Đánh giá kết quả chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã La Phù huyện Hoài Đức năm 2015 - Pdf 35

CHƯƠNG II: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC
GIA VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
I.

Cơ sở lý luận

1.

Các khái niệm cơ bản.



Nông nghiệp
Là quá trình sản xuất ra lương thực thực phẩm cung cấp cho con người và
tạo ra của cải cho xã hội.



Nông dân
Là người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp, sống
chủ yếu bằng ruộng vườn sau đó đến ngành nghề khác và tư liệu chính là đất
đai.



Nông thôn
Khi nhắc đến “nông thôn” trong tâm thức người Việt đó là một môi
trường kinh tế để sản xuất với nghề lúa nước cổ truyền, không gian sinh tồn,
không gian xã hội và cảnh quan văn hóa xây đắp nên nền tảng tinh thần, tạo
thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của ngườiViệt làng xã, cộng đồng dân cư có
ranh giới lãnh thổ tự nhiên và hành chính xác định. Nhưng hiện nay vẫn chưa

Nông thôn là nơi ở, nơi cư trú của mọi tầng lớp dân cư, trong đó chủ
yếu là nông dân. Nông thôn là nơi nền sản xuất chủ yếu dựa vào nền nông
nghiệp. Hay nói cách khác, nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội
thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành
chính cơ sở là UBND xã.


-

Nông thôn mới
Nông thôn mới là nông thôn mà trong đó đời sống văn hóa, vật chất, tinh
thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa
nông thôn và thành thị. Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật
tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn
mới.


-

Nông thôn mới có nền kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng
được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý
giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định,
giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ. Sức mạnh
của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và
trật tự xã hội



Xây dựng nông thôn mới.


văn minh.
Cụ thể, vai trò của chương trình xây dựng nông thôn mới thể hiện trên
những mặt sau đây:
- Về Kinh tế: Xây dựng nông thôn mới là chương trình rất lớn và toàn diện,
lần đầu tiên được thực hiện ở nước ta trên quy mô cả nước. Chương trình này
với mục tiêu chính là làm thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng văn minh, hiện
đại, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đồng đều giữa các khu vực, vùng,
miền. Khi triển khai thí điểm ở một số địa phương tại nước ta thì nó đã đem lại
nhiều kết quả tích cực, cùng với sự sáng tạo, linh hoạt trong cách thức thực hiện
của từng địa phương đã góp phần làm cho kinh tế địa phương phát triển hơn và
đời sống của nhân dân được cải thiện hơn rất nhiều.
Chương trình hướng đến những vai trò cụ thể :


+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp- nông thôn theo hướng hiện đại, theo
đó tăng nhanh tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ
trọng khu vực nông – lâm - ngư nghiệp.
+ Trong khu vực nông – lâm – ngư nghiệp hướng đến việc tăng các giá trị sản
phẩm nông nghiệp bằng cách tăng ……………….
+ Chuyển dịch mô hình sản xuất……………….( bằng cách xây dựng các mô
hình…………)
+ Tăng thu nhập, thay đổi bộ mặt của nông thôn

- Về chính trị: Những vai trò về mặt kinh tế mà chương trình mang lại góp
phần tạo dựng được sự tin tưởng của nhân dân vào các chính sách của Nhà
nước, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân, tránh được tình trạng các
phần tử lợi dụng người dân để chống phá Đảng và Nhà nước, từ đó ổn định tình
hình chính trị trong nước. (Văn kiện…)

- Về văn hóa xã hội: Trên cơ sở giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống


- Thực hiện Chương trình xây dựng NTM phải gắn với kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện
các quy hoạch xây dựng NTM đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân
cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự
án của Chương trình xây dựng NTM; phát huy vai trò làm chủ của người
dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ
chức thực hiện và giám sát, đánh giá.
- Xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp
ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy
hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện. Mặt trận Tổ quốc và các tổ
chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ
thể trong xây dựng NTM.

2.4. Nội dung chương trình xây dựng nông thôn mới.
2.4.1. Hoàn thành việc rà soát, điều chỉnh, lập quy hoạch xây dựng nông
thôn mới.
- Phấn đấu hết năm 2012 hoàn thành việc lập, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch
xây dựng NTM cho 100% số xã, làm cơ sở cho việc tổ chức thực hiện. Các
quy hoạch cấp xã phải phù hợp với quy hoạch cấp huyện và quy hoạch toàn
thành phố. Việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch được thực hiện theo
quy định hiện hành, theo hướng dẫn của các Bộ, ngành. Phân cấp của
UBND Thành phố:


Quy hoạch của xã so xã làm chủ đầu tư lập; các ngành chức năng thỏa
thuận, thẩm định; chủ tịch UBND huyện, thị xã ra quyết định phê duyệt.
Kinh phí xây dựng, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch ở các xã so Ngân
sách Nhà nước đầu tư.

sắm trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập. Tập trung đầu tư cải tạo, nâng
cấp 498 nhà trẻ mầm non, 243 trường tiểu học và 295 trường THCS để đảm
bảo đạt chuẩn. Phấn đấu đến năm 2015 có 100% số trường, lớp học được
kiên cố hóa để phục vụ tốt công tác dạy và học; có 55% số trường đạt chuẩn
quốc gia ( trong đó: Nhà trẻ mầm non 30%, Tiểu học: 74%, Trung học cơ
sở: 57%)
- Cơ sỏ vật chất văn hóa
Xây dựng hoàn thiện hệ thống cơ sỏ vật chất văn hóa bằng nhiều
nguồn vốn khác nhau, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu văn hóa, thể thao ngày
càng tăng của nhân dân. Phấn đấu mỗi xã có 1 nhà văn hóa, 1 khu thể thao;
trong đó 60% nhà văn hóa xã, 60% khu thể thao xã và 60% số nhà văn hóa
thôn đạt chuẩn.
- Chợ nông thôn


Rà soát phê duyệt mạng lưới chợ nông thôn làm cơ sở đầu tư cho việc
xây dựng, nâng cấp cải tạo đạt chuẩn quy định của Bộ công thương.
Trước mắt tập trung vào xây dựng 69 chợ (100%) và đầu tư cải tạo,
nâng cấp 75 chợ đã có để phục vụ tốt nhu cầu giao lưu, trao đổi hàng hóa,
vật tư, sản phẩm của cư dân nông thôn. Phấn đấu đến năm 2015 có 75%
(42,8%) chợ nông thon đạt chuẩn.
- Bưu điện ( thông tin truyền thông)
Tăng cường đầu tư hoàn thiện mạng lưới bưu chín viễn thông để đáp
ứng nhu cầu thông tin liên lạc của nhân dân. Phấn đấu đạt 100% số xã có
Internet vào năm 2011 và có 80% số thôn có Internet vào năm 2013.
- Nhà ở dân cư
Ưu tiên đầu tư xóa 2.974 (100%) nhà ở đã xuống cấp nghiêm trọng
vào năm 2011 bằng nguồn vốn hỗ trợ một phần từ ngân sách, của chủ hộ và
huy động hỗ trợ của cộng đồng toàn xã hội. Tuyên truyền, vận động hướng
dẫn các hộ thực hiện chỉnh trang, cải tạo 76.077 (48.1%) ngôi nhà, trong đó

-

Quan tâm phát triển hệ thống chọ, các ngành nghề dịch vụ như: Vân tải, xây
dựng, chế biến nông sản, cung ứng hàng hóa ... đảm bảo phục vụ tốt sản xuất
nâng cao thu nhập cải thiện đời sống nhân dân.

-

Tiếp tục quan tâm hỗ trợ các hộ nghèo bằng nhiều hình thức, phù hợp với
từng đối tượng như: Thiếu sức lao động, thiếu vốn sản xuất lao động, thiếu
tư liệu, công cụ sản xuất, trình độ kỹ thuật hạn chế ... để giúp các hộ vươn
lên thoát nghèo bền vững.

-

Củng cố nâng cao hoạt động của các HTX nông nghiệp hiện có, phát triển đa
dạng các loại HTX mới trong sản xuất kinh doanh như: HTX ngành nghề,
HTX sản xuất rau an toàn, HTX chăn nuôi gia súc, thủy sản, HTX tín dụng...


Tổ chức. Hướng dẫn hộ nông dân hợp tác, liên doanh, liên kết với các tổ
chức kinh tế, khoa học để được hỗ trợ về vốn, tư vấn về kĩ thuật, chế biến và
tiêu thụ nông sản nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
2.4.4. Văn hóa, xã hội môi trường.
- Giáo dục
Phấn đấu hoàn thành phổ cập bậc THPT vào năm 2015, tỷ lệ học sinh
tốt nghiệp THCS được tiếp tục vào học THPT và tương đương đạt 95%. Tỷ
lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt 60%.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ để chuẩn hóa đội ngũ giáo viên; cải tạo, nâng cấp và

sạch. Tiếp tục đầu tư xây dựng chương trình cấp nước tập trung ở 81 xã có
khó khăn về nguồn nước, nâng cấp cải tạo 12 trạm cấp nước tập trung đã
xuống cấp , thực hiện việc đấu nối, nối mạng nước sinh hoạt đối với các xã
vùng ven đô, ven đường trục cấp nước đô thị và hỗ trợ 92.000 hộ cải tạo lại
hệ thống bể lọc cấp nước sinh hoạt đối với những vùng nguồn nước bị ô
nhiễm.
Xử lý chất thải: Phấn đấu đến năm 2015 có 100% số xã thành lập tổ
thu gom rác và 60% rác thải sinh hoạt được xử lý theo quy trình hợp vệ sinh
có kiểm soát; 60% số chuồng trại chăn nuôi tập trung được xử lý chất thải;


30% số làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng được xử lý chất thải, hỗ trợ
25.800 (60%) hộ cải tạo nhà tiêu đảm bảo hợp vệ sinh.
Hướng dẫn, quản lý các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn các xã
– không gây ô nhiễm môi trường, tăng cường các hoạt động bảo vệ môi
trường xanh, sạch, đẹp. Thương xuyên tuyên truyền vận động người dân tích
cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, trồng nhiều cây xanh bóng
mát tạo môi trường sinh thái.
Hỗ trợ quy hoạch 340 (40%) nghĩa trang đạt chuẩn. Phấn đấu 100%
nghĩa trang có Ban quản trang và quy chế quản lý nghĩa trang.
2.4.5. Củng cố, nâng cao chất lượng và vai trò của các tổ chức trong hệ
thống chính trị ở cơ sở xã nông thôn mới.
- Đào tạo cán bộ
Tiếp tục quan tâm việc đào tạo và bồi dưỡng nâng chất lượng đội ngũ
cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, phấn đấu 100% cán bộ xã đạt tiêu chuẩn
vào năm 2015. Rà soát bổ sung chức năng, nhiệm vụ các tổ chức Đảng,
Chính quyền, Đoàn thể phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bổ sung quy chế hoạt động
của các tổ chức, gắn việc đánh giá, phân loại cán bộ và công tác thi đua khen
thưởng với kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao để nâng cao trách nhiệm

Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và
Đồng bằng sông Cửu Long phù hợp với đặc điểm, điều


kiện kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi vùng.
Đối với Trung du miền núi phía bắc bộ 19 tiêu chí để xây dựng mô
hình nông thôn mới bao gồm: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, giao
thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu
điện, nhà ở dân cư, thu nhập bình quân đầu người/năm, tỷ lệ hộ nghèo, cơ
cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa, môi
trường, hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và an ninh, trật tự xã
hội.
Để được công nhận là xã nông thôn mới theo Quyết định số 491/QĐTTg của Thủ tướng Chính phủ thì các xã thuộc các tỉnh Trung du miền núi
phía bắc phải đạt được các chỉ tiêu cơ bản sau:

STT

Tên tiêu chí

Nội dung tiêu chí

Chỉ tiêu
phải đạt

I. QUY HOẠCH & PHÁT TRIỂN
1

Quy hoạch và1.1 Quy hoạch và sử dụng đất và hạ tầng thiết Đạt
phát triển theoyếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hành
quy hoạch

3

Thủy lợi

xuất và dân sinh.
3.2. Tỷ lệ Km kênh mương do xã quản lý được
kiên cố hóa.
4.1. Hệ thống điện đảm bảo an toàn của ngành

4

Điện

điện.
4.2. Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an
toàn từ các nguồn điện.
Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo,

5

Trường học

6

quốc gia.
Cơ sở vật chất6.1. Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn
văn hóa

50%
Đạt

Đạt
Đạt
Đạt
Không
75%

III. KINH TẾ VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT

10
11
12
13

Thu nhập

Thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức

1,2 lần
bình quân chung của tỉnh.
Hộ nghèo
Tỷ lệ hộ.
10%
Cơ cấu laoTỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong các
45%
động
lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp.
Hình thức tổCó tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có

chức sản xuất hiệu quả.


17.1. Tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch
hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia.
17.2. Các cơ sở sản xuất – kinh doanh đạt tiêu
chuẩn về môi trường.
17.3. Không có các hoạt động gây suy giảm
17

Môi trường

70%
Đạt

môi trường và có các hoạt động phát triển môiĐạt
trường xanh, sạch đẹp.
17.4. Nghĩa trang được xây dựng theo quy
hoạch.
17.5. Chất thải, nước thải được thu gom và xử
lý theo quy định.

Đạt
Đạt

V. HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

18

19

18.1. Cán bộ xã đạt chuẩn.
Đạt

quốc tế, các tổ chức xã hội trong nước để xoá đói giảm nghèo, cải thiện môi trường
thiên nhiên và môi trường xã hội ở nông thôn. Các chủ trương của Đảng, chính
sách của Nhà nước ta đã và đang đưa nền kinh tế nông nghiệp nước ta từ nền kinh
tế kế hoạch hoá - tập trung - quan liêu - bao cấp sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở những nét chính sau:
- Bước đầu thực hiện quy luật sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông
thôn nước ta. Người nông dân đã có quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh, cơ
sở vật chất kỹ thuật(máy móc, điện, đường, trường, trạm, hệ thống thuỷ nông…) đã
có bước phát triển đáng kể. Lương thực tăng bình quân hàng năm 5% bảo đảm
được an ninh lương thực quốc gia, có dự trữ, liên tục xuất khẩu với khối lượng lớn.
Kinh tế nông thôn có sự chuyển dịch đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp và phát


triển ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn. Trình độ sản xuất nông nghiệp có
nhiều tiến bộ, nhiều loại sản phẩm đã được sản xuất hàng hoá tập trung. Trình độ
thâm canh được nâng cao, chất lượng nông sản được cải thiện đáng kể.
- Tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản tăng liên tục ở mức cao, kể cả
trong điều kiện không thuận lợi của ngoại cảnh (thời tiết, thị trường...). Kim ngạch
xuất khẩu nông sản có xu hướng tăng đều qua các năm, bình quân chiếm tới 25 30% tổng kim ngạch xuất khẩu.
- Cơ cấu kinh tế nông thôn có chuyển biến tích cực. Các ngành sản xuất phi
nông nghiệp ở nông thôn đã được mở rộng tuy chưa nhiều, trong đó có một số
ngành nghề mới. Kết cấu hạ tầng nông thôn ở nhiều vùng đã được cải thiện.
Tỷ lệ hộ đói nghèo ở nông thôn giảm mạnh (từ 30% năm 1992 xuống 7%
năm 2004, theo tiêu chí cũ). Đời sống của người dân đã được cải thiện, bộ mặt
nông thôn không ít nơi đã có dáng dấp hiện đại.
- Văn hoá, giáo dục, y tế có sự phát triển mới. Dân chủ hoá nông thôn,
chương trình an sinh xã hội, phát triển giới đang được tích cực thực hiện.
Những thành tựu đạt được trong phát triển nông nghiệp, nông thôn thời kỳ
đổi mới là rất to lớn. Tuy nhiên, nông nghiệp và nông thôn nước ta vẫn tiềm ẩn
những thách thức và bộc lộ những hạn chế không nhỏ. Nước ta vẫn là một nước

yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với
thiên tai còn nhiều hạn chế. Khoảng cách về thu nhập giữa khu vực nông thôn
và thành thị ngày càng có xu hướng tăng dần. Nghèo đói và nhiều vấn đề xã
hội khác vẫn đang được coi là những vấn đề bức xúc ở khu vực nông thôn
Việt Nam. )
Để góp phần khắc phục một cách cơ bản tình trạng trên, đưa Nghị quyết của
Đảng về nông thôn đi vào cuộc sống, một trong những việc cần làm trong giai


đoạn này là xây dựng mô hình nông thôn mới đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và hội nhập nền kinh tế thế giới. Đây là chính sách về mô hình phát
triển cả nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều
lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối
quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối
mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí. Từ thực tiễn đó,
Đảng và nhà nước đã ban hành các chương trình, chính sách sau:
BCH TW Đảng lần thứ 7 đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW (2008) về nông
nghiệp, nông dân, nông thôn trong đó xác định mục tiêu tổng quát trong thời gian
tới là “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn,
hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó
khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên
tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới.
Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản
xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao,
đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài. Xây dựng
nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các
hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công
nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn
hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống
chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Ðảng được tăng cường. Xây dựng giai

thôn mới bao gồm: Thanh Chăn (Điện Biên), Tân Thịnh (Bắc Giang), Hải Đường
(Nam Định), Thụy Hương (Hà Nội), Gia Phố (Hà Tĩnh), Tam Phước (Quảng
Nam), Tân Lập (Bình Phước), Tân Hội (Lâm Đồng), Tân Thông Hội (TP. Hồ Chí


Minh), Mỹ Long Nam (Trà Vinh), Định Hòa (Kiên Giang). Ban chỉ đạo chương
trình đã được thành lập và phối hợp với bộ ngành có liên quan và UBND các tỉnh
để triển khai các hoạt động xây dựng nông thôn mới. Ngày 4/6/2010 Thủ tướng
Chính phủ đã ký quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt chương trình mục tiêu quốc
gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 với mục tiêu là đến năm 2015
có 20% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới và đến năm 2020 có 50% số xã đạt
được tiêu chuẩn này. Chính vì vậy xây dựng nông thôn mới đã và đang trở thành
phong trào được triển khai thực hiện ở tất cả các vùng nông thôn trong cả nước.

2. Kinh nghiệm của một số quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
Nông nghiệp, nông thôn, nông dân đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp
phát triển của hầu hết các nước trên thế giới. Theo Ngân hàng thế giới (2002) thì
đa số người nghèo trên thế giới hiện đang sống trong các vùng nông thôn. Chính
vì vậy phát triển nông thôn qua đó giảm tỷ lệ nghèo đói là mục tiêu thiên niên kỷ
(Millennium Development Goals) của nhiều quốc gia trên thế giới. Nhiều chính
sách phát triển nông thôn đã được các quốc gia trên áp dụng với các mức độ thành
công khác nhau.
Theo báo cáo của Ủy ban Châu Âu (EU commission, 2003) thì các nước trong
Liên minh Châu Âu (European Union) đã áp dụng nhiều chính sách và công cụ
chính sách để tăng cường sự phát triển nông thôn và phát triển vùng của các nước
thành viên, đúc rút những bài học kinh nghiệm từ sáng kiến của các nước châu Âu
và từ kinh nghiệm của các nước thành viên. Với hơn 60% dân số trong 27 nước
thành viên của EU sống trong khu vực nông thôn và phát triển nông thôn là lĩnh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status