Thực trạng và giải pháp nhằm xây dựng nông thôn mới tại xã Tam Hợp – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011 – 2015. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN QUANG LINH Tên đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ TAM HỢP, HUYỆN BÌNH XUYÊN
TỈNH VĨNH PHÚC, GIAI ĐOẠN 2011 - 2015
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Lớp : K42 - PTNT
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Đặng Thị Bích Huệ



Nguyễn Quang Linh
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ANTQ An ninh tổ quốc
BCĐ Ban chỉ đạo
GTVT Giao thông vận tải
GDP Tổng thu nhập quốc dân
HĐND Hội đồng nhân dân
HTX Hợp tác xã
HTX DV NN Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
HTX NN Hợp tác xã nông nghiệp
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NTM Nông thôn mới
SX – KD Sản xuất – kinh doanh
THPT Trung học phổ thông
THCS Trung học cơ sở
UBND Ủy ban nhân dân
VH – TT – DL Văn hóa – thể thao – du lịch

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Tam Hợp năm 2013 28

Bảng 4.2: Thực trạng phát triển kinh tế xã Tam Hợp năm 2013 30

Bảng 4.3: Tình hình dân số, lao động của xã Tam Hợp năm 2013 32

Bảng 4.4: Hiện trạng quy hoạch của xã Tam Hợp Năm 2013 34

Bảng 4.15: Tác động của chương trình xây dựng NTM đến chất lượng cuộc
sống người dân. 52

MỤC LỤC Phần 1:

MỞ ĐẦU 1

1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1. Mục tiêu chung 2

1.2.2. Mục tiêu cụ thể 2

1.3. Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3

1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn 3

Phần 2:

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1. Cơ sở khoa học 4


3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu 23

3.3.2. Phương pháp phân tích số liệu 24

3.3.3. Phân tích xử lý số liệu 25

3.3.4. Phương pháp điều tra cụ thể 25
6
Phần 4:

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Tam Hợp 26

4.1.1. Điều kiện tự nhiên 26

4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 30

4.2. Thực trạng xây dựng NTM trên địa bàn xã Tam Hợp 33

4.2.1. Về quy hoạch và hiện trạng quy hoạch 33

4.2.2. Về hạ tầng kinh tế - xã hội 34

4.2.3. Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất 42

4.2.4. Giáo dục - y tế - văn hóa 44

5.2.3. Đối với người dân 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 1
Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nông thôn là lĩnh vực rất quan trọng và cấp thiết trong chiến
lược kinh tế, xã hội và hiện đại hóa đất nước. Trong những năm gần đây cùng
với sự phát triển chung của đất nước, nông thôn đã có sự phát triển và đổi mới
đáng kể. Đây là những vẫn đề đang được Đảng và Nhà nước rất quan tâm cả
về tổng kết lý luận, thực tiễn và đầu tư cho phát triển. Để phát triển nông thôn
theo đúng hướng, có cơ sở khoa học, đảm bảo phát triển bền vững thì phải
tiến hành quy hoạch phát triển nông thôn, đây là một vấn đề hết sức quan
trọng. Nhưng trước khi tiến hành quy hoạch thì trước mắt ta phải tiến hành
nghiên cứu, đánh giá nông thôn để tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội
và những thách thức ở vùng nghiên cứu để từ đó mới đưa ra được những định
hướng cho sự phát triển. Sự phát triển của nông thôn sẽ tạo điều kiện cho đất
nước bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ổn định về kinh tế,
chính trị, xã hội.
Vì vậy để phát triển các vùng nông thôn một cách toàn diện và bền vững,
nhà nước ta đã đưa ra chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 –
2020 trong phạm vi cả nước về tất cả các mặt với mục đích thay đổi bộ mặt

thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn 2011 – 2015
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa một số kiến thức, lý luận và thực tiễn về chương trình
phát triển nông thôn.
- Phân tích tình hình hoạt động của việc xây dựng mô hình nông thôn
mới tại xã.
- Phân tích các kết quả đã đạt được và những vẫn đề còn tồn tại trong
việc xây dựng mô hình nông thôn mới tại xã. 3
- Đánh giá thực trạng địa bàn xã Tam Hợp theo bộ tiêu chí quốc gia về
nông thôn mới.
- Đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện thành công chương trình
xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tam Hợp, huyện Bình Xuyên,
tỉnh Vĩnh Phúc.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Đây là cơ hội tốt cho sinh viên thực hành khảo sát thực tế, áp dụng
những kiến thức lý thuyết vào thực tiễn, và có cơ hội gặp gỡ, học tập, trao đổi
kiến thức với những người có kinh nghiệm và người dân địa phương. Đồng
thời đề tài cũng là cơ sở cho việc hình thành các ý tưởng cho các dự án, đề tài
nghiên cứu khoa học.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề tài góp phần vào tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng và đưa ra
các giải pháp cho vùng nông thôn trên địa bàn xã.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở giúp cho xã Tam Hợp có những
định hướng phát triển phù hợp với điều kiện của địa phương.
sở vật chất và kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa cũng kém hơn đô thị.
Về xã hội, trình độ học vấn, điều kiện cho giáo dục, y tế, đời sống vật
chất, tinh thần của dân cư nông thôn thấp hơn dân cư thành thị. Tuy nhiên
những di sản văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền ở nông thôn lại thường
phong phú hơn thành thị. 5
Quan điểm khác lại nêu ra chỉ cần dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị
trường phát triển hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường. Nhưng có ý kiến
khác lại cho rằng, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp chủ
yếu, tức nguồn sinh kế chính của dân cư trong vùng đều từ sản xuất nông
nghiệp. Những quan điểm này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng
nước. Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối theo thời gian,
theo tiến trình phát triển kinh tế xã hội.
Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi
theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên
thế giới. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản
lý, có thể hiểu: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có
nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn
hoá, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh
hưởng của các tổ chức khác”[2].
Như vậy khi nói về nông thôn người ta nghĩ ngay đến các hoạt động
nông nghiệp và những hoạt động, tổ chức liên quan đến nông nghiệp.
* Khái niệm phát triển nông thôn
Khái niệm phát triển nông thôn mang tính toàn diện và đa phương, bao
gồm phát triển các hoạt động về nông nghiệp và các hoạt động có tính chất
liên kết phục vụ nông nghiệp, công nghiệp quy mô vừa và nhỏ, các ngành nghề
truyền thống, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, nguồn nhân lực nông thôn, xây dựng,
tăng cường các dịch vụ và phương tiện phục vụ cộng đồng nông thôn.

2.1.2.1. Đặc trưng của vùng nông thôn
Nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng dân cư bao
gồm chủ yếu là nông dân, là vùng chủ yếu sản xuất nông nghiệp. Các hoạt
động sản xuất và dịch vụ phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp, cho cộng đồng
nông thôn. Mật độ dân cư vùng nông thôn thấp hơn đô thị.
Nông thôn có cơ cấu hạ tầng, có trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản
xuất hàng hóa thấp hơn so với thành thị. Nông thôn chịu sức hút của thành thị về
nhiều mặt, dân nông thôn thường tìm cách di chuyển vào thành thị. 7
Nông thôn là vùng có trình độ văn hóa, khoa học và kỹ thuật thấp hơn
thành thị, và trong chừng mực nào đó mức độ dân chủ, tự do và công bằng xã
hội cũng thấp hơn đô thị. Thu nhập, đời sống vật chất và tinh thần của vùng
nông thôn thấp hơn thành thị.
Nông thôn trải trên địa bàn khá rộng, chịu tác động nhiều bởi điều kiện
tự nhiên. Đa dạng về quy mô, trình độ phát triển và về các hình thức tổ chức
sản xuất và quản lý. Tính đa dạng đó diễn ra không chỉ giữa nông thôn các
nước khác nhau mà ngay cả giữa các vùng nông thôn trong cả nước[1].
2.1.2.2. Những vấn đề tồn tại ở nông thôn Việt Nam hiện nay
Bức tranh nông thôn và người nông dân Việt Nam hiện nay sẽ ra sao khi
nước ta hội nhập sâu rộng hơn và khi nước ta trở thành nước cơ bản công
nghiệp hóa? Đây là vấn đề mà nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, nhà văn hóa
đang tập trung nghiên cứu. Đảng ta đã tổ chức hội nghị trung ương 7
(6/2008), bàn về vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam (tam
nông), Tại cuộc hội thảo "Công nghiệp hóa nông thôn và phát triển nông thôn
Việt Nam - Đài Loan", do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Viện Nghiên
cứu trung ương Đài Loan tổ chức ngày 17/12/2007, và cuộc hội thảo “Nông
dân Việt Nam trong quá trình hội nhập” do Viện chính sách và chiến lược phát
triển nông nghiệp nông thôn tổ chức ngày 18/12/2007, các chuyên gia đã liệt kê ra

công trình hạ tầng cơ sở nông thôn khác cũng còn thiếu và xuống cấp
nhiều[9].
- Vấn đề thứ ba là: Tình trạng tỷ lệ gia tăng dân số ở vùng nông thôn còn
khá cao, gây sức ép tới việc làm, thu nhập và đời sống của người dân. Năng
lực quản lý xã hội còn nhiều vấn đề, môi trường bị ô nhiễm và suy thoái đang
ở mức báo động…
- Vấn đề thứ tư là: Người nông dân thiếu việc làm do bị mất đất do xu
thế tích tụ ruộng đất ngay tại nông thôn và quá trình đô thị hóa và phát triển
các khu công nghiệp hiện nay (20 năm qua 300.000 ha đất nông nghiệp bị mất
đi do quá trình này). Điều này đã làm cho vấn đề thiếu việc làm tại nông thôn 9
và xu hướng di dân ra thành phố để mưu sinh là không thể tránh khỏi. Đây là
xu thế của một xã hội phát triển là giảm tương đối cơ cấu của nông nghiệp
trong nền kinh tế, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ[9].
- Vấn đề thứ năm là: Thiếu hụt nhất ở khu vực nông thôn là tri thức và
thông tin khoa học công nghệ hiện đại không được chuyển giao một cách có
hệ thống. Người nông dân thiếu kiến thức, nên khó chuyển giao được khoa
học công nghệ để họ thực sự làm chủ. Điều này tiếp tục đặt họ vào thế bất lợi
hơn nữa[9].
2.1.3. Mô hình nông thôn mới
Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát
triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều
lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối
quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối
mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí.
Sự hình dung chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới
là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu
KHKT hiện đại mà vẫn giữ được nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người

- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất
nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ.
- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo tiêu
chuẩn mới.
- Quy hoạch phát triển khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư
hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp.
2.1.4.2. Nhóm tiêu chí về hạ tầng kinh tế - xã hội
* Giao thông
- Tỷ lệ km đường trục liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa 100%, đủ
điều kiện cho các phương tiện giao thông đi lại, đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật
của Bộ GTVT.
- Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa 50% đạt theo tiêu chuẩn
kỹ thuật của Bộ GTVT. 11
- Tỷ lệ km đường ngõ xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa đạt 100%
(50% cứng hóa).
- Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa 50%, xe cơ giới đi
lại được thuận tiện.
* Thủy lợi
- Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng được theo yêu cầu của sản xuất và
dân sinh. Đảm bảo tưới tiêu cho tất cả các khu vực nội đồng.
- Tỷ lệ km kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa đạt trên 50%.
* Điện
- Hệ thống điện phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện
- Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn điện đạt 95%.
* Trường học
Tỷ lệ trường học các cấp: Mầm non, tiểu học và THCS có cơ sở vật chất
đạt chuẩn quốc gia đạt 70%.

- Đạt phổ cập giáo dục trung học.
- Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học THPT, Bổ túc, học
nghề đạt trên 70%.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo hơn 20%.
* Y tế
- Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt 20%.
- Y tế xã phải đạt chuẩn quốc gia.
* Văn hóa
- Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hóa theo quy
chuẩn của Bộ VH - TT - DL.
* Môi trường
- Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn quốc gia đạt 70%.
- Các cơ sở SX - KD đạt tiêu chuẩn về môi trường.
- Có từ 90% số hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn
quốc gia. 13
- Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạt động
phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp.
- Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch.
- Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định.
2.1.4.5. Nhóm tiêu chí về hệ thống chính trị an ninh trật tự xã hội
* Hệ thống chính trị xã hội vững mạnh
- Cán bộ trong toàn xã đạt chuẩn.
- Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định.
- Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”.
- Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên.
* An ninh, trật tự xã hội
- An ninh trật tự được giữ vững, ổn định, các sự việc xảy ra trên địa bàn

cho người dân nông thôn được coi là nền tảng để bắt đầu cho quá trình phát
triển nông thôn. Chính phủ đã liên tục điều chỉnh chính sách hỗ trợ phát triển
để phù hợp với tình hình thực tiễn.
Bốn mục tiêu trụ cột của chương trình “Nông thôn mới” ở Hàn Quốc là:
- Tăng thu nhập cho nông dân
- Cải thiện môi trường sống cho người dân nông thôn
- Nâng cấp kết cấu hạ tầng nông thôn
- Khuyến khích phát triển đời sống tinh thần và quan hệ xã hội ở nông thôn
Các phương pháp thực hiện:
- Kích thích sự tham gia của người dân bằng những lợi ích thiết thực
- Phát triển cộng đồng xã hội
- Phân cấp phân quyền quản lý và thực hiện dự án
- Tăng cường năng lực của lãnh đạo địa phương
- Phát huy dân chủ, sức sáng tạo của nhân dân
Chính phủ Hàn Quốc đã vực dậy nông thôn bắt đầu bằng việc cải thiện
dân sinh và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Thay đổi lớn nhất là việc thay
đổi vật liệu làm nhà từ rơm rạ sang các vật liệu công nghiệp (xi măng, tôn…). 15
Các nguồn năng lượng phục vụ cho sinh hoạt của cư dân nông thôn được thay
thế theo hướng hiện đại, thay bếp và gần 100% dân nông thôn được dùng
điện. Các giống lúa mới có năng suất cao được đưa vào sản xuất, mang lại
hiệu quả kinh tế cao.
Một tác động to lớn nhất là làm tăng thu nhập của người dân nông thôn.
Năm 1970, thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn mới chỉ đạt
824 USD/người/năm. Nhưng đến năm 1976, thu nhập của người dân đã tăng
lên 3000 USD/người/năm. Đó là một sự chuyển biến rất nhanh chóng và rõ
nét nhất.
Đến đầu những năm 1980, bộ mặt của nông thôn Hàn Quốc đã thay đổi

được phân loại theo 4 tiêu chí:
- Có thể xuất khẩu với giá trị thương hiệu
- Sản xuất liên tục và nhất quán
- Tiêu chuẩn hóa
Đặc biệt, mỗi sản phẩm đều có một câu chuyện riêng. Các tiêu chí trên
đã tạo thêm lợi thế cho du lịch Thái Lan vì du khách luôn muốn được tận mắt
chứng kiến quá trình sản xuất sản phẩm, từ đó có thể hiểu biết thêm về tập
quán, lối sống của người dân địa phương. Kết quả nông thôn Thái Lan đã có
những bước chuyển biến rõ rệt, các sản phẩm của Thái Lan có được chỗ đứng
nhất định trên thị trường thế giới[8].
2.2.2. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
2.2.2.1. Khái quát về mô hình nông thôn mới ở nước ta
Xuất phát từ những khó khăn thực tế của người dân nông thôn Việt Nam,
cùng với việc học tập, tiếp thu những kinh nghiệm quý báu từ các nước phát
triển, nước ta cũng tiến hành chương trình xây dựng nông thôn mới, phù hợp
với những điều kiện cụ thể của từng địa phương.
Chương trình xây dựng NTM ở nước ta hiện nay đã đặt ra mục tiêu phấn
đấu đến năm 2015 cả nước có trên 20% số xã đạt chuẩn NTM và năm 2020 có
trên 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới [5]. 17
Hoạt động xây dựng mô hình NTM ở Việt Nam được thực hiện dựa trên
6 nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Các nội dung, hoạt động của chương trình xây dựng NTM phải hướng
tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới,
ban hành tại quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng
Chính phủ (gọi tắt là Bộ tiêu chí quốc gia NTM).
- Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính,
Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính

Từ đó, chúng ta có thể rút ra nhiều kinh nghiệm thiếu xót từ lý thuyết đến
thực tiễn. Tiếp đó, chúng ta thí điểm các xã trên phạm vi tỉnh, vừa thực hiện
vừa điều chỉnh những sai xót, để đạt được mục đích cuối cùng.
2.2.2.2. Tình hình xây dựng và phát triển mô hình nông thôn mới cấp xã hiện nay
Ngày 13/1/2012 tại Hà Nội, ban chỉ đạo trung ương chương trình xây thí
điểm mô hình nông thôn mới, đã tổ chức hội nghị tổng kết và đưa ra những
kiến nghị cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trong
thời gian tới. Dự thảo báo cáo của ban chỉ đạo trung ương chương trình thí
điểm xây dựng nông thôn mới chỉ rõ: Kết quả đạt được ở 11 xã điểm tuy có
khác nhau, nhưng đến nay đã hình thành mô hình nông thôn mới theo bộ tiêu
chí quốc gia nông thôn mới và những yêu cầu đề ra của nghị quyết hội nghị
lần thứ 7 của ban chấp hành trung ương đảng khóa X. Đáng chú ý là so với năm
2008, thu nhập của người dân ở các xã điểm năm 2011 đã tăng bình quân hơn 62%,
cơ sở hạ tầng các xã được cải tạo, nâng cấp khá đồng bộ đã làm thay đổi rõ nét
diện mạo nông thôn tác động trực tiếp đến việc cải thiện chất lượng cuộc sống của
người dân, thúc đẩy hoạt động văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội từng bước
được hoàn thiện, bản sắc văn hóa được gìn giữ, trình độ dân trí và chất lượng hệ
thống cơ sở được nâng cao [6].
Sau 2 năm thực hiện thí điểm mô hình xây dựng nông thôn, 11 xã điểm
đã có những chuyển biến rõ nét, nhất là về thu nhập của người dân. Tuy 19
nhiên, một số kết quả về sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, văn hóa, xã hội,
môi trường còn chưa thực sự vững chắc.
Riêng về 2 nội dung là quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng, vấn đề đặt
ra với 11 xã điểm, nhất là giai đoạn đầu thực hiện thí điểm vẫn còn chậm và
lúng túng, do các địa phương còn có tâm lý trông chờ ỷ lại, lúng túng trong
triển khai thực hiện. Trong đó có cả nguyên nhân khách quan do chương trình
xây dựng nông thôn mới là chương trình mới đối với cấp ủy chính quyền các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status