LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn tốt
nghiệp này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một công
trình nghiên cứu hay một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đều đã
được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 23 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Đỗ Thị Châm
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học,
ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt
tình về nhiều mặt của các cá nhân và tổ chức trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu
trường Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, khoa Kinh tế và PTNT, bộ môn KTTN&
Môi trường và các thầy cô giáo đã tạo điều kiện cho tôi học tâp, nghiên cứu và
hoàn thành khóa luận này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Th.s Hồ Ngọc Cường,
người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu và hoàn thành khóa luận.
Tôi xin cám ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ UBND xã Yên Cường,
huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, các cán bộ và bà con trong xã đã tạo điều kiện thuận
lợi để tôi hoàn thành khóa luận này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình, người
thân và toàn thể bạn bè đã cổ vũ, khích lệ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập và nghiên cứu của mình.
Nông thôn mới
Tiêu chí đánh giá NTM, tiêu chí đường giao thông NTM
Nguồn lực và các nguồn lực
Huy động nguồn lực
Tác động của huy động các nguồn lực trong xây dựng đường GTNT
Những yếu tố ảnh hưởng đến huy động các nguồn lực trong xây dựng
đường GTNT
Như chúng ta đã biết, lý luận luôn cần thực tiễn để chứng minh và làm vấn
đề trở nên sâu sắc hơn. Vì vậy, tôi đưa ra cơ sở thực tiễn sau:
-
Kinh nghiệm của một số nước về huy động các nguồn lực trong xây dựng đường
giao thông NTM trên thế giới (Hàn Quốc, Trung Quốc,…)
Kinh nghiệm của một số nước về huy động các nguồn lực trong xây dựng đường
giao thông NTM tại một số địa phương nước ta (Thái Bình Bình Đinh,…)
Trong quá trình nghiên cứu tôi chọn các phương pháp nghiên cứu là: phương
pháp chọn địa điểm nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp xử lý,
phân tích số liệu. Đồng thời, nêu ra các hệ thống chỉ tiêu để đánh giá. Tôi tiến hành
điều tra 60 hộ nông dân và 6 cán bộ xã Yên Cường.
Qua quá trình nghiên cứu huy động các nguồn lực trong xây dựng đường
giao thông NTM tại xã Yên Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Đinh có một số vấn đề
nổi bật sau:
-
Trọng tâm của huy động các nguồn lực trong xây dựng đường GTNT là phát huy
sức mạnh tổng hợp của cả cộng đồng: tổ chức xã hội, doanh nghiệp, HTX, người dân,
-
Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở
Đẩy mạnh phân cấp quản lý trong huy động nguồn lực cho xây dựng
đường GTNT
- Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền
- Đa dạng hóa các hình thức huy động nguồn lực
- Nâng cao trình độ nhận thức và tạo thêm việc làm nâng cao thu nhập cho
người dân
- Tạo công bằng trong đóng góp và minh bạch trong sử dụng nguồn lực
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCĐ
:
Ban chỉ đạo
BNNPTNT
:
Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn
BGTVT
:
Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa
DN
:
Doanh nghiệp
DT
:
Diện tích
ĐVT
:
Đơn vị tính
GTNT
:
Giao thông nông thôn
GT
:
Quản lý xây dựng
VLXD
:
Vật liệu xây dựng
XD
:
Xây dựng
UBND
:
Ủy ban nhân dân
PHẦN I
MỞ ĐẦU
I.1.
Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta đã đạt
nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực Kinh tế - chính trị - văn hoá xã hội an ninh quốc phòng. Trong những năm qua, quá trình CNH – HĐH và đô thị hóa
diễn ra mạnh mẽ đã góp phần thay đổi đời sống người dân, nâng cao dân trí, diện
mạo của đất nước có nhiều đột phá. Mặc dù vậy, Đảng và nhà nước ta vẫn luôn xác
GTNT, tính đến nay, có 95,3% số km đường liên xã, liên huyện được kiên cố hóa
bằng bê tông xi măng và kết cấu nhựa, 94,8% số km đường giao thông thôn xóm
được kiên cố hóa bằng bê tông xi măng và kết cấu nhựa, 93,1% số km đường giao
thông nội đồng được tu sửa và kiên cố hóa bằng bê tông xi măng. Để đạt được
những kết quả trên, ngoài nguồn tài trợ của nhà nước, UBND xã Yên Cường còn
đưa ra các giải pháp huy động nguồn lực của cộng đồng chung tay vào xây dựng
GTNT trong Chương trình xây dựng NTM. Cụ thể, xã đã nhận được 1,5 tỷ đồng,
>3000 m2 đất, 189 công trình là tường rào, công trình phụ, cây cối được người dân
tự giác tháo dỡ để giải phóng mặt bằng. Tuy nhiên, để hoàn thiện 100% số km
đường giao thông trong toàn huyện cần một nguồn lực vô cùng lớn, đòi hỏi trong
thời gian tới chính quyền UBND xã Yên Cường có nhiều giải pháp thích hợp để
thu hút nguồn lực cộng đồng vào xây dựng đường GTNT.
Xuất phát từ những vấn đề trên tôi lựa chọn đề tài :“Giải pháp huy động
nguồn lực cho việc thực hiện tiêu chí đường giao thông trong chương trình xây
dựng nông thôn mới tại xã Yên Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định” làm đề tài
tốt nghiệp của mình.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới huy động
I.2.
nguồn lực cho xây dựng đường GTNT trong chương trình NTM trên địa bàn xã
Yên Cường, huyện Ý Yên,tỉnh Nam Định trong thời gian qua, đề xuất những giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho xây dựng đường GTNT
trong chương trình NTM tại xã Yên Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
1.3.2
Phạm vi nghiên cứu
a. Phạm vi nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện
giải pháp huy động nguồn lực cho việc thực hiện tiêu chí đường giao thông trong
chương trình xây dựng NTM tại xã Yên Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
b. Phạm vi không gian
Đề tài nghiên cứu trên địa bàn xã Yên Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
c. Phạm vi thời gian
Đề tài tiến hành điều tra nghiên cứu thực trạng vấn đề huy động nguồn lực
cho việc thực hiện tiêu chí đường GTNT trong chương trình xây dựng nông thôn
mới tại xã Yên Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định trong 3 năm từ năm 2012 đến
năm 2014, từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp cho những năm tiếp theo.
Số liệu sơ cấp được thu thập qua các hộ dân, các cơ quan, đơn vị chức năng
liên quan ở xã Yên Cường trong các năm từ 2012 - 2014.
Các số liệu sơ cấp được thực hiện điều tra phỏng vấn trong thời gian nghiên
cứu từ tháng 1/2015 đến tháng 6/2015.
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Chương trình NTM, tiêu chí đường GTNT trong Chương trình Xây
dựng NTM
2.1.1.1 Chương trình NTM
Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5-8-2008 của Ban Chấp hành
Trung ương khóa X, “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, Bộ Chính trị, Ban Bí
người Việt Nam. Nhìn chung: chương trình NTM được xây dựng theo hướng công
nghiệp hóa - hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa. Quá trình xây
dựng chương trình NTM được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát
triển (đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường), đạt hiệu quả cao
nhất trên tất cả các mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội), tiến bộ hơn so với
mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả
nước.
Có thể quan niệm: “Chương trình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm,
cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới
đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với
mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt”( Theo Phan
Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh, 2001).
2.1.1.2 Tiêu chí để xây dựng NTM , tiêu chí đánh giá đường GTNT trong xây
dựng NTM
a. Tiêu chí để xây dựng NTM
Tiêu chí để xây dựng mô hìnhNTM, đã được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết
định số 491/QĐ-TTg (16/4/2009), ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM bao gồm
19 tiêu chí và được chia thành 5 nhóm cụ thể:
Các nhóm tiêu chí
-
Tiêu chí về quy hoạch.
Về hạ tầng kinh tế - xã hội.
Về kinh tế và tổ chức sản xuất.
Về văn hóa - xã hội - môi trường.
Về hệ thống chính trị.
19 tiêu chí để xây dựng mô hình nông thôn mới: Quy hoạch và thực hiện
Đường trục chính nội đồng
là đường chính nối từ khu dân cư đến khu sản xuất tập trung của thôn, xã.
Quy mô đường giao thông nông thôn:
-
Quy hoạch theo quy định của Bộ giao thông vận tải: việc quay hoạch và thiết kế
giao thông nông thôn căn cứ vào Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 4054:2005 và
-
quyết định bổ sung số 315/QB-BGTVT ngày 23/02/2011.
Về xây dựng giao thông: các xã phải căn cứ vào khả năng nguồn lực thực tế để xác
định công trình ưu tiên, lộ trình thực hiện cho phù hợp. Nếu nguồn lực có hạn thì
tập trung cắm mốc nền đường theo quy hoạch, xây dựng mặt đường nhỏ hơn, khi
-
có điều kiện sẽ tiếp tục mở rộng quy hoạch.
Đối với đường đang sử dụng: nơi nào mặt đường hẹp, không thể mở rộng theo quy
định thì có thể cải tạo, tận dụng tối đa diện tích hai bên để mở rộng mặt đường,
đồng thời nâng cấp tạo điểm tránh xe thuận lợi dọc tuyến (đồng thời quy hoạch các
bãi đỗ xe để các hộ có xe ô tô có thể gửi xe thuận lợi). Nếu mặt đường đảm bảo
80% theo quy định và đảm bảo các điều kiện trên thì coi là đạt tiêu chí tuyến đó.
2.1.2 Một số khái niệm về nguồn lực, huy động nguồn lực
2.1.2.1 Một số khái niệm về nguồn lực
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của loài người nguồn lực có vai
trò đặc biệt quan trọng, chính vì vậy mà quan niệm về nguồn lực đã xuất hiện từ rất
rất quan trọng. Quá trình sử dụng tiền vốn trong đầu tư nói chung là qúa trình
chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiện vật (máy móc, thiết bị, đất đai…) hoặc
vốn dưới dạng hình thức tài sản vô hình (lao động chuyên môn cao, công nghệ và
bí quyết công nghệ, quyền sở hữu công nghiệp…) để tạo ra hoặc duy trì, tăng
cường năng lực của các cơ sở vật chất – kỹ thuật hay những yếu tố, những điều
kiện cơ bản của hoạt động kinh tế.
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ, có thể phân chia nguồn lực thành hai loại:
-
Nguồn lực trong nước: Nguồn lực trong nước (còn gọi là nội lực) bao gồm các nguồn
lực tự nhiên, lao động, đất đai, tài nguyên, vật tư, tài chính, khoa học công nghệ, nhân
văn, hệ thống tài sản quốc gia, đường lối chính sách đang được khai thác.Nguồn lực
trong nước đóng vai trò quan trọng, có tính chất quyết định trong việc phát triển
-
kinh tế của mỗi quốc gia.
Nguồn lực nước ngoài: Nguồn lực nước ngoài (còn gọi là ngoại lực) bao gồm khoa
học - kỹ thuật và công nghệ, nguồn vốn, kinh nghiệm về tổ chức và quản lý sản
xuất và kinh doanh... từ nước ngoài. Nguồn lực nước ngoài có vai trò quan trọng,
thậm chí đặc biệt quan trọng đối với nhiều quốc gia đang phát triển ở những giai
đoạn lịch sử cụ thể.
Nguồn lực kinh tế - xã hội, nhất là dân cư và nguồn lao động, nguồn vốn,
khoa học - kỹ thuật và công nghệ, chính sách toàn cầu hoá, khu vực hoá và hợp tác,
có vai trò quan trọng để lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện cụ
thể của đất nước trong từng giai đoạn.
Hiểu biết và đánh giá đúng cũng như biết huy động tối đa các nguồn lực sẽ
thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia. Các nước đang phát triển
Huy động nguồn lực trong xây dựng đường GTNT trong NTM
2.1.3.1 Vai trò của huy động nguồn lực trong xây dựng đường GTNT trong
NTM
Huy động nguồn lực để xây dựng đường GTNT góp phần đẩy nhanh tiến độ
xây dựng nông thôn mới.
Huy động các nguồn lực xã hội trong xây dựng đường GTNT nhằm phát huy
sự tham gia đầy đủ của người dân, cộng đồng, tổ chức vào tất cả các giai đoạn của
sự phát triển đường giao thông nông thôn, huy động sức mạnh tổng hợp các nguồn
lực hiện có của xã hội cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần xây dựng
chương trình NTM, thay đổi bộ mặt nông thôn.
Giao thông nông thôn là con đường để địa phương mở rộng sản xuất, giao
lưu văn hóa với các địa phương, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế- xã hội.
Huy động nguồn lực xây dựng đường GTNT gián tiếp góp phần thay đổi kinh tế xã hội của nông thôn.
Mọi hoạt động, chương trình về xây dựng đường giao thông NTM muốn đạt
được kết quả cao, bền vững và lâu dài thì cần phải huy động được nguồn lực, sự
tham gia đóng góp của cả cộng đồng. Bởi khi người dân tham gia đóng góp, bàn
bạc, giám sát thì họ mới thấy được lợi ích mà họ nhận được, vai trò và trách nhiệm
của họ trong công cuộc đổi mới quê hương, từ đó sẽ nêu cao tình thần trách nhiệm
trong việc sử dụng, gìn giữ và duy tu các công trình đường GTNT.
Huy động nguồn lực xã hội xây dựng đường giao thông nông thôn thể hiện
được sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, chính quyền địa phương, cho thấy được
sự đoàn kết của người dân trong và ngoài địa phương, phát huy được nội lực của
địa phương đó, tạo được sức mạnh tổng hợp để xây dựng nông thôn mới nói riêng
và phát triển kinh tế xã hội nói chung.
2.1.3.2 Nội dung huy động nguồn lực cho xây dựngđường GTNT trong NTM
Để thực hiện được huy động các nguồn lực phục vụ nhu cầu xây dựng NTM
NTM. Muốn huy động đầy đủ và kịp thời nguồn lực cần có một kế hoạch triển khai
khoa học, tỉ mỉ và thiết thực.
Thứ ba, tổ chức huy động nguồn lực
Việc huy động nguồn lực cần phối kết hợp giữa các hoạt động: Tuyên
truyền, vận động, huy động và ghi nhận sự đóng góp.
Cùng với việc tuyên truyền để người dân và các tổ chức thấy được ý nghĩa
và tầm quan trọng của việc xây dựng đường giao thông NTM thì cần tiến hành huy
động các nguồn lực.
- Huy động nguồn lực từngân sách nhà nước bao gồm: ngân sách trung
ương, ngân sách của huyện, thị xã chủ động cân đối bố trí hàng năm, ngân sách xã
bố trí vốn từ nguồn thu được hưởng theo phân cấp, nguồn vốn lồng ghép từ các dự
án, các chương trình mục tiêu quốc gia, các khoản thu ngân sách nhà nước từ đất
đai,...
- Huy động nguồn lực đóng góp tự nguyện từ phía người dân: nguồn lực này
rất đa dạng, nó bao gồm: đất đai, tiền mặt, ngày công, kinh nghiệm, các vật tư,...
- Huy động nguồn lực đóng góp từ các tổ chức kinh tế xã hội khác (HTX,
Doanh nghiệp, Hội cựu chiến binh, hội nông dân,...), nguồn lực này có thể là tiền
mặt, nguyên vật liệu, các loại tài sản, giấy tờ có giá được các tổ chức đầu tư ủng hộ
để xây dựng các công trình phúc lợi xã hội hoặc đầu tư cho các dự án phát triển
kinh tế nông thôn.
Quá trình tuyên truyền vận động còn đi kèm với việc ghi nhận những đóng
góp của người dân, cá nhân và các tổ chức trong quá trình xây dựng đường
GTNTNTM. Việc ghi nhận sự đóng góp này không những thể hiện sự tôn trọng,
công khai, minh bạch mà còn thể hiện sự khích lệ tinh thần đoàn kết, chung tay
góp sức xây dựng quê hương của cá nhân, gia đình và cộng đồng.
Thứ tư, giám sát quá trình huy động và công khai kết quả huy động
Sau khi tuyên truyền vận động người dân, các đơn vị và các cá nhân đóng
góp cho quá trình xây dựng đường GTNT ban chỉ đạo thực hiện chương trình tăng
góp bằng hoặc cao hơn mức huy động của cán bộ địa phương và họ sẵn sàng đóng
góp khi cán bộ địa phương kêu gọi. Đối với, hộ trung bình, hộ nghèo với nguồn tài
chính hạn chế nên họ thường không ủng hộ những khoản đóng góp để xây dựng
các công trình công cộng. Thay vào đó, họ có thể tham gia đóng góp bằng ngày
công lao động.
Bên cạnh đó chương trình xây dựng NTM được xây dựng trên địa bàn nông
thôn là chính, mà người dân ở đây thường là những người nông dân, thu nhập
chính của họ là từ sản xuất nông nghiệp,có một số ít thu nhập từ nghề phụ, kinh
doanh, tiểu thủ công nghiệp. Thu nhập của người nông dân thường không ổn định
nên sự đóng góp cho xây dựng làm đường GTNT thường hạn chế.
Kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn cũng
rất quan trọng. Nếu doanh nghiệp làm ăn đạt được lợi nhuận cao, nếu địa phương
biết cách huy động thì đây là cũng là một nguồn vốn quan trọng, không chỉ là tiền
mà còn bằng hiện vật, trí tuệ. Vì đây là công trình đem lại lợi ích cho nhân là bên
hưởng lợi.
Vì vậy, xây dựng đường GTNT trong xây dựng NTM không chỉ dựa trên nội
lực của địa phương mà còn phải phát huy sức mạnh ngoại lực để hoàn thành.
Thứ ba: Trình độ chuyên môn, năng lực quản lý của cán bộ cơ sở
Năng lực và uy tín của cán bộ cơ sở làm công tác huy động nguồn lực cho
xây dựng đường GTNT có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động. Nếu đội ngũ
cán bộ có trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và uy tín tốt thì tiến độ thực hiện
sẽ dễ dàng, chất lượng các công trình cao. Ngược lại, nếu đội ngũ cán bộ có trình
độ chuyên môn thấp, thiếu năng lực quản lý và uy tín thì sẽ làm chậm tiến độ công
việc và chất lượng của công trình sẽ không cao. Chính vì vậy nghiên cứu huy động
nguồn lực xã hội xây dựng đườnggiao thông nông thôn cần nghiên cứu đến trình
độ, năng lực của cán bộ địa phương.
2.2
2.2.3
làm nức lòng nông dân cả nước. Phong trào làng mới (Seamaul Undong- SU) ra
đời với 3 tiêu chí: cần cù( chăm chỉ), tự lực vượt khó và hợp tác (hiệp lực cộng
đồng). Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả,
Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động SU và được nông dân hưởng ứng
mạnh mẽ. Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong
làng, xã được mở rộng, nâng cấp, các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư
xây dựng.
Chỉ sau 8 năm, bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ
diệu, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn đặc biệt là đường giao thông
nông thôn cơ bản được hoàn thành. Trong 8 năm từ 1971 - 1978, Hàn Quốc đã
cứng hóa được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng
nâng cấp được 1322m đường, cứng hóa đường ngõ xóm 42.220 km, trung bình
mỗi làng là 1.280m, xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều
sông suối), kiên có hóa 7.839km đê, kè, xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có
điện thắp sáng. Đặc biệt vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên
việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận,
ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào.
Trong vòng 10 năm triển khai SU từ năm 1971 đến năm 1980, tổng kinh phí
cho các dự án là 3.425 tỷ won (tương đương với 3 tỷ USD). Trong số đó đóng góp
của người dân là 1691,95 tỷ won (tương đương khoảng 1482 tỷ USD) chiếm
49,4%; hỗ trợ của chính phủ chỉ 27,8%; phần còn lại là các khoản nông dân vay
của các tổ chức tín dụng. Nếu tính cả phần vốn vay, sự đóng góp của người dân là
72,2%.
Trong suốt quá trình xây dựng SU chính phủ Hàn Quốc chỉ hỗ trợ người dân
về mặt tài chính còn trực tiếp giao cho người đứng đầu làng tự bàn bạc với người
dân để sử dụng vào việc gì ưu tiên cần làm trước rồi người dân tự đóng góp tài
chính, ngày công, hiến đất làm đường. Chính phủ chia làm 3 mức hoàn thành là
làng cơ sở, làng tự lực, làng tự lập và sẽ tiếp tục đầu tư cho những làng làm tốt.