LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này em đã nhận được sự giúp đỡ của cô giáo-Th.S
Phí Thị Toan, cô đã tận tình hướng dẫn và theo sát em trong quá trình quá trình hoàn
thành. Em xin trân thành gửi lời cảm ơn tới cô.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Lịch sử trường Đại
học Tây Bắc, thư viện trường, các thành viên trong tập thể lớp K52 ĐHSP Lịch sử đã
tạo điều kiện giúp đỡ, ủng hộ em hoàn thành khóa luận này.
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng khóa luận không tránh khỏi những thiếu
sót. Em mong được sự góp ý từ phía thầy cô và bạn bè để khóa luận được hoàn chỉnh
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Đinh Thị Yến
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Lễ hội là đối tượng quan trọng của nền văn hóa dân tộc, có ý nghĩa vô cùng
quan trọng trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người, phản ánh rõ nét
sinh hoạt tín ngưỡng của người Việt. Đồng thời lễ hội là môi trường tốt nhất để lưu giữ
các giá trị truyền thống qua các thời đại.
Thái Bình là một miền đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa. Cũng giống như
các vùng quê khác ở Việt Nam, lễ hội ở Thái Bình thường gắn liền với tín ngưỡng thờ
thần núi, thần sông, thờ thành hoàng làng. Trong những bậc thành hoàng đư ợc thờ
phụng phần lớn đều gắn liền với các anh hùng lịch sử - những con người đã làm rạng
rỡ những trang hào hùng của vùng đất này.
Có thể nói văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền là đóa hoa muôn sắc màu, ngát
hương thơm tô điểm cho nền văn hóa Việt Nam. Đền Đào Động thuộc xã An Lễ,
Quỳnh Phụ, Thái Bình cũng có thể coi như một bông hoa nhỏ trong khu vườn văn hóa
rực rỡ sắc màu ấy. Chảy trôi cùng dòng thời gian, biến chuyển theo những biến động
truyền thống, mặt khác nhằm giới thiệu, quảng bá cho du khách gần xa về di tích tâm
linh - đền Đào Động.
Trong cuốn “Lễ hội cổ truyền” của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Văn
hóa dân gian, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992 có đặt lễ hội đền Đào Động vào
một trong những lễ hội tiêu biểu ở vùng đồng bằng bắc bộ. Tuy nhiên, bài viết mới chỉ
giới thiệu được một phần về lễ hội truyền thống đền Đào Động.
Năm 1999, Bảo tàng Thái Bình đã xuất bản cuốn sách “Di tích lịch sử văn hóa
Thái Bình” tập hợp các danh lam thắng cảnh, di tích của vùng quê lúa. Trong đó, tác
giả Vũ Đức Thơm đã khảo tả bao quát về kiến trúc nghệ thuật của đền Đào Động.
Đến năm 2004, ông Đinh Đăng Túy đã cho ra đời công trình giới thiệu về đền
gồm 3 phần:
Phần 1: Đền Đào Động, một kiến trúc kì vĩ, một truyền thuyết anh hùng
Phần 2: Giới thiệu và chú giải các văn tự Hán Nôm cổ
Phần 3: Đền Đồng Bằng, các giai thoại và truyền thuyết dân gian.
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đền Đào Động song các công
trình còn rải rác, chưa có hệ thống và chưa đánh giá được toàn diện tầm vóc, giá trị của
ngôi đền. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu trên cũng đã cung cấp cho tôi một số
tài liệu quan trọng để tôi hoàn thành đề tài này. Tôi hi vọng sẽ góp phần nghiên cứu
đền Đào Động một cách có hệ thống, toàn diện về quá trình hình thành, kiến trúc nghệ
thuật và các hoạt động trong lễ hội, đồng thời chỉ ra được giá trị to lớn của ngôi đền
trong kho tàng văn hóa chung của dân tộc.
3.Đối tƣợng, mục đích và phạm vi nghiên cứu
2
3.1. Đối tƣợng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu di tích đền Đào Động, xã An Lễ,
huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
3.2. Mục đích
Đề tài được tiến hành với mục đích tổng hợp nguồn tư liệu về lễ hội đền Đào
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ XÃ AN LỄ, HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lí
An Lễ là một xã nông nghiệp nằm ở phía Đông Nam huyện Quỳnh Phụ, cách
trung tâm văn hóa chính trị huyện 10km, cách thị xã Thái Bình 20km về phía Đông
Bắc. An Lễ có vị trí địa lí tiếp giáp với 4 xã: An Vũ, An Vinh, Đông Hải, An Qúy.
Có đường quốc lộ 10 chạy qua chính giữa xã, nối liền các tỉnh từ Nam Định ra Hải
Phòng, rất thuận tiện cho việc đi lại, giao lưu buôn bán và phát triển kinh tế với
nhiều tiềm năng.
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Các tài liệu khảo cổ học, thần phả và dân gian truyền lại cho biết miền đất này
xưa là bãi biển, nhờ phù sa sông Hồng bồi đắp mà đất đai cao dần lên, tạo thành
đầm lầy. Các đống cao có cây mọc thành rừng, trong rừng có nhiều thú dữ. Vùng
đầm lầy có lúa nước, tôm cá. Dân cư sống tụ tập trên các cồn đống cao, làm nghề
lượm lúa nước và đơm bắt tôm cá.
Trong các làng xã ở An Lễ người ta đã tìm thấy hàng trăm tiêu bản gạch hình
lưỡi búa, mặt trong khắc nổi hoa văn, rất nhiều mảnh gấm xếp với hoa văn kẻ vạch
thuộc nhóm gốm Đường Cổ. Bảo tàng Thái Bình tìm được hàng trăm mũi tên đồng,
hai mũi giáo mác đồng, hai lục lạc đồng, nhiều rìu đồng được các chuyên gia khảo
cổ xếp vào đồ đồng Đông Sơn muộn. Qua các phát hiện trên đây có thể nói Đào
Động là một làng cổ, nằm trong khu vực đất cổ phía bắc Thái Bình, được hình
thành cách chúng ta ngày nay khoảng 2000 năm.
1.1.3 Về khí hậu
An Lễ có khí hậu nhiệt đới gió mùa, bốn mùa phân chia rõ rệt trong năm, nhiệt
độ trung bình 240C, lượng mưa bình quân 2000mm.
1.1.4 Về sông ngòi
An Lễ được mệnh danh là mảnh đất “Cửu long quần thực” bởi nó là tụ điểm
của các dòng sông lớn nhỏ ngày đêm uốn khúc chảy quanh, cung cấp nước phục vụ
nông nghiệp, xây dựng quan hệ sản xuất mới với cơ sở vật chất kỹ thuật bước đầu
được xây dựng.
Với tính chất tự cung tự cấp, gắn liền với nông nghiệp, thủ công nghiệp xã An Lễ
có vai trò rất lớn trong sự phát triển kinh tế của toàn xã. Lợi dụng vùng đất úng trũng,
người dân trồng cói làm chiếu, dẫn đến hình thành nghề làm chiếu truyền thống. Bên
5
cạnh đó xã An Lễ còn có các nghành nghề thủ công nghiệp như đan, xe đay, nung nồi,
ấm đất, làm gạch.
Trong sự phát triển của nông nghiệp tỉnh Thái Bình, xã An Lễ đang ngày càng
hoàn thiện cơ cấu nông nghiệp, xây dựng quan hệ sản xuất mới với cơ sở vật chất kỹ
thuật bước đầu được xây dựng. Bên cạnh đó, thủ công nghiệp cũng có vai trò rất lớn
trong sự phát triển kinh tế toàn xã.
Người dân An Lễ cần cù, hăng hái trong lao động sản xuất, xây dựng quê hương,
đất nước nên đời sống của người dân không ngừng được cải thiện. Theo báo cáo kết
quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở An
Lễ tính đến đầu năm 2009, diện tích tự nhiên toàn xã là 502 ha, diện tích đất nông
nghiệp là 364,6 ha. Diện tích đất canh tác là 315 ha. Diện tích đất nông nghiệp bình
quân 468,8m2/người, thu nhập bình quân 10,36 triệu đồng/người/năm. Toàn xã có 400
hộ buôn bán, trong đó có 120 hộ buôn bán ổn định, doanh số cao, còn lại 280 hộ vừa
và nhỏ. Sự phát triển đồng đều giữa các ngành nghề đã đem đến sự cân bằng trong cơ
cấu kinh tế. Cụ thể:
Nông nghiệp chiếm 39,5%
Tiểu thủ công nghiệp chiếm 28,0%
Thương mại, dịch vụ chiếm 32,5%
Nhìn chung, An Lễ có đủ các điều kiện tự nhiên và con người để ổn định và phát
triển kinh tế. Nhân dân An Lễ sống chan hòa, giản dị, kiên cường bất khuất trước thiên
tai, dịch họa, cần cù trong lao động sản xuất, đoàn kết giúp đỡ nhau vươn lên trong
2.Thôn Đào Động (xóm 3 Đào Động) có 78,5 ha diện tích tự nhiên và 1058
khẩu.
3.Thôn Đồng Bằng (xóm 4,5 Đào Động) có 156,2 ha diện tích tự nhiên và
2032 khẩu.
4.Thôn Hưng Hòa (xóm 6,7,8 Đồng Hưng, Giới Phúc) có 136,8 ha diện tích
tự nhiên và 1554 khẩu.
Tổng cộng xã An Lễ có 4 thôn với 502 ha diện tích đất tự nhiên và 6278 nhân
khẩu” [15: 349].
Truyền thống yêu nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm của người dân An Lễ
được hun đúc từ những buổi đầu cư dân về đây lập làng, lập xóm. Đầu triều Lý (1010)
với chính sách khuyến nông của vương triều, dân trang Đào Động có bước vươn mình.
Sự kiện chính biến Qúach Bốc đánh chiếm kinh thành Thăng Long, gia đình Trần Lý,
Trần Thủ Độ, Trần Tự Khánh, Trần Liễu dùng Long Hưng (Thái Bình) , Thiên Trường
7
(Nam Định) cất quân đánh dẹp, rước Lý Cao Tổ về kinh. Đến năm 1211 phù Lý Huệ
Tông lên ngôi, thanh thế họ Trần càng mạnh. Để chuẩn bị cho việc lớn, Trần Thị Dung
mở ấp ở vùng Khương Phù, Phù Ngự (xã Liên Hiệp, Bắc Hưng Hà). A Sào cách Đào
Động 6km, xưa là bản doanh của Phụng Kiều với Trần Liễu. Ông đã xây dựng 4 trang:
Đào Động - Lộng Khê - Tô Đê - A Sào ven lưu vực sông Hóa, sông Vĩnh thành 4
trung tâm kinh tế phồn thịnh được coi là “Tứ cố cảnh triều Lý”.
Từ giữa thế kỉ XIII, Đào Động là điểm son được Trần Hưng Đạo cực kỳ quan
tâm. Sách “Ngàn năm đất và người Thái Bình” chép: “Theo lệnh của Quốc Công Tiết
Chế Trần Hưng Đạo, tướng Yết Kiêu đã đưa cả đội quân thủy lừng danh dưới tướng
về chia đóng ở các bến bãi của sông Khúc cách Hải thị không xa để chuẩn bị làm
thanh viện, đồng thời chặn đánh quân tiếp viện của quân Nguyên”. Xuôi dòng Luộc Hóa sâu hơn nữa về phía đông lại có cả một khu căn cứ lớn của nhà Trần. Đào Động Lộng Khê - Tô Đê - A Sào - Phụ Phượng. Lý triều có tứ cố cảnh “Bốn nơi có cảnh sắc
phong quang, dân cư trù mật, thế đất cao ráo đều được xây dựng thành nơi tập trung
quân lương quan trọng. A Sào với một bên là sông Luộc, một bên là sông Hóa, nơi
điền trang xa của Phụng Kiều Vương Trần Liễu (cha Trần Hưng Đạo). Mặt phía Bắc
Tại địa phương trung đội trực chiến của thôn đã kết hợp với bộ đội huyện chiến đấu
bảo vệ cầu Vật trên quốc lộ 10. Ngày 20/8/1969, quân ta bắn rơi máy bay phản lực của
Mỹ. Với thành tích đó, đơn vị được Quốc hội tặng Huân chương kháng chiến hạng II.
9
CHƢƠNG 2
DI TÍCH ĐỀN ĐÀO ĐỘNG
2.1 Nguồn gốc lịch sử.
2.1.1 Tên gọi của đền
Đền Đào Động cho đến nay có nhiều tên gọi khác nhau: đền Đồng Bằng, đền Đức
Vua Cha, đền Bát Hải Động Đình, đền Đức Vua. Các tên gọi này được lưu truyền
trong dân gian và trong các tài liệu thành văn đều không thống nhất. Vậy để hiểu cho
đúng tên gọi của đền, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu nghĩa của các tên gọi nêu trên.
Vào thời Trần, Đào Động nằm trong trung tâm căn cứ lưu vực sông Hóa của Hưng
Đạo Đại Vương, khi trấn giữ lưu vực sông Luộc, sông Hóa, Trần Quốc Tuấn đã đến
nơi này vãn cảnh, bái yết ngôi đền Đào Động. Lúc đó, ngôi đền còn nhỏ bé, ông nhận
thấy nơi đây là một thế mạnh. Vì vậy, ông đã sai tướng Phạm Ngũ Lão và phò mã Đô
úy Nguyễn Chế Nghĩa về đây đắp thành lũy, lập căn cứ ở trang Đào Động. Đây là hậu
cứ chống quân Nguyên xâm lược vững như thành đồng, nên làng Đào Động còn có tên
gọi là “Đồng Bình” có nghĩa là bức chắn bằng kim loại trên phòng tuyến chống quân
xâm lược Nguyên. Cứ như vậy, theo sự chảy trôi của dòng thời gian và cùng với sự
truyền ngôn của dân gian ngôi làng mang tên “Đồng Bằng”.
Ngoài tên “Đồng Bằng”, đền còn được ghi vào biển kẻ bảng văn với tên gọi
khác. Trên bảng văn cổng chính đề bốn chữ Hán: “Bát Hải Động Đình” trên bản sao
thần tích của đền có dòng chữ ghi ở bìa như sau: “Bát Hải Động Đình ngọc phả lục”.
Cho đến nay, cũng có nhiều người giải thích sai lệch về tên gọi này. “Bát Hải” có
nghĩa là tám biển, ý muốn chỉ chiến công của Vĩnh Công xưa, đánh tan giặc trên tám
cửa biển nước Nam. Sau khi chiến thắng, ông được giao trọng trách giữ gìn và khai
khắc, chạm trổ tinh tế, những hoành phi câu đối sơn son thếp vàng làm cho ngôi đền
vừa toát lên sự thanh tao, thoát tục, vừa trầm mặc, cổ kính.
Tồn tại song song với những biến đổi của lịch sử, trải qua các triều đại, sự tàn phá
của thiên nhiên, giặc giã hoành hành, ngôi đền đã tu sửa kiến tạo nhiều lần song giá trị
và ý nghĩa lịch sử của ngôi đền không vì thế mà giảm đi, sự hiện đại hòa vào cái cổ
kính đã làm tăng thêm sự độc đáo, phong phú của ngôi đền.
Trong quyển “Từ điển di tích văn hóa Việt Nam” được tổng hợp tư liệu từ các
thư tịch Hán Nôm cổ cho biết đền Đào Động xưa chỉ là một cái miếu nhỏ, tên Đào
Động ở “thôn Đào Động, tổng Vọng Lỗ, huyện Phụ Dực” [19:194].
Tương truyền, vào đời vua Hùng Vương thứ 18, nước nhà bị giặc ngoại bang
xâm lấn. Triều đình đã phải lập đàn triệu linh sơn tú khí về giúp sức dẹp giặc. Thủy
thần làng Đào Động đã ra phò vua dẹp giặc và có công đầu trong việc trấn giữ tám cửa
biển phía Tây. Đất nước trở lại thái bình, từ đó vùng đất này đã trở thành nơi địa linh
được người dân cả nước ngưỡng vọng. Sau khi ông mất vua đã cho tiền sửa sang phủ
11
đệ thành đền cho dân thờ phụng. Thời nhà Lý, vua Lý Thái Tông năm Thiên Thành
thứ 4, khi đi kinh lý về vùng duyên hải đã đến thăm quần thể di tích của đền, vua khen
Đào Động đứng đầu trong “Tứ cố danh thắng”. Sách “Ngàn năm đất và người Thái
Bình” viết “Đào Động, Lộng Khê, Tô Đê, A Sào - Phụng Phượng, Lý triều tứ cố
cảnh”. “Bốn nơi có cảnh sắc phong quang, dân cư trù mật, thế đất cao ráo, từng được
xem là bốn cảnh đẹp dưới triều Lý” [12:174]. Thời vua Lý Nhân Tông năm Thiên
Thuận thứ 5 (1132) vua tái phong cho Vĩnh Công, cho xây dựng và mở mang đền sở.
Theo tương truyền, thì khi ấy đền mở rộng đến cung Đệ Nhất hiện nay.
Thời nhà Trần, Đào Động là nơi tập trung binh sỹ, rèn luyện binh đao của vua tôi
nhà Trần. Trong dân gian còn lưu truyền câu ca:
“An Lễ là đất địa linh
Là nơi rèn tướng, luyện binh nhà Trần”.
Như vậy, ngôi đền nổi tiếng linh thiêng đã gắn với những chiến công của vua tôi
thần đền là 18 mẫu. Đền chính được thiết kế theo kiểu “tiền thị - hậu đinh” như một
lâu đài thời trung cổ gần 13 tòa, 66 gian liên hợp chặt chẽ tạo thành quần thể kiến trúc
độc đáo, bề thế, khép kín. Qua thời gian giặc dã tới nay, mặc dù bằng di tích bị thu hẹp
song không gian kiến trúc vẫn trải rộng và đặc biệt đây còn lưu trữ được nhiều đồ tế
khá có giá trị như: cuốn thư, hoành phi, câu đối, đại tự, bài vị. Trực thuộc ngôi đền
chính còn có cả một quần thể di tích gồm hàng chục ngôi đền, miếu như đền Công
Đồng thời quan lớn Điều Thất, đền sinh thờ Mẫu Quốc Thái, đền Bến thờ quan lớn Đệ
Bát…
Tuy nhiên, trận bão tháng 9 năm 1983 đã làm đổ tòa Phượng Đình. Tháng 8/1984,
Bảo tàng Thái Bình kết hợp với UBND xã An Lễ đã phục hồi lại tòa cấm này theo
phong cách hồi văn mái chảy như trước năm 1926.
Từ khi Bộ Văn hóa cấp bằng công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia (1986) đền
Đào Động đã được Đảng, chính quyền địa phương cùng các du khách đóng góp, tôn
tạo, tu sửa di tích ngày càng uy nghi, tráng lệ. Điển hình là dự án của tổng cục du lịch
trị giá 11 tỷ đồng hỗ trợ kè ven bờ sông Diêm là 1km, mở rộng đường nối từ quốc lộ
10 vào đền dài 2,2 km với mặt đường to, rộng làm cho giao thông thuận tiện khi vào
đền. Bên cạnh còn xây dựng thêm bãi đỗ xe rộng thêm 2000m2 và khu vườn hoa, sân
dạo rộng 1500m2. Mở mang khuôn viên đền chính lên 400m2 giúp cho việc tế rước
thuận tiện.
Như vậy, để góp phần vào việc giữ gìn, tu bổ và phát huy các giá trị văn hóa - lịch
sử của ngôi đền, các cấp lãnh đạo cùng toàn thể nhân dân đã có sự đầu tư thích đáng
làm cho ngôi đền ngày càng khang trang hơn, rộng hơn về quy mô bên ngoài nhưng
vẫn giữ được nét cổ xưa, uy nghi trầm mặc của ngôi đền. Chính sự ra tay chung sức
13
xây dựng ngôi đền đã củng cố phát huy ý thức cố kết cộng đồng và bảo lưu được giá
trị văn hóa.
2.2. Đối tƣợng thờ tự
Một hôm ông bà vãn cảnh trong Đào Động, bỗng gặp một cô gái đến lạy vái
kêu rằng “con là kẻ tha hương, cha mẹ mất sớm không nơi nương tựa. Nay gặp ông bà
hiền đức xin động lòng cho con xin về hầu tạ”. Phạm Công, Trần Thị thấy thiếu nữ tư
chất thông minh, nói năng phải đạo liền nhận làm con nuôi và đặt tên là Quý Nương.
Quý Nương càng lớn càng xinh đẹp, đoan trang, hiền thục, công danh, ngôn
hạnh nhưng đến 18 tuổi vẫn không nhận lời đình ước của một ai. Một lần Qúy Nương
ra tắm ở cửa biển, trời đang trong xanh bỗng nhiên trở gió mưa bão ầm ầm, chớp rật
sấm rền và có một con Giao Long thân dài 8 thước hiện hình ôm cuốn lấy nàng. Lát
sau trời quang mây tạnh, Qúy Nương thấy vậy hốt hoảng kinh sợ vội trở về nhà. Rồi
cô gái có mang, ở nghén 13 tháng, đến kỳ mãn nguyệt khai hoa, thẹn nỗi không chồng
mà chửa, Qúy Nương ra biển, chở rạ sinh đẻ một mình. Trong một đêm mưa gió nàng
sinh ra một cái bọc kỳ lạ, ngạc nhiên và sợ hãi nàng ôm cái bọc thả xuống biển. Hôm
đó là ngày mùng 10 tháng giêng năm Đinh Tỵ, bọc thiêng gặp lúc thủy triều dâng theo
dòng nước trôi về trang Đào Động.
Thời bấy giờ ở trang Đào Động có một ông già nghéo khó, đức hạnh tên là
Nguyễn Danh Minh (Nguyễn Minh) làm nghề đánh cá bên sông. Đêm ấy buông vó đã
sang giờ Tí mà không bắt được con cá nào. Mãi quá nửa đêm kéo vó thấy nặng quá, cố
kéo lên thì thấy một bọc đỏ như máu, ông già sợ quá dùng sào đẩy ra, lát sau cất lên lại
gặp bào thiêng, già Nguyễn Minh vái lạy, khấn nguyện rồi dao rạch bọc ấy ra thì thấy
ở trong bọc ngoi ra 3 con hoàng xà (nửa rồng nửa rắn, vảy vàng màu đỏ). Con rắn thứ
nhất bời thẳng lên bờ, chui một giếng tự nhiên ở Đào Động rồi mắt tích trong đó. Con
rắn thứ thì xuôi sông Đào Động về trang Thanh Do. Con rắn thứ ba chạy về khúc sông
Hoa Diêm - nơi mà bà Quý Nương sinh ra bọc ấy.
Lúc ấy phụ lão nhân dân trong trang Đào Động thấy vậy sợ hãi và cho rằng
chắc là thủy thần xuất thế nên làm lễ bái tạ ở khúc sông ấy và khấn rằng: “nếu là thủy
thần xuất thế anh linh thì dân xin làm thần tử và thiết lập đền để thờ”.
Từ khi đệ nhất linh tà ngụ tại Đào Động , dân chúng đánh lưới - lưới nhiều cá, cất
vó - vó nhiều tôm, công việc làm ăn thuận lợi, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa.
của thần. Hôm ấy là ngày 25/8 năm Mậu Thìn. Nhân dân thấy thế làm lạ, dâng biểu tâu
vua. Vua ban phong mỹ tự, Trấn Tam Kỳ giang linh ứng Vĩnh Công Đại Vương Bát
Hải Động Đình, lại cấp cho nhân dân Đào Động 400 quan tiền lo việc tang lễ tu sửa
lều tranh của vị thần Vĩnh Công thành miếu điện, hạ sắc miễn thuế cho dân lấy lộc thờ
thần và lấy ngày 10 tháng giêng là ngày sinh nhật ngài, ngày 25/8 là ngày hóa nhật
ngài.
Từ cuối thế kỉ XII, đền Đào Động còn là nơi tưởng niệm Hưng Đạo Đại Vương
Trần Quốc Tuấn cùng các danh tướng hoàng thân quốc thích nhà Trần có công lớn
trong 3 lần đại phá quân Nguyên Mông lập nên 8 trang Đào Động xưa.
16
2.3 Đặc điểm kiến trúc - điêu khắc
2.3.1 Khái quát chung về kiến trúc, điêu khắc
* Vị trí địa lý đền Đào Động
Đào Động xưa chỉ là một cồn đống, bốn bề sông nước mênh mông do vậy ngôi
đền của làng cũng được bao bọc bởi các con sông. Thời cổ đại, giao thông chủ yếu
dùng thuyền “Đông Chu, Bắc Mã’’ cho nên với vị trí tâm điểm của các con sông là
điều kiện thuận lợi để khách lễ hướng về đền. Đền Đào Động nằm gữa khu vực sông
Hóa và sông Đại Lẫm, ngược lên phía Bắc gặp sông Luộc ở khu vực Tuần Tranh (Linh
Giang) tiếp vào sông Hồng Hà, xuôi về phía Đông 7 km sẽ sông Thái Bình tại cầu Xe.
Theo sông Hóa có cửa ra sông Thái Bình, sông Đại Lẫm hợp với sông Diêm đổ ra cửa
Trần (tức cảng Diêm Điền). Từ kinh thành theo sông Hồng vào cửa Hải Thị về sông
Đại Lẫm. Từ Đông Bắc theo sông Thái Bình xuống cầu Xe xuống Tuần Tranh và sông
Hóa để đến Đào Động đều thuận lợi.
Năm 1910, Pháp mở quốc lộ 10 từ Ninh Bình qua Nam Định sang thị xã Thái
Bình, đi thị xã Kiến An và thành phố Hải Phòng. Tuyến đường quốc lộ này đã tạo điều
kiện thuận lợi nối Đào Động với nhiều miền đất nước. Đền Đào Động tọa lạc cạnh cầu
Vật, sát đường quốc lộ, cách thị xã Thái Bình 20km, cách thành phố Hải Phòng 70km
và cách thị xã Kiến An 59km.
Trong bài Hồ từ viết vào cuố thế kỉ XIII, quan Điện Tiền Phạm Ngũ Lão khi đi
lễ và tham quan đền Đào Động, xúc động trước vườn đào, điện thánh, Phạm tướng
công đã phác họa đền Đào Động qua những vần thơ tuyệt bút. Đó là cảnh buổi sớm
mùa xuân, hoa lá rung rinh, đã xa rồi tiếng hạc mùa thu gió lạnh. Trong đền rực sáng,
trời tụ khí thiêng.
Giữa đời Lê Trung Hưng, đền có được tu bổ, mở rộng, nhưng không có văn bia
nào chép lại. Song chỉ cần hiện diện công trình tôn tạo năm 1899 cũng đã khẳng dịnh
được tầm vóc của di tích này.
Trong bài văn chầu viết từ năm 1940 đã khảo tả cảnh đền hồi đầu thế kỷ như
sau:
“Phủ Thái Ninh về miền Phụ Dực
Danh tiếng đồn náo nức gần xa
Đào Động đền phủ nguy nga
Tối linh tối thượng mấy tòa uy nghi
Đôi bên ngựa đứng voi quỳ
Nhởn nhơ phượng múa, long ly chầu vào
Nọ chim hót,nọ hoa chào
Một vùng cổ thụ ngất cao như thành
Bốn bề sông lượn bao quanh
18
Bồng lai tiên cảnh như tranh họa đồ”.
Cho đến nay, chốn “Bồng lai tiên cảnh như tranh họa đồ” ấy vẫn còn nguyên
cảnh sắc xưa. Đền Đào Động với tổng diện tích là 20.520m2, diện tích nội tự là
6000m2, tổng thần điện là 18 mẫu được thiết kế theo kiểu “tiền nhị hậu đinh” như một
lâu đài trung cổ gồm 13 tòa, 66 gian liên hợp chặt chẽ.
Quần thể kiến trúc đền chia thành 4 tiểu khu, phía trước là 3 tòa Đại tiền môn,
tả hữu gồm 6 tòa nhà lính, phía sau là 2 tòa của thủ từ và nhân viên trị sự. Ba khu vực
trên bao quanh 7 cung thờ thánh như khuôn viên chữ “quốc” lấy tâm tòa Trung Môn
Bốn mặt trồng cây cảnh hoa bốn mùa.Theo lệ xưa, khách thập phương dùng nước hồ
rửa mặt, tẩy trần cho sạch sẽ trước khi vào bái vọng Đức Vua Cha. Đứng ở đó ta có thể
thấy được tòa Nghi Môn bề thế, cổng đền là một công trình kiến trúc hoành tráng kiểu
Đại Môn của cung đình nhà Nguyễn.
Cổng Đông và Tây tuy gọi là cổng song kiến trúc hai tòa phụ này khá đơn giản.
Đó là hai cột trụ vuông, trên đắp trụ đấu vuông 2 tầng. Cánh gà một bên ăn vào tường
sân đền, một bên bắt vào hồi hành lang, phía trong phát triển thành cửa cuốn tò vò,
trên trán xây một biển văn, đỉnh đắp văn hiệu, thành bên dưới soi chỉ thành một bảng
văn. Trụ cột cổng soi chỉ kép, dưới đắp tảng vuông, hai mặt trước sau cẩn câu đối chữ
Hán. Bảng văn cổng phía Đông đề hai chữ lớn “Tả Môn”, cổng phía Tây đề hai chữ
“Hữu Môn”. Cả hai cửa đều đắp hai cánh gỗ kiểu thượng sơ hạ mật, dưới bưng kín,
sơn son, trên chạy sóng con bài. Khách sắp lễ thường qua cửa này, còn khách tham
quan vãn cảnh đi theo cửa Đại Tiền Môn.
-
Đại Tiền Môn
Gọi là cổng, song Đại Tiền Môn là 3 ngôi lầu lớn trải dài 24m, lòng rộng 2m,
trung môn cao 8m, tả môn và hữu môn cao 6m. Riêng hai cột đồng trụ góc cánh gà cao
tới 5,6m, gương tảng thắt cổ bong cao 1,08m, mỗi mặt rộng 1,2m. Phần quả găng cao
tới 0,8m, vươn rộng 0,6m. Lồng dền cao tới 1,1m, rộng 0,9m. Thân trụ cao 2,4m, bề
mặt mỗi chiều rộng 1m tạo dáng đứng vững chãi, bề thế không đâu bằng.
Phần thân cổng xây bằng 4 cột trụ lớn: cao 5m, bản rộng 0,6m trên chạy bao
lượn hoa, dưới cuốn vòm trổ, tổng cộng 2,4m cao 3m, đủ tầm cao khi rước kiệu không
cần phải xuống đòn.
Nghi Môn có tới 252 Hán tự như một bản tóm tắt giới thiệu về đền trước khi
chúng ta vào thăm nội tự nổi tiếng kỳ vỹ của di tích đền Đào Động.
Hai tòa Tả môn, Hữu môn cách Trung môn 1,35m (ngăn bằng hai tượng phù
điêu võ sĩ kim cương) được xây theo kiểu cổng thành lũy, trên có lầu canh, dưới có
tường vây bọc. Bốn góc xây cột trụ bản rộng 0,8m, cửa cuốn vòm, đóng cánh then bài
thượng sơ hạ mật.
trúc đời Nguyễn, mạnh nét đặc trưng của kiến trúc thế kỉ XIX. Nhận biết được niên đại
xây dựng tòa đại sảnh là do câu đối ở cột đá ghi rõ:
“Khải Định xuất thập niên tu tập
Hùng Triều thiên vạn cổ anh linh”.
Vế trên của câu đối chỉ rõ niên đại kiến tạo cung Đệ Tam và cung Đại Bái, vào
đời vua Khải Định, năm thứ 10 Hoàng Lịch (1925). Vế sau của câu đối giải thích vì
21
sao xây dựng công trình này, đó là để ghi nhớ một trang sử hiển hách, một nhân vật
anh hùng từ thời Hùng triều mà hàng vạn năm sau còn vang danh, được người đời
ngưỡng vọng.
Bước vào cung Đại Bái, khách lễ sẽ choáng ngợp trước những tầng tầng lớp lớp
hoành phi, cuốn thư, câu đối, cửa võng, y môn rực rỡ vàng son, chạm khắc tinh sảo đạt
đến độ hoàn mĩ tới từng chi tiết. Dọc hàng cột quân lậu lắp 3 tòa cửa võng lớn. Gian
trung tâm cửa dài 3m, diềm cao chia thành 2 phần: trán cửa và diềm võng, diềm võng
lại chia thành 3 mảng: thân, võng và diềm. Trán võng gắn trên mặt xà trung trạm
lưỡng long chầu nguyệt. Thân chia làm 5 ô chạm tùng, cúc, trúc, mai. Dạ cá chạm
lưỡng phượng chẩu đỉnh. Trên thân đỉnh chạm chữ vạn. Hai diềm chạm mai lão, trúc
lão hóa rồng: Gốc trúc thành đầu rồng, rễ trúc, rễ mai kết thành râu, thành tóc, thành
bờm, lá trúc thành vuốt, hoa mai thành mây, thân lão, mai lão cúc uốn khúc thành thân
rồng uốn lượn làm thành đường biên cửa võng. Chính giữa cung là tấm hoành phi cỡ
lớn đề: “Phúc du đồng”. (Dịch ý: Đây là nơi mọi người cùng mong phúc kéo dài mãi
mãi). Nhận xét: Với những hoành phi, câu đối, cửa võng, y môn được chạm khắc cầu
kì, bằng đủ nghệ thuật chạm rỗng, chạm bóng, khắc nổi, sơn son thếp vàng đã đạt đến
trình độ tuyệt mĩ của nghệ thuật, kết hợp với cách bài trí trong đền, đây xứng đáng là
một bảo tàng nghệ thuật điêu khắc gỗ có niên đại lâu năm hiếm có nơi nào sánh đươc.
* Cung đệ tam.
Nếu như cung Đệ Tứ nguy nga, được trang trí lộng lẫy khiến ta như lạc vào chốn
cung đình thì cung Đệ Tam bài trí tự nhiên, toát lên sự thanh hư, thoát tục, là cõi tâm
cuộn tròn thành vòng tròn âm dương. Hai hồi trổ 2 cửa sổ cao 1.8m, rộng 1m nhằm lấy
ánh sang cho cung Quan Hoàng và cung Đệ Tứ. Nội thất làm kiểu lòng thuyền tứ trụ,
thượng giá chiêng, hạ chồng giường, đấu trạm hoa sen, giường chạm hoa lá, đầu chạm
rồng.
Cung được trang trí 2 tầng cửa võng và đề tài chạm khắc cũng khá phong phú
hơn, đủ long chầu, phượng múa, nghê hi cầu, phượng hàm thư. Bên cạnh các gốc đào
thụ, lão long còn có cổ thụ, lâu đài, động thiên.
Đặc biệt tại tòa Đệ Nhị còn có bức Phượng Thư có “hình chim phượng đằng
vân” và bức Ngự thư “cá chép hóa rồng”. Đây là hai kiệt tác nghệ thuật độc đáo có
một không hai, chỉ riêng đền Đào Động mới có. Trên hai bức hoành phi này, có các
bài thơ, bài minh bằng đồng, thợ chạm khắc chữ riêng, rồi đính vào nền. Rất tiếc thời
gian làm cho mấu đính bị mòn, chữ đính trên đó bị rơi ra và như vậy nội dung của các
bức hoành phi này không thể dịch thuật đúng được. Tuy vậy, chỉ nhìn hình dáng và
nền chạm khắc ta cũng thấy những thông tin rất lí thú, độc đáo.
Bức thượng thư tạc hình con chim phượng to có mào đang bay, phía dưới có tạc
một con phượng non bay theo. Bức thượng thư được đầu tư gia công nghệ thuật rất
23
cao. Dáng chim đầu thanh, mỏ nhỏ, mào to, mắt nhỏ, cổ cao, ức nở, thân thon, 2 cánh
vơn trước, sải sau xòe rộng. Đuôi phượng uốn lượn như sóng nước. Bờm cổ lông mượt
như nhung. Lông cánh đều như rẻ quạt. Lông đuôi mềm mượt như liễu bay. Đây là
bức phượng thư duy nhất có được ở Thái Bình.
Bức Ngự thư thể hiện đề tài cá chép hóa rồng, vừa hàm chứa nội dung chuyện
cổ dân gian, cá chép vượt vũ môn, vừa thể hiện lai lịch của đền, và nhân vật thờ tự.
Theo truyền thuyết thì thần Bát Hải đầu rồng, thân người, cá chép thì hành quân như
rồng rắn theo trung quân nguyên soái Vĩnh Công đi đánh giặc các vùng hải đảo.
Nét thần diệu là cá này có cổ, ngoảnh lại bên lườn, vẫn dáng đầu cá nhưng lại
có râu, có bờm, có tóc vắt ngược về sau như đầu rồng. Vẫy là vây vẩy, nhưng vây lưng
bay phấp phới như riềm tua chờ chiến. Vảy xếp hàng đề đằn trông như áo giáp vàng,