên là phải nghiên cứu và mô tả hình thái phẫu diện đất. Dưới đây là đặc
trưng hình thái của 6 phẫu diện đất được nghiên cứu dưới các vị trí địa hình
khác nhau của 2 quả đồi tại khu vực nghiên cứu.
4.1.1. Phẫu diện đất tại đồi 174m
4.1.1.1. Phẫu diện sườn dưới (NM01)
Trạng thái là rừng trồng Keo lá tràm thuần loài 10 – 12 tuổi, độ tàn che 0,65.
Cây bụi thảm tươi chủ yếu là : Sườn Bò, Cỏ lá tre, Dương xỉ, độ che phủ 15%,
chiều cao trung bình 0,2m. Độ dốc là 15
o
, hướng dốc Đông Nam, độ cao tuyệt đối
65m, độ cao tương đối 25m, dạng địa hình sườn dốc thoải đều. Nước ngầm sâu,
khả năng xói mòn nhẹ, không có đá ong và đá lộ đầu.

90m, độ cao tương đối 50m, dạng địa hình sườn dốc phẳng đều. Nước ngầm sâu,
khả năng xói mòn trung bình, không có đá ong và đá lộ đầu.
Kết quả mô tả hình thái PDĐ như sau:
- Tầng A
o
: Có độ dày nhỏ hơn 0,5cm.
- Tầng A
1
: Độ sâu 0 - 8cm, đất màu nâu đen, hơi ẩm, rễ cây nhiều, kết
cấu viên hạt, thành phần cơ giới là sét nhẹ, tỷ lệ đá lẫn nhỏ hơn 1%, không có
hang động vật hay chất lẫn vào, đất hơi chặt, chuyển lớp từ từ về màu sắc.
18
A1
A3
B
0cm
10cm
32cm
120cm
- Tầng A
3
: Độ sâu 8 - 28cm, đất màu nâu, hơi ẩm, rễ cây nhiều, kết cấu
viên hạt, thành phần cơ giới là sét nhẹ, tỷ lệ đá lẫn nhỏ hơn 1%, có hang mối
và phân mối đất tương đối chặt, chuyển lớp từ từ về kết cấu.
- Tầng B: Từ độ sâu 28cm đến lớn hơn 120cm, đất màu nâu nhạt, hơi
ẩm, rễ cây ít, kết cấu hạt, thành phần cơ giới là sét nhẹ, không có đá lẫn, có
hang mối và phân mối, đất chặt.
Sơ đồ phẫu diện: NM02
A
o

cấu hạt, thành phần cơ giới là sét nhẹ, không có đá lẫn, không có hang động
vật hay chất lẫn vào, đất chặt, chuyển lớp từ từ về kết cấu và màu sắc.
- Tầng B: Từ độ sâu 25cm đến lớn hơn 120cm, đất màu nâu nhạt, hơi ẩm,
rễ cây ít, kết cấu hạt, thành phần cơ giới là sét nhẹ, không có đá lẫn, không có
hang động vật hay chất lẫn vào, đất chặt.
Sơ đồ phẫu diện: NM03
A
o

Tên đất: Đất nâu thẫm trên đá mácma bazơ và trung tính, tầng dày.
20
A
1
A
3
B
0cm
5cm
25cm
120cm
4.1.2. Phẫu diện đất tại đồi 163m
4.1.2.1. Phẫu diện sườn dưới (NM04)
Keo lá tràm thuần loài 6 – 8 tuổi, độ tàn che 0,75. Cây bụi thảm tươi
chủ yếu là : Sườn Bò, Cỏ lá tre, Dương xỉ, lành lạch, độ che phủ 20%, chiều
cao trung bình 0,2m. Độ dốc là 12
o
, hướng dốc Tây Nam, độ cao tuyệt đối
60m, độ cao tương đối 20m, dạng địa hình sườn thoải. Nước ngầm sâu, khả
năng xói mòn nhẹ, không có đá ong và đá lộ đầu.
Kết quả mô tả hình thái PDĐ như sau:

ngầm sâu, khả năng xói mòn trung bình, không có đá ong và đá lộ đầu.
- Tầng A
o
: Dày 0,5cm
- Tầng A
1
: Độ sâu 0 - 15cm, đất màu nâu đen, hơi ẩm, rễ cây nhiều, kết
cấu viên hạt, thành phần cơ giới là sét nhẹ, không có đá lẫn, không có chất lẫn
vào, có hang mối và phân mối, đất hơi chặt, chuyển lớp từ từ về màu sắc.
22
A
1
A
3
B
0cm
15cm
45cm
120cm
- Tầng A
3
: Độ sâu 15 - 45cm, đất màu nâu, hơi ẩm, rễ cây ít, kết cấu
viên hạt, thành phần cơ giới là sét nhẹ, không có đá lẫn, không có hang động
vật hay chất lẫn vào, đất hơi chặt, chuyển lớp từ từ về kết cấu.
- Tầng B: Độ sâu 45cm đến lớn hơn 120cm, đất màu nâu, hơi ẩm, rễ cây
ít, kết cấu hạt, thành phần cơ giới là sét nhẹ, không có đá lẫn, đất hơi chặt.
Sơ đồ phẫu diện: NM05
A
o
Tên đất: Đất nâu thẫm trên đá mácma bazơ và trung tính, tầng dày.

động vật hay chất lẫn vào, đất tương đối chặt, chuyển lớp từ từ về kết cấu và
màu sắc.
- Tầng B: Từ độ sâu 30cm đến lớn hơn 120cm, đất màu nâu nhạt, hơi ẩm,
rễ cây ít, kết cấu hạt, thành phần cơ giới là sét nhẹ, không có đá lẫn, không có
hang động vật hay chất lẫn vào, đất chặt.
Sơ đồ phẫu diện: NM06
A
o

Tên đất: Đất nâu thẫm trên đá mácma bazơ và trung tính, tầng dày.
24
A
1
A
3
B
0cm
13cm
30cm
120cm
4.1.3. Nhận xét chung
Kết quả nghiên cứu phẫu diện đất tại khu vực nghiên cứu cho thấy, đất
trong khu vực nghiên cứu là đất nâu thẫm trên đá macma bazơ và trung tính,
có tầng dày.
- Độ dày tầng đất ở tất cả các vị trí phẫu diện đều là tầng dày, có độ dày
tầng đất đều lớn hơn 120cm, tầng A thường dày (20 - 30cm) đến rất dày
(>30cm), đất ở đồi 163m thì có tầng A lớn hơn tầng A ở đồi 174m.
- Tầng A
o
mỏng, chủ yếu là lá khô chưa phân giải. Vì khả năng phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status