1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nông thôn là lĩnh vực quan trọng và cấp thiết trong chiến
lược phát triển kinh tế, xã hội và hiện đại hóa đất nước. Trong những năm gần
đây cùng với sự phát triển chung của đất nước nông thôn đã có sự đổi mới và
phát triển đáng kể. Đây là vấn đề đang được Đảng và Nhà nước rất quan tâm
cả về tổng kết lý luận, thực tiễn và đầu tư cho phát triển. Để phát triển nông
thôn đúng hướng, có cơ sở khoa học, hợp logic và đảm bảo phát triển bền
vững thì phải tiến hành quy hoạch phát triển nông thôn, đây là công việc hết
sức quan trọng. Nhưng để tiến hành được việc quy hoạch thì trước tiên ta phải
tiến hành nghiên cứu, đánh giá nông thôn để tìm ra những điểm mạnh, điểm
yếu, cơ hội và thách thức ở vùng nghiên cứu từ đó mới đưa ra được những
định hướng cho sự phát triển. Sự phát triển của nông thôn sẽ tạo điều kiện cho
đất nước bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ổn định về kinh
tế, chính trị, xã hội.
Phát triển nông thôn cần có một chiến lược phát triển bền vững.
Về chiến lược, cần tập trung vào cải thiện nông thôn về cơ sở hạ tầng, các
dịch vụ công cộng, dịch vụ xã hội để nâng cao điều kiện sống cho người dân
nông thôn. Đầu tư tạo điều kiện để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, tạo công
ăn việc làm cho các lao động nông thôn, bởi họ là tầng lớp nhạy cảm nhất với
các tác động tiêu cực làm ngăn cản sự phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, nông nghiệp nước ta về cơ bản vẫn lạc hậu, nông dân còn
nghèo, nông thôn chậm tiến bộ. Tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp có xu
hướng giảm. Dù chiếm tới 20% GDP trong nền kinh tế, tạo việc làm cho hơn
50% lao động, là thu nhập của trên 70% dân số nhưng chúng ta vẫn áp dụng
lối sản xuất manh mún, nhỏ lẻ [11]. Có một thực tế là khi nông nghiệp tăng
trưởng chậm thì sự cải thiện của đời sống nhân dân cũng sẽ chậm, nông thôn
dù có nhiều tiến bộ nhưng nhìn chung còn rất nhiều biểu hiện của sự phát
triển tự phát, có những xu hướng phát triển không thuận lợi. Nếu không chấn
Sơn - tỉnh Tuyên Quang. Từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp với điều
kiện của địa phương để xây dựng mô hình nông thôn mới cấp xã trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2011 - 2015.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa một số kiến thức, lý luận và thực tiễn về chương trình
phát triển nông thôn
2
2
3
- Đánh giá thực trạng địa bàn xã Nhữ Khê theo bộ tiêu chí quốc gia về
nông thôn mới
- Đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện thành công chương trình xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Nhữ Khê, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên
Quang.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Đây là cơ hội tốt cho sinh viên thực hành khảo sát thực tế, áp dụng
những kiến thức lý thuyết vào thực tiễn, và có cơ hội gặp gỡ, học tập, trao đổi
kiến thức với những người có kinh nghiệm và người dân địa phương. Đồng
thời đề tài cũng là cơ sở cho việc hình thành các ý tưởng cho các dự án, đề tài
nghiên cứu khoa học.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề tài góp phần vào tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng và đưa ra
các giải pháp cho vùng nông thôn trên địa bàn xã.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở giúp cho xã Nhữ Khê có những
định hướng phát triển phù hợp với điều kiện của địa phương.
3
3
4
Phần 2
nghiệp. Những quan điểm này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng
4
4
5
nước. Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối theo thời gian,
theo tiến trình phát triển kinh tế xã hội.
Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tích chất tương đối, thay đổi
theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên
thế giới. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản
lý, có thể hiểu: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó
có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế,
văn hoá, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu
ảnh hưởng của các tổ chức khác”[2].
Như vậy khi nói về nông thôn người ta nghĩ ngay đến các hoạt động
nông nghiệp và những hoạt động, tổ chức liên quan đến nông nghiệp.
- Khái niệm về phát triển nông thôn:
Khái niệm phát triển nông thôn mang tính toàn diện và đa phương, bao
gồm phát triển các hoạt động về nông nghiệp và các hoạt động có tính chất
liên kết phục vụ nông nghiệp, công nghiệp quy mô vừa và nhỏ, các ngành nghề
truyền thống, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, nguồn nhân lực nông thôn, xây dựng,
tăng cường các dịch vụ và phương tiện phục vụ cộng đồng nông thôn.
Phát triển vùng nông thôn phải đảm bảo sự bền vững về môi trường,
ngày nay vấn đề phát triển nông thôn bền vững được đặt ra nhằm tạo ra sự
phát triển lâu dài, ổn định không những cho các vùng nông thôn mà còn đối
với cả quốc gia. Có thể hiểu phát triển nông thôn bền vững một cách ngắn
gọn là sự phát triển tập trung vào người dân (tiếp cận từ dưới lên), đồng thời
phải phát triển đa ngành và giải quyết thích đáng mối liên hệ đa ngành (tiếp
cận tổng hợp) và phát triển đảm bảo sự cân xứng với việc quản lý môi trường
(tiếp cận quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên).
Phát triển nông thôn là sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động
hội cũng thấp hơn đô thị. Thu nhập, đời sống vật chất và tinh thần của vùng
nông thôn thấp hơn thành thị.
Nông thôn trải trên địa bàn khá rộng, chịu tác động nhiều bởi điều kiện
tự nhiên. Đa dạng về quy mô, trình độ phát triển và về các hình thức tổ chức
sản xuất và quản lý. Tính đa dạng đó diễn ra không chỉ giữa nông thôn các
nước khác nhau mà ngay cả giữa các vùng nông thôn trong cả nước[1].
2.1.2.2. Những vấn đề tồn tại ở nông thôn Việt Nam hiện nay
Bức tranh nông thôn và người nông dân Việt Nam hiện nay sẽ ra sao
khi nước ta hội nhập sâu rộng hơn và khi nước ta trở thành nước cơ bản công
nghiệp hóa? Đây là vấn đề mà nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, nhà văn hóa
đang tập trung nghiên cứu. Đảng ta đã tổ chức hội nghị trung ương 7
6
6
7
(6/2008), bàn về vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam
(tam nông), Tại cuộc hội thảo "Công nghiệp hóa nông thôn và phát triển nông
thôn Việt Nam - Đài Loan", do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Viện
Nghiên cứu trung ương Đài Loan tổ chức ngày 17/12/2007, và cuộc hội thảo
“Nông dân Việt Nam trong quá trình hội nhập” do Viện chính sách và chiến lược
phát triển nông nghiệp nông thôn tổ chức ngày 18/12/2007, các chuyên gia đã liệt
kê ra những vấn đề xã hội bức xúc, nan giải trong 20 năm qua bao gồm:
- Vấn đề thứ nhất là: Đó là kinh tế nông thôn mang đậm tính thuần
nông. Ở nông thôn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, đây là hoạt động mang
tính đặc thù là phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên - một thách thức lớn
của sản xuất nông nghiệp. Trong khi nước ta đang hướng tới một nước công
nghiệp, thì yêu cầu tỷ trọng giá trị ngành nông nghiệp phải giảm trong GDP,
mục tiêu hướng tới năm 2020 là tỷ trọng giá trị nông nghiệp - công nghiệp -
dịch vụ trong GDP tương ứng là: 10% - 44 - 46%, mà hiện tại nông nghiệp
vẫn chiếm tỉ lệ khá cao, công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ lệ nhỏ [11].
- Vấn đề thứ hai là: Kết cấu hạ tầng ở nông thôn còn yếu kém, chưa đáp
và xu hướng di dân ra thành phố để mưu sinh là không thể tránh khỏi. Đây là
xu thế của một xã hội phát triển là giảm tương đối cơ cấu của nông nghiệp
trong nền kinh tế, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ [10].
- Vấn đề thứ năm là: Thiếu hụt nhất ở khu vực nông thôn là tri thức và
thông tin khoa học công nghệ hiện đại không được chuyển giao một cách có
hệ thống. Người nông dân thiếu kiến thức, nên khó chuyển giao được khoa
học công nghệ để họ thực sự làm chủ. Điều này tiếp tục đặt họ vào thế bất lợi
hơn nữa [10].
2.1.3. Mô hình nông thôn mới
Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát
triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều
lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối
quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối
mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí.
Sự hình dung chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới
là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu
KHKT hiện đại mà vẫn giữ được nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người
Việt Nam. Nhìn chung mô hình làng nông thôn mới theo hướng công nghiệp
hóa - hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa.
8
8
9
Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: Đáp ứng
yêu cầu phát triển, đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường;
đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội;
tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ
biến và vận dụng trên cả nước.
Có thể quan niệm: “Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm,
cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu
cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được
thuật của Bộ GTVT.
- Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa 50% đạt theo tiêu
chuẩn kỹ thuật của Bộ GTVT.
- Tỷ lệ km đường ngõ xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa đạt
100% (50% cứng hóa).
- Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa 50%, xe cơ giới
đi lại được thuận tiện.
* Thủy lợi
- Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng được theo yêu cầu của sản xuất và
dân sinh. Đảm bảo tưới tiêu cho tất cả các khu vực nội đồng.
- Tỷ lệ km kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa đạt trên 50%.
* Điện
- Hệ thống điện phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện
- Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn điện đạt 95%.
* Trường học
Tỷ lệ trường học các cấp: Mầm non, tiểu học và THCS có cơ sở vật
chất đạt chuẩn quốc gia đạt 70%.
* Cơ sở vật chất văn hóa
- Nhà văn hóa và các khu thể thao của xã phải đạt chuẩn theo Bộ VH -
TT - DL.
- Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể dục thể thao thôn đạt 100% theo
quy định của Bộ VH - TT - DL.
* Chợ nông thôn
Chợ có cơ sở vật chất đạt tiêu chuẩn (khu vực chợ sạch sẽ đảm bảo vệ
sinh, các nhóm hàng hóa được xếp theo từng khu vực quy định) có bộ phận
kiểm dịch, có ban quả lý chợ đảm bảo an ninh cho họp chợ. Chợ phải đạt
chuẩn của Bộ xây dựng.
10
10
11
- Có từ 90% số hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn
quốc gia.
11
11
12
- Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạt
động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp.
- Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch.
- Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định.
2.1.4.5. Nhóm tiêu chí về hệ thống chính trị an ninh trật tự xã hội
* Hệ thống chính trị xã hội vững mạnh
- Cán bộ trong toàn xã đạt chuẩn.
- Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định.
- Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”.
- Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên.
* An ninh, trật tự xã hội
- An ninh trật tự được giữ vững, ổn định, các sự việc xảy ra trên địa bàn
được giải quyết kịp thời. Phong trào quần chúng bảo vệ ANTQ hoạt động tốt,
phát huy hiệu quả [4].
2.1.5. Các căn cứ để xây dựng nông thôn mới
- Thông báo số 238/TB - TW ngày 07/04/2009 của ban chấp hành trung
ương về kết luận của ban bí thư về đề án chương trình xây dựng thí điểm mô
hình nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Quyết định số 491/QĐ - TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng chính
phủ về ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
- Thực hiện văn bản số 1416/BNN - KTHT ngày 27/05/2009 của Bộ
nông nghiệp và phát triển nông thôn về hướng dẫn lập đề án cho xã xây dựng
thí điểm mô hình nông thôn mới.
- Quyết định số 193/QĐ - TTg ngày 02/02/2010 của Thủ tướng chính
phủ phê duyệt chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới.
- Nâng cấp kết cấu hạ tầng nông thôn
- Khuyến khích phát triển đời sống tinh thần và quan hệ xã hội ở nông thôn
Các phương pháp thực hiện:
- Kích thích sự tham gia của người dân bằng những lợi ích thiết thực
- Phát triển cộng đồng xã hội
- Phân cấp phân quyền quản lý và thực hiện dự án
- Tăng cương năng lực của lãnh đạo địa phương
- Phát huy dân chủ, sức sáng tạo của nhân dân
Chính phủ Hàn Quốc đã vực dậy nông thôn bắt đầu bằng việc cải thiện
dân sinh và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Thay đổi lớn nhất là việc thay
13
13
14
đổi vật liệu làm nhà từ rơm rạ sang các vật liệu công nghiệp (xi măng, tôn…).
Các nguồn năng lượng phục vụ cho sinh hoạt của cư dân nông thôn được thay
thế theo hướng hiện đại, thay bếp và gần 100% dân nông thôn được dùng
điện. Các giống lúa mới có năng suất cao được đưa vào sản xuất, mang lại
hiệu quả kinh tế cao.
Một tác động to lớn nhất là làm tăng thu nhập của người dân nông thôn.
Năm 1970, thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn mới chỉ đạt
824 USD/người/năm. Nhưng đến năm 1976, thu nhập của người dân đã tăng
lên 3000 USD/người/năm. Đó là một sự chuyển biến rất nhanh chóng và rõ
nét nhất.
Đến đầu những năm 1980, bộ mặt của nông thôn Hàn Quốc đã thay đổi
toàn diện. Quá trình hiện đại hoá nông thôn đã được hoàn thành. Chính phủ
điều chỉnh chiến lược phát triển sang một giai đoạn mới.
2.2.1.2. Mô hình nông thôn mới ở Nhật Bản (One village, one product - OVOP)
Từ năm 1979, Tiến sĩ Morihiko Hiramatsu đã khởi xướng và phát triển
phong trào "Mỗi làng, một sản phẩm" (One Village, one Product - OVOP) với
mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với
chứng kiến quá trình sản xuất sản phẩm, từ đó có thể hiểu biết thêm về tập
quán, lối sống của người dân địa phương. Kết quả nông thôn Thái Lan đã có
những bước chuyển biến rõ rệt, các sản phẩm của Thái Lan có được chỗ đứng
nhất định trên thị trường thế giới [9].
2.2.2. Mô hình nông thôn mới ở Việt Nam
2.2.2.1. Khái quát về mô hình nông thôn mới ở nước ta
Xuất phát từ những khó khăn thực tế của người dân nông thôn Việt
Nam, cùng với việc học tập, tiếp thu những kinh nghiệm quý báu từ các nước
phát triển, nước ta cũng tiến hành chương trình xây dựng nông thôn mới, phù
hợp với những điều kiện cụ thể của từng địa phương.
Chương trình xây dựng NTM ở nước ta hiện nay đã đặt ra mục tiêu
phấn đấu đến năm 2015 cả nước có trên 20% số xã đạt chuẩn NTM và năm
2020 có trên 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới[5].
Hoạt động xây dựng mô hình NTM ở Việt Nam được thực hiện dựa
trên 6 nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Các nội dung, hoạt động của chương trình xây dựng NTM phải hướng
tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới,
15
15
16
ban hành tại quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng
Chính phủ (gọi tắt là Bộ tiêu chí quốc gia NTM).
- Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính,
Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính
sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện. Các hoạt động cụ
thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định
và tổ chức thực hiện.
- Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương
trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa
bàn nông thôn.
những kiến nghị cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
trong thời gian tới. Dự thảo báo cáo của ban chỉ đạo trung ương chương trình
thí điểm xây dựng nông thôn mới chỉ rõ: Kết quả đạt được ở 11 xã điểm tuy
có khác nhau, nhưng đến nay đã hình thành mô hình nông thôn mới theo bộ
tiêu chí quốc gia nông thôn mới và những yêu cầu đề ra của nghị quyết hội
nghị lần thứ 7 của ban chấp hành trung ương đảng khóa X. Đáng chú ý là so
với năm 2008, thu nhập của người dân ở các xã điểm năm 2011 đã tăng bình quân
hơn 62%, cơ sở hạ tầng các xã được cải tạo, nâng cấp khá đồng bộ đã làm thay đổi
rõ nét diện mạo nông thôn tác động trực tiếp đến việc cải thiện chất lượng cuộc
sống của người dân, thúc đẩy hoạt động văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội từng
bước được hoàn thiện, bản sắc văn hóa được gìn giữ, trình độ dân trí và chất
lượng hệ thống cơ sở được nâng cao[7].
Sau 2 năm thực hiện thí điểm mô hình xây dựng nông thôn, 11 xã điểm
đã có những chuyển biến rõ nét, nhất là về thu nhập của người dân. Tuy
nhiên, một số kết quả về sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, văn hóa, xã hội,
môi trường còn chưa thực sự vững chắc.
Riêng về 2 nội dung là quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng, vấn đề
đặt ra với 11 xã điểm, nhất là giai đoạn đầu thực hiện thí điểm vẫn còn chậm
và lúng túng, do các địa phương còn có tâm lý trông chờ ỷ lại, lúng túng trong
triển khai thực hiện. Trong đó có cả nguyên nhân khách quan do chương trình
xây dựng nông thôn mới là chương trình mới đối với cấp ủy chính quyền các
địa phương. Tuy nhiên, với nguồn ngân sách không lớn, nhưng hiệu quả đạt
được của chương trình vẫn rất khả quan.
Trong các báo cáo tham luận của 11 xã tiến hành thí điểm, thì có một số kinh
nghiệm đã được các địa phương và ban chỉ đạo trung ương nêu ra đó là:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền
- Coi trọng công tác xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt
17
17
18
xã, ban phát triển thôn. Các ngành chức năng bám vào các xã điểm hướng dẫn
18
18
19
công tác quy hoạch và định hướng phát triển theo nhiệm vụ chức năng của
ngành mình về quy hoạch và kế hoạch phát triển đến năm 2015.
Đến cuối tháng 8/2011, các xã điểm đã hoàn thành việc lập đề án, quy
hoạch được các huyện, thành phố phê duyệt. Từ kết quả của các xã điểm, đến
nay các huyện, thành phố đã tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm với ban chỉ đạo
quản lý các xã trên địa bàn. Ưu điểm trong tổ chức thực hiện đã tích cực tham
mưu, cụ thể hóa các văn bản quy định, chỉ đạo, hướng dẫn của trung ương
phù hợp với điều kiện của địa phương để các xã vận dụng triển khai thực hiện
chương trình. Công tác tuyên tuyền đã được triển khai trên toàn tỉnh, nhận
thức về xây dựng nông thôn mới của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp và
nhân dân bước đầu có chuyển biến tích cực.
Trong các xã điểm, Bình Xa được ban chỉ đạo tỉnh đánh giá cao, do
tiến hành các bước đồng bộ và sáng tạo cách làm nên đề án thông qua các
ngành góp ý và qua huyện một lần là được phê duyệt. Khi triển khai đề án,
các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra phù hợp với điều kiện của xã. Vì vậy khi thực
hiện các nội dung theo đề án xây dựng nông thôn mới, xã Bình Xa đã huy
động được sự tham gia tích cực của bà con các thôn, trong đó tập trung vào 4
việc của năm 2011 là làm đường bê tông, kiên cố hóa kênh mương, sản xuất
lương thực hàng hóa và mở rộng diện tích đậu tương, rau vụ đông, từng hộ
chỉnh trang khuôn viên nơi ở theo hướng dẫn của Ban phát triển thôn. Ngoài
nguồn vốn 415 triệu đồng từ chương trình xây dựng nông thôn mới năm
2011, Bình Xa có các nguồn vốn lồng ghép đầu tư gần 47 tỷ đồng, trong đó
có 15 tỷ đồng xây mương kiên cố, chống sạt lở bờ suối, 4 tỷ đồng đầu tư nâng
cấp tuyến đường từ thôn Đồng Lường đến thôn Đèo Ảng, còn lại thực hiện
Chương trình bê tông hóa theo chủ trương của tỉnh.
Tuy nhiên, so với kế hoạch, một số xã điểm thực hiện còn chậm, chưa
- Đánh giá tình hình cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của
xã Nhữ Khê
- Điều tra thực trạng nông thôn xã Nhữ Khê theo 19 tiêu chí về nông
thôn mới
- Đề ra các giải pháp chủ yếu để xây dựng mô hình nông thôn mới trên
địa bàn xã Nhữ Khê.
3.3. Các phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp thu thập thông tin
3.3.1.1. Thông tin thứ cấp
Sử dụng phương pháp phân tích tài liệu: Phân tích tài liệu thực chất là
cải biến những thông tin có sẵn trong tài liệu để rút ra những thông tin cần
thiết cho một vấn đề nhất định.
- Thu thập thông tin từ các công trình khoa học, các báo cáo tổng kết,
các bài viết có liên quan đến kinh tế hộ.
- Thu thập số liệu tại chính quyền địa phương, thống kê của UBND xã,
thu thập từ các báo cáo, tạp chí, tổng hợp từ nguồn internet…
3.3.3.2. Thông tin sơ cấp
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): Phương pháp này
được sử dụng để tìm hiểu tình hình thực tế các hộ trong xã như: Phong tục tập
21
21
22
quán, mức thu nhập, tập quán sản xuất, tiêu chí đánh giá và phân loại hộ,
những khó khăn mà người dân gặp phải
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân
(PRA): Đề tài sử dụng một số công cụ của phương pháp này để có thể tìm
hiểu được một cách chuẩn xác nhất những khó khăn của người dân do chính
người dân đưa ra, những khó khăn được định hướng giải quyết dựa trên nhu
cầu thực tế khách quan yêu cầu của người dân, chứ không phải áp đặt ý kiến
chủ quan của người thực hiện. Do đó mà cơ hội thành công rất lớn. Một số
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Nhữ Khê là một xã nằm ở phía Đông Nam của huyện Yên Sơn, tỉnh
Tuyên Quang. Xã cách trung tâm huyện khoảng 27 km về phía Nam, cách
đường quốc lộ 2 khoảng 7 km về phía Đông.
- Phía Đông giáp xã Đội Cấn, thành phố Tuyên Quang
- Phía Tây giáp xã Nhữ Hán, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
- Phía Bắc giáp xã Hoàng Khai, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
- Phía Nam giáp xã Đội Bình, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và xã
Hùng Quan, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
Với vị trí địa lý như vậy, xã Nhữ Khê cũng có nhiều thuận lợi để mở
rộng giao lưu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên,
vấn đề khó khăn nhất đối với xã Nhữ Khê hiện nay đó là vấn đề về giao thông
đi lại gặp rất nhiều khó khăn, cản trở hoạt động giao lưu buôn bán của xã.
4.1.1.2. Tài nguyên đất
Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản
xuất không thể thay thế được, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp. Hiện
trạng sử dụng đất của xã Nhữ Khê được thể hiện chi tiết qua bảng 4.1.
23
23
24
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Nhữ Khê năm 2011
STT
Loại đất
Diện tích
(ha)
Cơ cấu
(%)
TỔNG DIỆN TÍCH 3.732,09 100
1 Đất nông nghiệp 1.792,52 48,03
1.1 Đất trồng cây hàng năm 902,42 50,34
sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp. Diện tích đất sử dụng cho
chuyên dùng chỉ chiếm khoảng 2,43%, trong khi diện tích đất chưa sử dụng
của xã vẫn chiếm 1,03%.
Cơ cấu sử dụng đất của xã Nhữ Khê được thể hiện qua hình 4.1.
Hình 4.1: Cơ cấu sử dụng đất của xã Nhữ Khê năm 2011
4.1.1.3. Địa hình
Địa hình của xã Nhữ Khê tương đối phức tạp, Nhữ Khê có địa hình đồi
núi thấp và trung bình, địa thế nghiêng dần theo hướng Tây sang Đông. Địa
hình đồi núi phân bố chủ yếu ở phía Bắc, phía Nam và phía Tây của xã
(chiếm khoảng 40% diện tích tự nhiên) đã được sử dụng phát triển lâm
nghiệp. Địa hình đồng bằng phân bố chủ yếu ở phía Đông và rải rác trên địa
bàn xã (chiếm 60% diện tích tự nhiên) đã được sử dụng để trồng lúa và các
loại cây trồng hàng năm khác. Độ cao trung bình từ 40 m - 250 m so với mực
nước biển, chiếm khoảng 60% diện tích tự nhiên. Đời sống của người dân chủ
25
25