Đánh giá kết quả thực hiện đề án nông thôn mới tại xã An Ấp – huyện Quỳnh Phụ - tỉnh Thái Bình - Pdf 36

MỤC LỤC


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn chiếm một vị trí chiến lược trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; làcơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển
kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, an ninhquốc phòng; góp phần vào việc giữ
gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái chung của cả
nước .
Trong hơn 25 năm đổi mới vừa qua, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta
đã đạt được những thành tựu khá toàn diện và to lớn. Tuy nhiên, những thành tựu đạt
được đó còn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng.
Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, đời sống vật chất, tinh thần của người dân
nông thôn còn thấp. Chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các
vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề bức xúc. Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) đề ra
Nghị quyết với chủ trương, nhiệm vụ hết sức quan trọng là “Xây dựng nông thôn mới
có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức
sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị
theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc...” [7]. Đây là
một chủ trương có ý nghĩa to lớn cả về chính trị, kinh tế và xã hội tạo động lực mạnh
mẽ cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
người dân, tạo ra diện mạo nông thôn mới ổn định, có đời sống văn minh phong phú,
đậm đà bản sắc dân tộc.
Qua quá trình thực hiện đề án xây dựng nông thôn mới tại xã An Ấp – huyện
Quỳnh Phụ - Tỉnh Thái Bình. Bộ mặt nông thôn xã An Ấp đã có nhiều khởi sắc. Đời
sống nhân dân ấm no, mức thu nhập bình quân tăng cao, cơ sở hạ tầng và kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội được đã có sự biến chuyển,... Tuy nhiên, quá trình thực hiện vẫn
còn gặp nhiều bất cập, chưa phát huy được tối đa tiềm năng. Với yêu cầu đó cần có
những đề xuất sửa đổi để phù hợp với thực tế của địa phương trong thời gian tới.
Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên, được sự phân công của Khoa Quản lý đất

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để các nhà quản lý, các cấp lãnh đạo của
huyện, xã đưa ra những chính sách phát triển đề án xây dựng nông thôn mới tại xã An
Ấp, huyện Quỳnh Phụ, Tỉnh Thái Bình.

3


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận của đề án xây dựng nông thôn mới
1.1.1. Khái niệm chung về nông thôn, nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới
a) Khái niệm nông thôn
Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, quy định: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội
thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là
ủy ban nhân dân xã" [16].
b) Khái niệm nông thôn mới
Là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân
không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Nông
dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững
vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới.
Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban chấp hành trung ương khoá X, nông
thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại;
cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; đời sống vật chất và tinh thần
của người dân ngày càng được nâng cao. Với tinh thần đó, nông thôn mới có năm nội
dung cơ bản bao gồm: nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản
xuất bền vững, theo hướng hàng hóa; đời sống vật chất và tinh thần của người dân
ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển và xã hội
nông thôn được quản lý tốt và dân chủ.
c) Xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mớilà cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng

cho việc triển khai thực hiện chương trình này, bao gồm:
Luật đất đai số 13/2003/QH11.
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ bẩy Ban
chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Nghị quyết 24/2008/NQ-CP, ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành Chương
trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bẩy Ban Chấp hành
Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ
ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới.
Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ nông nghiệp và
phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 14:2009/BXD - Quy hoạch xây dựng nông
thôn ban hành theo Thông tư số 32/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 của Bộ XD.
Thông tư số 07/2010/TT-BNNPTNT của Bộ nông nghiệp và phát triển nông
thôn hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo bộ tiêu chí
quốc gia về nông thôn mới.

5


Quyết định số 800/2010/QĐ-TTg, ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 2020.
Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT ngày
30/10/2011 Quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn
mới.
Quyết định số 342/QĐ-TTg sửa đổi 5 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông
thôn mới ngày 20/2/2013.
1.2.2. Căn cứ pháp lý lập đề án xây dựng nông thôn mới xã An Ấp
Căn cứ vào Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ
tướng chính phủ về việc phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM

80% dân nông thôn không có điện thắp sáng, sống trong những căn nhà lợp bằng lá.
Làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo là mối lo lớn nhất của chính phủ. Phong
trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và hợp
tác (hiệp lực cộng đồng) đã thu về kết quả to lớn.
Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu. Chỉ sau 8
năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành. Trong 8
năm từ 1971 - 1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43631km đường làng nối với đường
của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm
42220km. Thắng lợi đó đã được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn: phát huy nội
lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; phát triển sản xuất để tăng
thu nhập; đào tạo cán bộ phục vụ xây dựng nông thôn; phát huy dân chủ để phát triển
nông thôn; phát triển kinh tế hợp tác và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức
mạnh toàn dân.
b) “Mỗi làng, một sản phẩm” ở Nhật Bản
"Mỗi làng, một sản phẩm" (One Village, one Product-OVOP) được đưa ra vào
năm 1979, với mục tiêu phát triển vùng nông thôn một cách tương xứng với sự phát
triển chung của cả Nhật Bản. Phong trào này dựa trên 3 nguyên tắc chính là: địa
phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; phát triển nguồn
nhân lực. Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ
trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm được xác định là thế mạnh.
c) Phát triển ngành “kinh doanh nông nghiệp”ở Mĩ
Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông nghiệp.
Các khoản vốn đầu tư lớn và việc tăng cường sử dụng lao động có trình độ cao đã góp
phần vào thành công của ngành nông nghiệp Mỹ. Điều kiện làm việc của người nông
dân trên cánh đồng rất thuận lợi. Công nghệ sinh học giúp phát triển những loại giống
chống được bệnh và chịu hạn. Công nghệ vũ trụ được sử dụng để giúp tìm ra những
nơi tốt nhất cho việc gieo trồng và thâm canh mùa màng. Định kỳ, các nhà nghiên cứu
lại giới thiệu các sản phẩm thực phẩm mới và những phương pháp mới phục vụ việc
nuôi trồng thủy, hải sản, chẳng hạn như tạo các hồ nhân tạo để nuôi cá. Ngành nông
nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp” . Vào năm 1940,

hiện qua việc đánh giá năm nhóm tiêu chí sau:
Về quy hoạch nông thôn mới: Trong 19 tiêu chí thì việc lấy tiêu chí quy hoạch
đặt lên hàng đầu là phù hợp vì đó là điều kiện tiên quyết. Với sự hỗ trợ của cán bộ các
đơn vị tư vấn ngành xây dựng, Ban quản lý chương trình ở các xã điểm đã rà soát, kế
thừa, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch đã có, xây dựng các quy hoạch theo yêu cầu
của chương trình xây dựng nông thôn mới.
Về xây dựng cơ sở hạ tầng: Hạ tầng là khâu đột phá có tác động trực tiếp đến
phát triển kinh tế - xã hội nông thôn. Từ khi tiến hành xây dựng nông thôn mới đến
8


nay, các địa phương trong cả nước đã triển khai được 5000 công trình giao thông nông
thôn (khoảng 64000km đường); cải tạo và nâng cấp 1000 công trình thủy lợi; xây
dựng, nâng cấp hơn 1000 công trình nước sạch tập trung và 500 bãi thu gom rác thải.
Ngoài nguồn vốn ban đầu do Trung ương hỗ trợ (thấp nhất là 10 tỷ đồng, cao nhất là
50 tỷ đồng/xã), các địa phương còn lồng ghép, huy động các nguồn lực khác đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng. Không ít các hộ gia đình tự nguyện hiến đất để xây dựng
đường giao thông, kênh mương thủy lợi nội đồng… góp phần vào việc thúc đẩy nhanh
chóng hoàn thiện cơ sở hạ tầng nông thôn.
Về phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất: Ðây là yếu tố quyết định sự phát triển
bền vững, lâu dài của mô hình, góp phần trực tiếp vào việc nâng cao đời sống của
nông dân. Chính quyền xã cùng với ngân hàng, các tổ chức tín dụng đưa ra chính sách
khuyến khích, hỗ trợ người dân tham gia vay vốn để đầu tư phát triển sản xuất. Nhờ
đó, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, chỉ trong ba năm thực hiện xã giảm hộ nghèo thấp nhất
cũng được 6 - 7%, cao nhất giảm được 14%. Các tỉnh cũng đã hỗ trợ trên 1.200 tỷ
đồng thực hiện 5.000 mô hình sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất từ 15 –
20%.
Về văn hóa, xã hội, môi trường: Các xã đã chủ động đánh giá thực trạng, đưa ra
những hướng phát triển cho các nội dung về văn hoá – xã hội – môi trường như: giáo
dục, y tế, nước sạch và vệ sinh môi trường; cải tạo nhà ở, xây dựng ba công trình vệ

Tuy nhiên, để làm được điều đó phải có một chiến lược phát triển kinh tế chung, tổng
thể của cấp vùng hoặc cấp tỉnh, như thế cấp xã mới có cơ sở để đưa ra phương án quy
hoạch tại địa phương”.
Chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình khung xây dựng
định hướng nền tảng cho toàn bộ xã hội, các chương trình đầu tư của Nhà nước, dân
cư, doanh nghiệp trong xây dựng và phát triển nông thôn. Nhưng hiện nay, phần lớn
hoạt động xây dựng nông thôn mới ở các địa phương vẫn dựa chủ yếu vào nguồn vốn
Nhà nước, chưa tạo được một động lực đầu tư mạnh mẽ từ nhân dân và toàn xã hội.
Nguyên nhân chính của tình trạng này là chưa có một môi trường an toàn đầu tư trong
nông nghiệp nông thôn, làm chậm tiến độ xây dựng nông thôn mới.
Nâng cao năng lực của người dân nông thôn là một trong những nhu cầu cấp
thiết không chỉ cho sự phát triển của nông nghiệp, nông dân, nông thôn mà có sự quan
hệ mật thiết với nhu cầu công nghiệp hóa, đô thị hóa, hiện đại hóa dịch vụ, hiện đại
hóa nông nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề này chưa được thực hiện hiệu quả ở hầu hết các
địa phương. Cơ cấu sản xuất ở nhiều xã còn mang tính tự phát do chưa gắn kết với quy
hoạch vùng. Công tác tập huấn, đào tạo nghề nông cho nông dân còn rất hạn chế chưa
gắn với các dự án, chương trình và nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp. Các
tiêu chí khác về văn hóa, xã hội, môi trường như: quy hoạch và quản lý nghĩa trang, xử
lý rác thải ở các thôn, ấp… dường như chưa có chuyển biến tích cực, vẫn là những vấn
đề bức xúc lớn ở nông thôn. Do đó, cần có những thay đổi thiết thực để hoàn thiện,
phù hợp hơn với thực tiễn.

10


CHƯƠNG II : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Nông thôn và một số vấn đề về nông thôn mới.
- Việc thực hiện 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới theo Bộ tiêu chí Quốc gia

2.5.3. Phương pháp so sánh
Phương pháp này so sánh giữa lý thuyết và thực tế về tình hình thực hiện đề án
nông thôn mới tại xã An Ấp
2.5.4. Phương pháp kế thừa, bổ sung
Thừa kế những số liệu tài liệu của những người đi trước đồng thời bổ xung
những vấn đề, số liệu mới phù hợp với nội dung nghiên cứu.
2.5.5. Phương pháp chuyên gia
Là phương pháp tham khảo ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vữ nghiên cứ.
Đồng thời sử dụng một số kết quả nghiên cứu có liên quan đến phạm trù này 1 cách
linh hoạt, hợp lí và cần thiết.
2.5.6. Phương pháp xử lý số liệu
Từ các nguồn số liệu điều tra thu thập được thông tin về địa bàn nghiên cứu, tiến
hành tổng hợp và phân tích số liệu. Biểu diễn số liệu trên các bảng biểu.
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xuất phát từ quan điểm sự
vật luôn vận động và phát triển, các quá trình hoạt động của các sự vật hiện tượng đều
liên quan đến nhau, có mối quan hệ biện chứng với nhau. Phương pháp này giúp cho
việc xem xét phân tích, đánh giá sự thay đổi của xã trước và sau khu thực hiện xây
dựng đề án NTM.
- Phương pháp dự báo: Là phương pháp dựa vào điều kiện thực tế và khả năng
phát triển của cơ sở cũng như diễn biến của kinh tê – xã hội. Căn cứ vào tình thực
trạng đã nghiên cứu, đánh giá từ đó đề ra phương hướng phát triển.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Sử dụng phương pháp này để tổng
hợp các số liệu thu thập được sau đó xử lý trên bảng tính excell, phân tích và đánh giá
tình hình thực hiện.

12


CHƯƠNG III : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên


2.1.4 Thủy văn
Trên địa bàn xã có 2 sông là sông Diêm và sông Sành bao quanh, với chiều dài
hành chính là 5 km, có trục đường bộ 455 nằm cắt ngang xã thuận tiện cho việc giao
thông đi lại vận chuyển hàng hoá từ cảng bến Hiệp đi cầu Nghìn. Đây là 2 con sông
chính cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã. Tuy nhiên thuỷ
văn của xã cũng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa lớn tập trung theo
mùa thường gây ra úng lụt vào mùa mưa lũ, khô hạn vào mùa khô.
Ngoài nước của con sông chính thì hệ thống sông, ngòi, ao, hồ của xã rất phong
phú tạo nên một lượng nước lớn phục vụ sản xuất đời sống, sinh hoạt và nuôi trông
thuỷ sản của nhân dân.
2.1.5 Diện tích đất tự nhiên
Tổng diện tích tự nhiên của xã là 576,41 ha. Trong đó.
Đất nông nghiệp: 426,09 ha gồm:
Đất sản xuất nông nghiệp: 406,44ha.
Đất nuôi trồng thủy sản: 19,64 ha.
Đất phi nông nghiệp: 149,54 ha gồm:
Đất ở: 28,45ha.
Đất chuyên dùng: 113,9 ha.
Đất đất tôn giáo, tín ngưỡng:1,11ha.
Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 4,12 ha.
Đất mặt nước chuyên dùng: 1,96 ha.
Đất bằng chưa sử dụng: 0,78 ha.
2.1.6 Nguồn nhân lực
Tổng số hộ: 1.516 hộ.
Tổng số nhân khẩu: 6.180 khẩu.
Tổng lao động trong độ tuổi: 3.429 người = 55,5% dân số.
3.2 Điều kiện kinh tế
Mặc dù gặp nhiều khó khăn, thử thách do thời tiết diễn biến phức tạp, song đảng
bộ và nhân dân xã đã cố gắng nỗ lực vượt qua khó khăn, giành được những kết quả

Giá trị Công nghiệp-Tiểu thủ công nghiệp và Xây dựng cơ bản ước tính đạt 82,2
tỷ đồng ( giá năm 2010) tăng 85,5% so với năm 2010.
Về phát triển nghề và làng nghề, đào tạo nghề cho người lao động : Khuyến
khích tạo điều kiện du nhập các ngành nghề mới về địa phương như mây tre đan, làm
tiền giấy, khâu giầy…, Sản xuất Công nghiệp-Tiểu thủ công nghiệp phần lớn đã giải
quyết vấn đề việc làm, lao động tại địa phương, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu
lao động nông thôn và thúc đẩy nền kinh tế địa phương ngày càng phát triển ổn định.
Về Xây dựng cơ bản nhiệm kì 2010-2015: Gắn liền với nguồn vốn hỗ trợ của
cấp trên, vốn ngân sách của xã và nguồn vốn đóng góp của nhân dân. Xã An Ấp đã
xây dựng tầng 2 trường THCS, Nhà hiệu bộ 2 trường THCS, Tiểu học, 4 phòng kĩ
15


thuật trạm y tế xã. Đồng thời cứng hóa 6,34 km giao thông trục chính nội đồng, trên
16000 km đường giao thông nông thôn. Các công trình xây dựng đảm bảo chất lượng
và không có nợ vốn xây dựng cơ bản.
3.2.3 Thương mại – dịch vụ
Hoạt động dịch vụ có bước phát triển khá, đa dạng các mặt hàng, tăng về quy
mô, chất lượng, số hộ và lao động so với năm 2010. Trong nhiệm kì, xã đã hoàn thiện
việc quy hoạch, xây dựng và đưa vào khai thác chợ Láp, thôn Xuân Lai. Hiện toàn xã
có trên 120 hộ tham gia lĩnh vực kinh doanh với nhiều mặt hàng cũng như đa dạng hóa
chủng loại, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất và phục vụ đời sống
nhân dân. Hoạt động quỹ tín dụng nhân dân phát triển khá tốt, tạo thuận lợi về nguồn
vốn cho phát triển sản xuất của địa phương, các dịch vụ vận tải, thông tin, viễn thông
phát triển tương đối tốt, đáp ứng thuận lợi nhu cầu đi lại và nắm bắt cập nhật thông tin
của người dân. Nâng cấp đường giao thông liên thôn, liên xã nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho việc lưu thông hàng hóa trong xã với thị trường bên ngoài. Góp phần đưa giá
trị sản xuất Dịch vụ-Thương mại năm 2015 ước tính đạt 35,9 tỷ đồng ( giá năm 2010)
tăng 63,9% so với năm 2010.
3.2.4 Phát triển các thành phần kinh tế

thực hiện xong việc dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp, năm 2012 hoàn thành việc quy
hoạch chi tiết kế hoạch sử dụng đất đai, từng bước tiến hành xây dựng các tiêu chí
nông thôn mới. Trong 5 năm tổng mức đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội
với số kinh phí 41,4 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn hỗ trợ là 22,5 tỷ đồng = 54,0 %, vốn
địa phương là 6,9 tỷ đồng = 16,0%, vốn nhân dân đóng góp 12 tỷ đồng = 28%. Hết
năm 2014, xã An Ấp đã hoàn thành 15/19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới.
3.2.7. Cơ chế chính sách
Chương trình cải cách hành chính được thực hiện khá tốt, cùng với sự đổi mới
công tác quản lí, điều hành hoạt động của UBND xã. Công khai cụ thể về các thủ tục
hành chính để các tổ chức cá nhận thuận lợi khi đến liên hệ giải quyết công việc.
Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính Phủ về việc kiềm
chế lạm phát cắt giảm những khoản chi chưa cần thiết để tập trung mọi nguồn vốn cho
các công trình trọng điểm, hỗ trỡ sản xuất, an sinh xã hội. Trong nhiệm kỳ vừa qua,
tổng thu ngân sách xã là 35.396.155.683 đồng; trong đó nguồn vốn ngân sách nhà
nước cấp là 22,651.297.000 đồng, thu từ địa bàn xã là 12,744.858.683 đồng ( kể cả
nguồn thu từ quy hoạch đất theo quyết định 372). Tổng chi ngân sách xã là
33.603.530.915 đồng trong đó chi cho xây dựng cơ bản là 11.187.754.500 đồng, chiếm
33,3%; không có tình trạng nợ đọng trong xây dựng cơ bản.
3.3 Văn hóa – xã hội
3.3.1 Sự nghiệp giáo dục – đào tạo, khoa học- công nghệ
Thực hiện chủ trương đổi mới công tác giáo dục đào tạo theo tinh thần của Nghị
quyết hội nghị TW 8 ( khóa XI), Nghị quyết số 01 của Ban chấp hành Đảng bộ Huyện
về “Phát triển sự nghiệp giáo dục giai đoạn 2011-2015” , định hướng đến năm 2020.
Đảng ủy đã tập trung lãnh đạo, đầu tư xây dựng đủ phòng học, xây dựng môi trường
giáo dục lành mạnh; xanh-sạch-đẹp ; chỉ đạo 3 nhà trường trong xã đã thực hiện tốt
việc duy trì số lượng học sinh đến trường đảm bảo; chất lượng học sinh giỏi luôn xếp
17


thứ hạng cao trong toàn huyện, số học sinh giỏi ngày một tăng. Các nhà trường nhiều

dựng chương trình hành động, quán triệt và thực hiện nghiêm túc Quyết định 17 của
UBND tỉnh về xây dựng nếp sống văn hóa trên địa bàn xã. 100% các đoàn thể và các
trường học đều đăng ký phấn đấu đạt tiêu chuẩn cơ quan, đoàn thể văn hóa. Bình quân
18


mỗi năm có 1280 hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa ( = 84,4% tổng số hộ
đăng ký, có 17/25 lượt thôn , đơn vị đạt văn hóa cấp huyện; phong trào xây dựng gia
đình, thôn làng, đơn vị văn hóa đã trở thành nền nếp và được nhân dân trong xã đồng
tình ủng hộ.
Phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng có bước phát triển rõ
ràng, các câu lạc bộ như bóng chuyền, bóng bàn, tâm năng dưỡng sinh, văn hóa văn
nghệ hoạt động đều đều ở các thôn. Hàng năm xã đều tổ chức từ 4 đến 5 giải thể thao
cấp xã và tham gia từ 1 đến 2 giải thể thao cấp huyện.
Các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng được đầu tư, trùng tu xây dựng bằng nguồn vốn
đóng góp tự nguyện của nhân dân, ngày càng càng hoàn thiện, đáp ứng được nhu cầu
tín ngưỡng tâm linh của nhân dân như chùa thôn An Ấp, Cam Mỹ, Thượng Phúc,
Đông Thành, Xuân Lai.
Hoạt động thông tin tuyên truyền được chú trọng, thường xuyên kiện toàn bổ
sung kịp thời về nhân sự và đầu tư nâng cấp trang thiết bị kỹ thuật nhằm đáp ứng kịp
thời về công tác tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị của địa phương cũng như nhu cầu
về thông tin của người dân. Đầu tư cơ sở vật chất thay thế đường dây tuyền thanh bằng
hệ thống truyền thanh không dây trên mạng truyền thanh toàn xã.
3.3.3 Chính sách xã hội
Tập trung lãnh đạo chỉ đạo thực hiện tốt Pháp lệnh ưu đãi đối với người và gia
đình có công với cách mạng, thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách đối với thương
binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng, người có công với nước
và chăm sóc giúp đỡ người tàn tật, trẻ em mồ côi. Trong 5 năm qua, xã đã xây mới 61
nhà cho hộ nghèo và nhà cho gia đình chính sách, đối tượng xã hội với tổng số tiền là
940,8 triệu đồng.

Thủ tướng Chính phủ, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.
Trong nhiệm kỳ Đảng ủy, chính quyền đã lãnh đạo chỉ đạo xây dựng quy chế
phối kết hợp hoạt động giữa lực lượng công an xã với các tổ chức chính trị xã hội
trong việc đấu tranh, phòng chống tội phạm. Duy trì có hiệu quả hoạt động của các mô
hình tổ tự quản về ANTT;ATGT;VSMT, câu lạc bộ phòng chống ma túy, góp phần giữ
vững tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Làm tốt công tác tuyên truyền,
phổ biến giáo dục, pháp luật tới công dân; không có tình trạng khiếu kiện đông người
hay khiếu kiện vượt cấp.
ĐÁNH GIÁ CHUNG
Những năm gần đây mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thách thức song với tinh
thần đoàn kết thống nhất, khắc phục khó khăn, Đảng bộ và nhân dân An Ấp đã nỗ lực
phấn đấu đạt được những kết quả quan trọng.
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định. Đời sống vật chất tinh
thần của nhân dân không ngừng được cải thiện, bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới.
Kinh tế có bước tăng trường khá trên cả 3 lĩnh vực Nông nghiệp, TTCN-XDCC,
TMDV. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế , cơ cấu lao động theo hướng tích cực. Văn hóa xã
hội phát triền khá toàn diện, Quốc phòng an ninh được giữ vừng. Công tác xây dựng
đảng và hệ thống chính trị ngày càng được củng cố. Việc “Học tập và làm theo tấm
20


gương đạo đức Hồ Chí Minh” và xây dựng chỉnh đốn đảng theo tinh thần Nghị quyết
Trung ương 4 ( khóa XI) có chuyển biến tích cực. Việc điều hành quản lý của chính
quyền ngày càng phát huy hiệu lực và hiệu quả; hoạt động của Mặt trận tổ quốc và các
đoàn thể nhân dân từng bước được nâng cao cơ bản đạt và vượt chỉ tiêu đại hội đã đề
ra.
+ Những hạn chế, yếu kém
-

Kinh tế:

+ Nguyên nhân
Nguyên nhân khách quan:

21


Vị trí địa lý của địa phương không thuận lợi, địa điểm xuất phát thấp, nền kinh
tế không cân đốim nguồn thu tài chính hạn hẹp , thu không đủ chi, chủ yếu là nguồn
công trợ từ cấp trên. Việc phân bổ nguồn thu từ quỹ đất đai theo Quyết định 372 cho
xã còn thấp.
Tác động của tình hình suy thoải kinh tế toàn cầu, tình trạng lạm phát, giá cả vật
tư, hàng hóa tăng cao, thiên tai dịch bênh diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng trực tiếp
đến việc thực hiện các chỉ tiêu Đại hội nhiệm kỳ đã đề ra, trong đó có chỉ tiêu về đề án
nông thôn mới.
Nguyên nhân chủ quan:
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp đảng ủy, chính quyền có mặt hạn còn hạn
chế. Ý thức trách nhiệm của một số cán bộ, đảng viên chưa cao, chưa gương mẫu
trong việc xây dựng Nghị quyết. Cố tổ chức đoàn thể chính trị xã hội chưa thực sự đủ
mạnh để làm nòng cốt cho các phòng trào của địa phương.
Việc tự phê bình và phê bình chưa được thường xuyên, có lúc có nơi làm chưa
nghiêm túc, còn tình trạng tư tưởng nể nang, né tránh. Một số cán bộ, đảng viên chưa
thường xuyên tu dưỡng đạo đức, rèn luyện đạo đức, chưa thực sự gương mẫu trước
nhân dân.
Ý thức người dân đôi lúc còn chưa cao. Nhiều khi còn chưa đoàn kết, thống
nhất, đồng lòng góp sức xây dựng phát triển.
+ Bài học kinh nghiệm:
Phải nắm vững quan điểm, chủ trương của đảng, chính sách pháp luật của nhà
nước từ đó vận dụng sáng tao vào tình hình thực tiễn ở địa phương. Trước khi ban
hành Nghị quyết , lãnh đạo phải tập trung trí tuệ, mở rộng dân chủ, tôn trọng ý kiến
của cán bộ và nhân dân.

bằng bê tông hoá đường rộng 3m.
Đường thôn xóm dài 13.2km được xây dựng bằng 100% bằng gạch ghé, lòng lề
đường rộng từ 2,0- 2,5m. mặt đường gạch rộng từ 1,2-1,5m.
Đường giao thông trục chính nội đồng dài 19,8km, mặt đường rộng 2,0m đã bê
tông hoá được 3,3km.
Nhìn chung hệ thống giao thông đều chưa đạt theo cấp kỹ thuật của bộ giao
thông vận tải.
Tiêu chí 3 : Thủy lợi
Sông cấp 3 do xã quản lý có chiều dài 13,2km mặt cắt được khoán cho các tổ
thuỷ nông thường xuyên vớt bèo dọn cỏ bảo đảm thông thoáng.
Xã có 8 trạm bơm công xuất từ 540m 3/h-3.600m3/h, kênh mương cấp I dài
12770m đã kiên cố hoá theo cấp kỹ thuật được 2200m
Kênh mương cấp 2 dài 12600m và mương cấp 3 dài 14.400m còn là mương đắp
đất chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất nông nghiệp.
Cống đập chính là 19 cái rộng từ 0,8-2m chưa đáp ứng được yêu cầu việc điều
tiết nước.
23


Tiêu chí 4 : Điện
Hệ thống điện dân sinh của xã được xây dựng từ năm 1995 được thiết kế cột bê
tông.
Cột cao từ 6,5m đến 7,5m, xà sắt sứ đơn dây điện từ A10-A14 nhiều sợi dây
nhôm nhỏ đó cũ, dây dẫn điện kém, chưa đạt được yêu cầu cấp kỹ thuật. Cú 4 trạm
biến áp tổng công suất là 770 KW.
Hiện nay quản lý vận hành có 1 HTXDV điện năng thực hiện bán giá điện theo
quy định của Chính phủ.
Toàn xã có 100% số hộ dùng điện, nhưng nhìn chung hệ thống điện hiện nay
chưa đáp ứng được yêu cầu cấp kỹ thuật.
Tiêu chí 5 : Trường học

Xã có 1 di tích văn hoá cấp tỉnh ( đền bà chúa thôn An ấp)
Tiêu chí 8 : Chợ
Xã có 01 chợ họp hàng ngày không họp theo phiên, diện tích 400m 2 ( không
đạt).
Tiêu chí 9 : Bưu điện
Xã có 1 bưu điện văn hoá xã bảo đảm các dịch vụ viễn thông , xã có 2 điểm dịch
vụ intenet tại thôn tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ internet khoản 15%
Tiêu chí 10 : Nhà ở dân cư
Tỷ lệ nhà ở dân cư đạt tiêu chuẩn bộ xây dựng là 70%
Nhà tạm, nhà dột nát : không.
Tiêu chí 11 : Kinh tế
Cơ cấu kinh tế của các ngành:
Nông nghiệp: 47,9%
XD-TTCN: 31.1%
TM-DV: 21.0%
Tiêu chí 12 : Thu nhập
Thu nhập bình quân đầu người 10-12 triệu đồng/năm.
Tiêu chí 13 :Tỷ lệ hộ nghèo
Tỷ lệ hộ nghèo: 10,3%
Tiêu chí 14 : Cơ cấu lao động
Tổng số lao động 3.429 người =55,5%
Trong đó: Lao động trong nông nghiệp = 2139 người = 62,3%
Lao động CN-TTCN= 780 người = 22,7%
Lao động làm dịch vụ 510 người = 15%

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status