Nghiên cứu các tính chất lý hóa học cơ bản của đất và đánh giá thích hợp của cây trồng tại Trung Tâm Nghiên Cứu Thực Nghiệm Lâm Sinh Cầu Hai – Huyện Đoan Hùng – Tỉnh Phú Thọ - Pdf 22

LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình học tập và đánh giá kết quả học tập, được
sự cho phép của Trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa Lâm học và bộ môn
Khoa học đất, tôi tiến hành thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp:
“Nghiên cứu các tính chất lý hóa học cơ bản của đất và đánh giá
thích hợp của cây trồng tại Trung Tâm Nghiên Cứu Thực Nghiệm Lâm
Sinh Cầu Hai – Huyện Đoan Hùng – Tỉnh Phú Thọ’’.
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp tôi được sự hướng dẫn
tận tình của thầy giáo Vi Văn Viện, đến nay khóa luận của tôi đã hoàn thành.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo
Vi Văn Viện người đã trực tiếp hướng đẫn tôi trong suốt quá trình làm khóa
luận. Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong bộ môn Khoa
học đất và Trung tâm thí nghiệm thực hành khoa Lâm học cùng các bạn đồng
nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình phân tích đất. Tôi xin cảm ơn
cán bộ nhân viên trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai đã tạo
mọi điều kiện giúp đỡ trong quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp để tôi
hoàn thành khóa luận này.
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do thời gian có hạn và kinh nghiệm
nghiên cứu còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót
nhất định, rất mong được sự đóng góp, bổ sung của thầy cô giáo cùng các bạn
đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 05 năm 2010
Sinh viên
Đông Văn Tuấn
PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ xa xưa Rừng đã chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống
sinh hoạt và sản xuất của con người. Khi xã hội ngày càng phát triển khoa học
kỹ thuật ngày càng tiến bộ thì con người càng khám phá ra nhiều lợi ích quý
báu của rừng, càng khẳng định vai trò không thể thay thế của rừng.

LƯỢC SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về tính chất lý học của đất và đánh giá đất trong mối quan
hệ với thực vật là một khía cạnh của công trình nghiên cứu về đất. Đã có
nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu về vấn đề này, điển hình là một số công
trình nghiên cứu sau đây:
2.1. Trên thế giới
Cho đến nay các nước trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu
và đánh giá về đất.
V.V.Docutraev (1857), cho rằng: Đất là vật thể tự nhiên luôn biến đổi,
là sản phẩm chung được hình thành dưới tác động tổng hợp của 5 nhân tố
hình thành đất: Đá mẹ, khí hậu, sinh vật (thực vật và động vật) và thời gian,
trong đó ông nhấn mạnh vai trò của thực vật trong quá trình hình thành đất
“Nhân tố chủ đạo trong quá trình hình thành đất ở vùng nhiệt đới là nhân tố
thảm thực vật rừng” bởi vì nó là yếu tố sáng tạo ra chất hữu cơ và khi chết tạo
thành mùn. William cho rằng: “sự phân giải và hợp thành các chất hữu cơ là
bản chất của quá trình hình thành đất” [2].
Timinriazev (1905), trong tác phẩm “Đời sống thực vật” đã chỉ ra quy
luật quan trọng nhất của độ phì đất mang tính chất sinh lý [10], đó là: Quy
luật tối thiểu, quy luật tối đa và quy luật tối ưu. Đến năm 1926, khi phê phán
các nhà thổ nhưỡng học và sinh thái học đương thời ông đã chỉ ra rằng không
nên nhìn đất như một đối tượng nghiên cứu độc lập hoàn toàn, rằng ý nghĩa
các đặc điểm đất chỉ có khi chúng ta biết được rõ ràng ý nghĩa của chúng đối
với cây.
Peterburgskii (1957) [1], khẳng định động thái và cường độ của hầu hết
các hiện tượng sống trong cây đều dưới tác động thường xuyên và liên tục của
môi trường đất. Nó là trung gian giữa cây và phân bón, giữa cây và độ ẩm.
Ngoài ra đất còn là nguồn dinh dưỡng chủ yếu qua rễ đi vào cây. Đất phải
chịu chịu tác động liên tục và nhiều mặt của hệ rễ.
4
Jurbitxki (1963) [12], cho rằng các biện pháp sử dụng phân bón sẽ

tham gia của các chuyên gia đầu ngành, đã tổng hợp kinh nghiệm của nhiều
nước đã xây dựng nên đề cương đánh giá đất đai (FAO,1976) [4].
Tiếp đó, hàng loạt các tài liệu hướng dẫn về đánh giá đất đai trong nông
lâm nghiệp được xuất bản như: Đánh giá đất cho nông nghiệp nhờ nước trời
(FAO, 1983); Đánh giá đất cho các vùng nông nghiệp được tưới (FAO,
1985); Đánh giá đất cho các vùng rừng (FAO, 1984)
Đánh giá tính thích hợp của cây trồng được sự quan tâm nghiên cứu
đầu tiên ở Liên xô từ đầu thế kỷ XIX nhưng chủ yếu với các cây trồng nông
nghiệp. Đến năm 1984, theo FAO trong cuốn cẩm nang hướng dẫn “Đánh giá
đất đai lâm nghiệp” cho rằng “Đánh giá mức độ thích hợp của đất đai là quá
trình xác định mức độ thích hợp cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho
5
một đơn vị đất đai và tổng hợp cho toàn khu vực dựa trên so sánh yêu cầu
kiểu sử dụng đất với đặc điểm đơn vị đất đai” [7]. Cũng theo FAO, hệ thống
đánh giá đất đai có thể áp dụng cho một số kiểu sử dụng đất nhất định trong
đó có cây trồng lâm nghiệp như: Keo, Bạch đàn Như vậy, có thể thấy đánh
giá mức độ thích hợp của đất đai cũng chính là một cơ sở để xác định mức độ
thích hợp của loài cây trồng.
2.2. Ở Việt Nam
Nước ta đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về đất lâm nghiệp mà
thành tựu đầu tiên phải kể đến sự đóng góp quan trọng của Nguyễn Trọng
Bình (1970, 1979, 1986). Tác giả đã tổng kết những đặc điển cơ bản của đất
dưới các đai rừng, kiểu rừng, loại hình rừng ở miền Bắc Việt Nam.
Nghiên cứu quá trình tích lũy chất hữu cơ trong đất rừng, cũng như đặc
điểm về thành phần mùn trong các loại rừng khác nhau đến quá trình tích lũy
chất vô cơ, và đặc điểm thành phần mùn của đất (Nguyễn Ngọc Bình 1968,
1978; Hoàng Xuân Tý, Nguyễn Đức Minh, 1978; Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình
Quế, 1990 ).
Phân hạng đất cho các loại rừng trồng chủ yếu và ảnh hưởng của các
loại rừng trồng tới các tính chất và độ phì của đất như: Rừng Bạch Đàn (Đỗ

Phương pháp tiến hành đánh giá mức độ thích hợp của cây trồng dựa
trên các yếu tố chuẩn đoán được Đỗ Đình Sâm – Ngô Đình Quế – Vũ Tấn
Phương giới thiệu trong cuốn “Cẩm nang đánh giá đất phục vụ trồng rừng”
xuất bản năm 2005 của Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng –
Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam ban hành [8]. Theo cẩm nang để đánh
giá mức độ thích hợp của cây trồng thì ta phải dựa vào việc so sánh và đối
chiếu những yêu cầu đòi hỏi của cây trồng với tính chất, điều kiện tự nhiên và
đánh giá dựa theo phương pháp điều kiện giới hạn. Độ thích hợp của cây
trồng được đánh giá theo 4 cấp là: Thích hợp cao (S
1
), thích hợp trung bình
(S
2
), kém thích hợp (S
3
) và không thích hợp (N).
Việc nghiên cứu các tính chất lý hóa học của đất là vô cùng quan trọng
7
trong việc đánh giá mức độ thích hợp của cây trồng. Với tầm quan trọng như
vậy vấn đề nghiên cứu các tính chất lý hóa học của đất và đánh giá mức độ
thích hợp của cây trồng đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác
giả các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng nghiên cứu nhằm
mục đích sử dụng đất một cách bền vững và có hiệu quả.
8
PHẦN 3
MỤC TIÊU – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khóa luận này tôi chỉ tiến hành nghiên cứu tính chất lý hóa học
của đất ở 3 vị trí (sườn dưới, sườn giữa và sườn trên) trên 2 quả đồi dưới các
trạng thái rừng trồng hỗn loài và rừng tái sinh có trồng bổ sung với các loài

- Tổng cation bazơ trao đổi (S, lđl/100g)
9
- Độ no bazơ (V%).
- Hàm lượng mùn (M%).
- Các chất dễ tiêu của đất (NH
4
+
,
P
2
O
5,
K
2
O).
3. Đánh giá mức độ thích hợp của cây trồng tại khu vực nghiên cứu.
Do hạn chế về thời gian nên tôi chỉ tiến hành đánh giá thích hợp của
cây trồng với các yếu tố của điều kiện tự nhiên mà chưa qua phân tích, đánh
giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường.
4. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất bền vững
của khu vực nghiên cứu.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp luận
Toàn bộ quá trình nghiên cứu được tiến hành theo sơ đồ sau:
10
3.3.2. Phương pháp ngoại nghiệp
a. Thu thập và kế thừa các tài liệu liên quan
Thu thập, kế thừa có chọn lọc các tài liệu có liên quan, các thông tin
phục vụ cho nghiên cứu như: Khí hậu, địa hình, thực vật
Yêu cầu sinh thái của các loài cây nghiên cứu.

Lấy mẫu đất phân tích: Tại mỗi phẫu diện lấy 2 mẫu theo 2 cấp độ sâu.
Mẫu ở mỗi cấp độ sâu là tổng hợp của nhiều mẫu đơn lẻ theo phương pháp
Cộng Hòa Liên Bang Đức – 1990.
Với độ sâu từ 0 – 20cm: Mẫu tổng hợp được lấy từ 9 mẫu đơn lẻ, trong
đó 1 mẫu được lấy ở từ thành quan sát của phẫu diện, 8 mẫu còn lại được lấy
ở 8 điển theo 8 hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc, Đông
Nam, Tây Nam) cách phẫu diện chính từ 8 – 10m.
Với độ sâu từ 20 – 50cm: Mẫu tổng hợp được lấy từ 5 mẫu đơn lẻ,
trong đó 1 được lấy từ thành quan sát của phẫu diện, 4 mẫu còn lại được lấy ở
4 điểm theo 4 hướng chính (Đông, Tây, Nam, Bắc) cách phẫu diện 8 – 10m.
Mẫu đơn lẻ được lấy với lượng bằng nhau ở cùng 1 cấp độ sâu và mỗi
mẫu tổng hợp lấy 1kg đất.
Lấy mẫu dung trọng bằng ống dung trọng với độ sâu từ 0 – 20cm tai 5
vị trí, 1 gần phẫu diện, 4 mẫu còn lại lấy ở 4 vị trí theo 4 hướng chính (Đông,
Tây, Nam, Bắc) cách phẫu diện 8 – 10m.
3.3.3. Phương pháp nội nghiệp
3.3.3.1. Phân tích đất trong phòng thí nghiệm
a. Xử lý mẫu đất
Mẫu đất được lấy về hong khô trong bóng râm, nhặt bỏ rễ cây, đá lẫn,
kết von. Sau đó giã nhỏ bằng cối đồng và chày có đầu bọc bằng cao su, rồi
rây đất qua rây có đường kính 1mm. Riêng đất để phân tích mùn thì giã bằng
cối và chày sứ và rây qua rây 0.25mm.
b. Phân tích đất
Phân tích đất được tiến hành tại trung tâm thí nghiệm thực hành của
Khoa Lâm học, trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam.
12
+ Các tính chất lý học của đất:
- Xác định thành phần cơ giới của đất bằng phương pháp ống hút Robinson.
- Xác định dung trọng bằng phương pháp ống dung trọng thông qua cân và
sấy.

HS
S
+
)*100
Trong đó:
V(%): Là độ no bazơ
S: Là tổng cation bazơ trao đổi
H: Là độ chua thủy phân
- Xác định các chất dễ tiêu :
Đạm dễ tiêu (NH
4
+
) bằng phương pháp so màu.
Lân dễ tiêu (P
2
O
5
) bằng phương pháp so màu.
Kali dễ tiêu (K
2
O) bằng phương pháp so màu đục.
13
3.3.3.2. Xử lý số liệu
Tính toán các giá trị của từng chỉ tiêu nghiên cứu về đất theo công thức
trong ‘‘Phương pháp phân tích đất, nước, phân bón cây trồng’’ của Lê Văn
Khoa – Nguyễn Xuân Cự (1996) [5].
Tổng hợp các chỉ tiêu phân tích đất thành bảng biểu ở các độ sâu lấy
mẫu và lấy giá trị trung bình (nếu cần) để rút ra tính chất đất cho từng vị trí
nghiên cứu.
Tập hợp đơn vị đất đai tại các vị trí nghiên cứu

Hơi nặng (T
2
)
(Thịt nặng –
sét nhẹ)
Nhẹ (T
3
)
(Sét trung
bình – cát
pha)
Rất nặng hoặc
rất nhẹ (T
4
)
(Sét nặng hoặc
cát rời)
Độ dày tầng
đất, cm (D)
> 100
(D
1
)
50 – 100
(D
2
)
< 50
(D
3

< 300; Cao
nguyên và
bán cao
nguyên (H
1
)
300 – < 700
(H
2
); 700 –
< 1000 (H
3
)
1000 – <
1700 (H
4
)
> 1700
(H
5
)
Hàm lượng
mùn tầng
mặt, % (M)
Giàu mùn (>
8%) hay giàu
mùn TB (5 –
8%) (M
1
)

Phân cấp chất hữu cơ tầng mặt trong cuốn ‘‘ Hệ thống đánh giá đất lâm
nghiệp Việt Nam’’ của Đỗ Đình Sâm – Ngô Đình Quế – Vũ Tấn Phương.
Đối chiếu vào biểu 3.1 cho từng điều kiện tự nhiên ở từng vị trí nghiên
cứu để xây dựng đơn vị đất đai cho vị trí đó.
3.3.3.3. Đánh giá thích hợp của cây trồng
Do hạn chế về thời gian không lập được các ÔTC để đo đếm sinh
trưởng của cây để phân ra cấp sinh trưởng tốt, trung bình hoặc kém. Vì vậy
15
tôi dựa vào các tiêu chí của ĐVĐĐ để đánh giá mức độ thích hợp của cây
trồng với ĐKTN.
Mức độ thích hợp của cây trồng tại khu vực nghiên cứu được đánh giá
theo từng đơn vị đất đai, các loài cây trồng ở cùng 1 đơn vị đất đai thì đều
được đánh giá thích hợp với các đặc điểm của đơn vị đất đai đó.
Những loài cây trồng có bảng tiêu chuẩn thích hợp chuẩn thì được phân
hạng đến mức độ thích hợp, đưa ra cấp thích hợp (S
1
, S
2
, S
3
) và không thích
hợp (N), những loài cây trồng không có bảng tiêu chuẩn thích hợp chuẩn thì
dựa vào yêu cầu sinh thái của chúng để đưa ra bậc thích hợp (S) hoặc không
thích hợp (N).
Đánh giá theo phương pháp điều kiện giới hạn (theo cẩm nang đánh giá
phục vụ trồng rừng của Đỗ Đình Sâm – Ngô Đình Quế – Vũ Tấn Phương,
NXB khoa học kỹ thuật, 2005). Độ thích hợp của cây trồng được đánh giá
theo 4 cấp :
S
1

Sơn, Minh Tiến, Đại An và Năng Yên) thuộc huyện Đoan Hùng và Thanh Ba
tỉnh Phú Thọ.
Tọa độ địa lý: 21
o
40'

vĩ độ Bắc
105
o
20' kinh độ Đông
Phía Đông giáp các xã Vụ Quang huyện Đoan Hùng, Phú Mỹ huyện
Phù Ninh.
Phía Tây giáp xã Thái Ninh, Quảng Nạp huyện Thanh Ba.
Phía Nam giáp các xã Trạm Thản huyện Phù Ninh, Khải Xuân huyện
Thanh Ba.
Phía Bắc giáp các xã Yên Kiện, Hùng Long của huyện Đoan Hùng.
4.1.2. Địa hình, thổ nhưỡng
Khu vực nghiên cứu thuộc vùng đồi núi trung du tiếp giáp với miền
núi, hệ thống đồi bát úp chạy dọc theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Độ dốc
không vượt quá 20
o
. Độ cao tuyệt đối so với mặt nước biển trung bình là 60m.
Địa hình tương đối đồng nhất thuận lợi cho các hoạt đông sản xuất lâm
nghiệp. Do địa hình tương đối đồng nhất, độ cao thấp nên đất trong khu vực
khá đồng nhất, chủ yếu là đất feralit vàng đỏ và đỏ vàng phát triển trên đá mẹ
Gnai và phiến thạch Mica tầng đất dày > 100cm, thành phần cơ giới trung
bình, thích hợp cho nhiều loại cây trồng.
4.1.3. Khí hậu, thủy văn
Do địa hình tương đối đồng nhất, không có núi cao che chắn nên khí
hậu khu vực nghiên cứu không có gì đặc thù mà mang tính chất khí hậu vùng

họ Vang có Lim xanh, Lim xẹt; Họ Bồ hòn có các loài như: Vải thiều rừng,
Vải guốc; họ Dầu có Trò nâu; Họ Tre nứa có các loài như Diễn trứng, Diễn
đá, Sặt, Vầu, Dùng, Giang, Hóp…Trong các loài kể trên có nhiều loài cây gỗ
lớn có giá trị như Lim xanh, Trám trắng, Re gừng, Mỡ, Sồi phảng…
4.2. Tác động của con người
Khu vực nghiên cứu thuộc Trung tâm NCTNLS Cầu Hai quản lý, nằm
trong địa bàn hành chính của 7 xã (Chân Mộng, Minh Phú, Vân Đồn, Tiêu
18
Sơn, Minh Tiến, Đại An và Năng Yên) thuộc huyện Đoan Hùng và Thanh Ba
tỉnh Phú Thọ, với diện tích rừng và đất rừng là 718,1ha.
Trước đây, hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn chủ yếu là khai thác gỗ
phục vụ chương trình nhà nước và giải quyết vấn đề dân sinh, phương thức
khai thác chủ yếu là chặt chọn với cường độ cao và khai thác trắng, kết quả là
tài nguyên rừng bị suy thoái, sau thời gian đó trung tâm NCTNLS Cầu Hai
được thành lập với nhiệm vụ chính là nghiên cứu khoa học và chuyển giao
công nghệ nhằm phục vụ công tác trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên cho
khu vực. Về công tác quản lý, trung tâm đã triển khai và hoàn thành việc giao
đất giao rừng, toàn bộ diện tích rừng và đất rừng mà trung tâm quản lý đã
được giao cho 130 hộ gia đình thuộc 7 xã của huyện Đoan Hùng và Thanh
Ba, trồng chăm sóc và bảo vệ.
Người dân trong khu vực chủ yếu làm nghề nông lâm nghiệp, đời sống
còn nhiều khó khăn, thu nhập bình quân đầu người thấp, nhận thức của người
dân về việc bảo vệ rừng còn nhiều hạn chế. Việc khai thác trái phép, chặt
trộm cây rừng vẫn còn, chăn nuôi của bà con vẫn mang tính chăn thả tự nhiên
gây ảnh hưởng lớn đến các mô hình rừng của Trung tâm gây ra các hiện
tượng gãy cành, cụt ngọn và trụi lá ở các cây con mới trồng, làm cho đất bị
nén chặt Trong quá trình làm đất trồng cây đã phần nào làm thay đổi, xáo
trộn tầng đất làm thay đổi tính chất của đất, từ đó cũng ảnh hưởng đến quá
trình sinh trưởng và phát triển của cây rừng.
19

: Mỏng, dày khoảng
1cm.
20
B
2
B
1
A
0cm
7cm
22cm
120cm
Sơ đồ phẫu diện
A
0
Tầng A: Độ sâu: 0 – 7cm, màu nâu thẫm, hơi ẩm, rễ cây trung bình (17
rễ/dm
2
), kết cấu viên hạt, đất xốp, TPCG thịt trung bình, không có kết von và
đá lẫn. Chuyển lớp rõ.
Tầng B
1
: Độ sâu: 2 – 22cm, màu vàng nâu, hơi ẩm, rễ cây ít (7 rễ/ dm
2
),
kết cấu viên hạt, đất hơi chặt, TPCG thịt trung bình, không có kết von và đá
lẫn. Chuyển lớp không rõ.
Tầng B
2
: Độ sâu: 22 – > 120cm, màu vàng đỏ, hơi ẩm, rễ cây rất ít

21
B
2
B
1
A
0cm
31cm
120cm
Sơ đồ phẫu diện
A
0
11cm
thịt trung bình, không có kết von và đá lẫn. Chuyển lớp rõ.
Tầng B
1
: Độ sâu: 11 – 31cm, màu vàng nâu, hơi ẩm, rễ cây ít (8 rễ
/dm
2
), kết cấu viên hạt, đất hơi chặt, TPCG nặng, không có kết von và đá lẫn.
Chuyển lớp không rõ.
Tầng B
2
: Sâu 31 – > 120cm, màu vàng, hơi ẩm, rễ cây rất ít (3 rễ /dm
2
).
có kết cấu viên hạt, đất hơi chặt, TPCG trung bình, không có kết von và đá
lẫn.
Đất ở dưới mô hình rừng trồng hỗn loài: Lim xanh + Keo lá tràm + Dẻ
cau, có tầng đất dày. Tên đất theo FAO – UNESCO (1998) là: Đất xám feralit

1
A
0cm
6cm
20cm
120cm
A
0
Sơ đồ phẫu diện
Tầng B
1
: Độ sâu: 6 – 20cm, vàng nâu, hơi ẩm, rễ cây ít (8 rễ/ dm
2
), kết
cấu viên hạt, đất hơi chặt, TPCG thịt trung bình, không có kết von và đá lẫn.
Chuyển lớp rõ.
Tầng B
2
: Độ sâu 20 – > 120cm, màu vàng đỏ, hơi ẩm, rễ cây rất ít (3 rễ/
dm
2
), kết cấu viên hạt, đất hơi chặt, TPCG thịt trung bình, không có kết von
và đá lẫn.
Đất dưới mô hình có tầng đất dày, tên đất theo phân loại của FAO –
UNESCO là: Đất xám feralit phát triển trên đá biến chất (Đá Gnai).
b. Phẫu diện sườn giữa đồi 65,5m (ĐA04)
Phẫu diện ĐA04 nằm dưới rừng tái sinh có trồng bổ sung: Sồi phảng +
Lim xanh, độ tàn che là 0,7. Cây bụi thảm tươi chủ yếu là: Dương xỉ, Quyết
ba lá độ che phủ 45% – 50%. độ cao
trung bình 35cm. Độ dốc 14

B
2
B
1
A
0cm
9cm
25cm
120cm
Sơ đồ phẫu diện
A
0
dm
2
), kt cu viên ht,  t hi cht, TPCG tht nng, không có kt von và á ln.
Đất dưới mô hình này có tầng đất dày, theo phân loại của FAO –
UNESCO (1998) đất có tên gọi là: Đất xám feralit phát triển trên đá biến chất
(Đá Gnai).
5.1.3. Phẫu diện đất sườn trên
a. Phẫu diện đất sườn trên đồi 54,8m (ĐA05)
Phẫu diện ĐA05 nằm dưới rừng trồng hỗn loài: Lim xanh + Thông mã
vĩ, độ tàn che là 0,75. Cây bụi thảm tươi chủ yếu là: Lông cu li, Dương xỉ,
Quyết chẻ ba độ che phủ 50 – 55%, chiều cao trung bình khoảng 45cm, độ
dốc 15
0
, hướng dốc Đông Bắc. Độ
cao tuyệt đối 50m, độ cao tương đối
30m, dạng địa hình sườn dốc thoải
đều. Nước ngầm sâu, khả năng xói
mòn nhẹ, không có đá ong và đá lộ

2
B
1
A
0cm
8cm
20cm
120cm
Sơ đồ phẫu diện
A
0
Đất dưới mô hình rừng trồng hỗn loài: Lim xanh và Thông đuôi ngựa,
có tầng đất dày, theo phân loại của FAO – UNESCO (1998) đất có tên gọi là:
Đất xám feralit phát triển trên đá biến chất (Đá Gnai).
b.Phẫu diện đất sườn trên đồi 65,5m (ĐA06)
Phẫu diện ĐA06 nằm dưới
rừng tái sinh: Ràng ràng mít + Sồi
phảng, có độ tàn che 0,65. Cây bụi
thảm tươi chủ yếu là: Dương xỉ,
Quyết lá đơn ,độ che phủ 40 – 45%,
độ cao trung bình 40cm. Độ dốc 13
0
,
hướng dốc Đông Bắc, độ cao tuyệt
đối 61m, độ cao tương đối 31m, dạng
địa hình sườn dốc thoải đều. Nước
ngầm sâu, khả năng xói mòn nhẹ,
không có đá ong, đá lộ đầu.
Tầng A
0

0cm
33cm
120cm
Sơ đồ phẫu diện
A
0
10cm

Trích đoạn chua tiềm tàng Hàm lượng P2O5 trong đất xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất của khu vực nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status