A. Đặt vấn đề:
Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị
xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã. Nông thôn Việt
Nam hiện nay có khoảng 70% nông dân sinh sống.
Nông thôn mới được hiểu là :
- Có kết cấu hạ tầng, kinh tế xã hội hiện đại.
- Cơ cấu kinh tế và các hình thưc sản xuất hợp lý gắn nông nghiệp với phát triển
nhanh công nghiệp, dịch vụ, đo thị theo quy hoạch.
- Xã hội – Nông thôn ổn định, giầu bản sắc văn hóa dân tộc.
- Dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ.
- Hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của đảng được tăng cường.
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng
đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang
trang, sạch đẹp, phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ)
có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo, thu nhập,
đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nângcao. Xây dựng nông thôn mới
là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Nông
thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng
hợp.
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm
chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn
minh. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cũng đã xác
định: "Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn
minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội phát triển ngày càng hiện đại".
Sau 5 năm thực hiện đổi mới nông thôn theo chương trình mục tiêu quốc gia,
tỉnh Thanh Hóa nói chung và xã Thọ Thế, huyện Triệu Sơn đã có những chuyển
biến tích cực, góp phần làm đà cho công cuộc xây dựng nông thôn mới thời kì tiếp
theo.
B. Nội dung:
Phần thứ nhất:
lào vì vậy những đặc trưng chủ yếu về khí hậu thời tiết là: Nhiệt độ cao đều quanh
năm( 25
0
C-39.8
0
C), tổng tích ôn lớn( hầu hết > 8600
0
C), lượng mưa biến động theo
mùa khá rõ rang( mùa mưa và mùa khô) và chịu ảnh hưởng nhiều của bão.
1 Nhiệt độ
- Tổng nhiệt độ trong năm là 8400
0
C- 8500
0
C
- Biên độ nhiệt độ trong năm là 12-13
0
C
- Biên độ ngày từ 5.5-6
0
C. Tháng 7 là tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất
(37
0
C-39
0
C). Nhiệt độ thấp tuyệt đối chưa dưới 2
0
C và nhiệt độ cao nhất
tuyệt đối chưa quá 40
0
275 ngày/năm
* Nhận xét đánh giá chung về tài nguyên khí hậu.
Điểm nổi bật chế độ thời tiết ở đây là tính biến động cao và phân hóa mạnh
liên quan đến vị trí địa lý và điều kiện địa hình của địa phương nên có tác động lớn
đến sản xuất và đời sống
Tác động lớn nhất là: mùa khô kéo dài và lượng mưa chỉ có 40% tổng lượng
mưa. Trong thời kỳ này, nhiệt độ cao, lượng bốc hơi lớn gây nên hạn hán nghiêm
trọng, ảnh hưởng lớn tới sản xuất, đặc biệt là vùng không có công trình thủy lợi.
Tiếp sau hạn hán là mưa lụt với cường độ cao, có năm đạt 400-500 mm/ngày. Mưa
lớn xảy ra trong mùa mưa gây lũ lớn, sức phá hoại cao.
4 Tài nguyên thiên nhiên
1 Tài nguyên đất đai
Tổng diện tích tự nhiên của xã là 574,78ha (tính đến thời điểm 1/10/2010);
Trong đó: Đất nông nghiệp là 364,31ha, chiếm 63,4% tổng diện tích đất tự nhiên
của xã; Đất phi nông nghiệp 168.05ha, chiếm 29.2%; Đất chưa sử dụng 42.42ha,
chiếm 7.4%
2 Tài nguyên khoáng sản
Hiện tại trên địa bàn xã chưa tìm thấy tài nguyên khoáng sản kim loại và phi
kim loại
3 Tài nguyên nước
Thọ Thế là một xã đồng bằng của huyện Triệu Sơn có nguồn nước mặt và
nước ngầm khá dồi dào, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và đời
sống.
- Nguồn nước mặt
Trên địa bàn xã có một hồ lớn( Hồ Đầm Sen) và các ao hồ nhỏ với diện tích
khoảng 9.79ha, có vai trò quan trọng trong điều tiết nước cho phát triển sản xuất
nông nghiệp và bảo vệ cảnh quan môi trường.
- Nguồn nước ngầm
Chưa có số liệu cụ thể về điều tra trữ lượng nguồn nước ngầm trên địa bàn
xã, nhưng nước ngầm được người dân khai thác chủ yếu qua các giếng khơi, giếng
học kỹ thuật, có đời sống kinh tế trung bình khá.
- Kết cấu hạ tầng tương đối đầy đủ, các hạng mục công trình: giao thông, thủy
lợi, điện, các cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa- thể thao, trung tâm hành chính
xã… đều đã có.
2 Những khó, hạn chế
- Điều kiện khí hậu, mưa bão hàng năm, hạn hán kéo dài gây ảnh hưởng nhiều
đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân địa phương.
- Đất canh tác nông nghiệp bình quân đầu người thấp, vốn đầu tư cho sản xuất
nông- lâm nghiệp hạn chế, nên sản phẩm nông, lâm nghiệp không cao.
- Cơ sở hạ tầng xây dựng lâu năm đã xuống cấp, một số loại công trình không
đáp ứng được nhu cầu hiện tại
- Về quản lý môi trường: Còn một số vấn đề chưa được quan tâm như chế độ
thug om và xử lý chất thải trong sản xuất và sinh hoạt chưa tổ chức tốt gây ô
nhiễm môi trường.
2. Điều kiện kinh tế-xã hội
7 Nguồn nhân lực
1 Dân số, lao động và việc làm
Theo số liệu thống kê tại thời điểm 01/10/2010, dân số xã Thọ Thế là 4367
người tương ứng với 1092 hộ gia đình. Trong đó, nam là 2112 người, chiếm
48,36%, nữ là 2255 người chiếm 51,64%. Mật độ dân số 804 người/km
2
, được chia
thành 12 thôn.
Số lao động trong độ tuổi có 1965 người, chiếm khoảng 45% dân số và đây là
nguồn lực rất quan trọng góp phần phát triển kinh tế-xã hội của xã, trong đó: lao
động nông, lâm nghiệp, thủy sản có 1474 lao động( chiếm 75% tổng số lao động
toàn xã), lao động phi nông nghiệp là 491 người( chiếm 25% tổng số lao động toàn
xã).
Năm 2010 số lao động đã qua đào tạo trên địa bàn xã có tỷ lệ khá cao đó là
570 lao động( trong đó trình độ trên ĐH, ĐH, CĐ là 177 người, Trung cấp là 118
đổi nhanh chóng, cơ sở hạ tầng được chỉnh trang, nâng cấp ngày càng hoàn thiện.
Bình quân thu nhập đầu người/năm đã tăng từ 5.8 triệu đồng năm 2006 lên 7.5
triệu đồng năm 2010. Hiện nay trong năm 2010, toàn xã có 353 hộ nghèo, chiếm tỷ
lệ 32.33% tổng số hộ toàn xã.
8 Thực trạng văn hóa xã hội
1 Giáo dục – Đào tạo
Trong những năm qua, nhận thức rõ tầm quan trọng của ngành giáo dục, chính
quyền địa phương đã đặc biệt chú trọng đến công tác giáo dục, xây dựng trường
lớp khang trang, trang thiết bị đò dùng giảng dạy từng bước được đáp ứng nhu cầu
dạy và học. Đội ngũ giáo viên và học sinh ngày càng được nâng cao về chất lượng
dạy và học. Năm 2010 xã Thọ Thế có 3 trường học, có 647 em học sinh, trong đó:
Trường Mầm non có 5 lớp gồm 195 cháu, trường Tiểu học có 9 lớp gồm 295 em
học sinh và trường THCS có 8 lớp gồm 257 em học sinh
2 Y tế
Với quan điểm chăm sóc tốt sức khỏe ban đầu cho nhân dân, ngành Y tế xã đã
chủ động tham mưu cho chính quyền địa phương thực hiện các chương trình chăm
sóc sức khỏe cho nhân dân thong qua việc thực hiện các chương trình tuần lễ nước
sạch, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm….
Trong năm 2010, ngành Y tế thực hiện tốt chương trình Y tế Quốc gia, khám
bệnh cho 4139 lượt người, điều trị cho 2453 lượt người, đảm bảo tốt việc cung ứng
thuốc thiết yếu cho nhân dân. Tổ chức tiêm phòng cho 100% các cháu trong độ
tuổi. Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được triển khai đều trên khắp địa bàn
xã. Giữ ổn định tỷ lệ phát triển dân số dưới 0.4%.
3 Văn hóa- Thể dục- Thể thao
Trong những năm qua, hoạt động Văn hóa- Thông tin- Thể dục- Thể thao của xã
có những chuyển biến tích cực. Công tác truyền thanh từ xã đến các thôn không
ngừng phát triển, tuyên truyền phát động xây dựng nếp sống văn minh trong việc
cưới, việc tang và lễ hội, nâng cao chất lượng nội dung tuyên truyền phục vụ cho
Đại hội các Đoàn thể chính trị- xã hội. Đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; các thôn tổ chức liên hoan văn nghệ, vui chơi
đất chophát triển hệ thống giao thông, thủy lợi, đất xây dựng các công trình công
cộng, nhà ở,…Vì vậy quỹ đất nông nghiệp và các loại đất khác sẽ bị giảm nhiều để
dành cho nhu cầu phát triển và mở rộng trong tương lai.
Tóm lại: Thực trạng phát triển kinh tế xã hội trong thời gian qua, đặc biệt
trong những năm sắp tới sẽ gây áp lực đối với đất đai ngày càng gay gắt, bởi lẽ quỹ
đất đã được khai thác triệt để, khả năng mở rộng diện tích đất nông nghiệp là hạn
chế, nhu cầu sử dụng đất công cộng và xây dựng cơ sở hạ tầng, đất ở ngày càng
tăng. Vì vậy, trong chiến lược phát triển Kinh tế- Xã hội trên địa bàn xã trong giai
đoạn tới cần phải xem xét một cách nghiêm túc việc khai thác sử dụng đất theo
hướng khoa học, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao. Tập trung chuyển đổi cơ cấu
cây trồng nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất trên một đơn vị diện tích.
II. Thực trang phát triển sản xuất nông nghiệp:
1. Giá trị sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1 Giá trị sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của xã Thọ Thế có vai trò hết sức quan
trọng trong việc giải quyết việc làm, ổn định đời sống dân cư, đồng thời đóng góp
lớn cho nền kinh tế chung của xã. Thời gian qua xã đã thực hiện các chủ trương
chính sách về sản xuất nông nghiệp của huyện, tỉnh và triển khai ứng dụng các tiến
bộ KH-KT vào sản xuất. Nền sản xuất nông nghiệp, thủy sản của xã phát triển ổn
định và khá toàn diện. Giá trị sản xuất ngày một tăng, năm 2006 đạt 14.83 tỷ đồng
tăng lên 15.1 tỷ đồng năm 2010, trong đó: Trồng trọt là 8.61 tỷ đồng, chăn nuôi
4.83 tỷ đồng và thủy sản đạt 1.66 tỷ đồng.
Bảng 2: Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản giai đoạn 2006-2010
(Giá hiện hành)
ĐVT: tỷ đồng
Hạng mục Năm
2006
Năm
2007
Năm
Tăng BQ(%/năm)
2006 – 2010
Tổng 9.79 10.02 10.2
0
10.60 11.80 4.78
1.Trồng trọt 6.36 6.41 6.32 6.36 6.73 1.4
2.Chăn nuôi 2.45 2.6 2.65 3.07 3.78 11.45
3.Thủy sản 0.98 1.0 1.22 1.17 1.3 7.31
Nguồn: Số liệu thống kê xã Thọ Thế
2 Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp
Trong những năm đổi mới, nông nghiệp xã Thọ Thế đã có bước tăng trưởng khá
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phù hợp. Cơ cấu trong nội
bộ ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: Giảm tỷ trọng
trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi. Sản xuất trồng trọt và chăn nuôi đang
từng bước chuyển dần từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa tập trung
gắn với chế biến, đồng thời nâng cao giá trị thu nhập trên dơn vị diện tích đất canh
tác.
Bảng 4: Cơ cấu GTSX nông lâm nghiệp, thủy sản giai đoạn 2006-2010
(Gía trị hiện hành)
Hạng mục
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
manh mún, chậm chạp.
2.3. Công tác dồn điền, đổi thửa:
Thực hiện chỉ thị của ban thường vụ tỉnh ủy Thanh Hóa và ban chấp hành
Đảng bộ huyện về “Cuộc vận động đổi điền, dồn thửa” tạo điều kiện cho nhân dân
phát triển sản xuất. Đảng ủy và chính quyền xã đã ra Nghị quyết chỉ đạo và xây
dựng phương án dồn điền đổi thửa nhằm giải quyết những hạn chế sự phát triển
nghành nông nghiệp, tạo ra những thuận lợi cho người dân khả năng đầu tư đúng
mức, chủ động trong khâu sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, từng
bước đưa ra những cây trồng có giá trị kinh tế cao vào sản xuất. Sau dồn điền đổi
thửa thì diện tích mỗi thửa được tăng lên bình quân đạt 1500m
2
/thửa trở lên, số
thửa trong mỗi hộ giảm.
Vì thế ngành nông nghiệp có bước chuyển biến tích cực về cơ cấu cây trồng
luân canh mùa vụ, hình thành những vùng chuyên sản xuất hàng hóa. Đồng thời
đang từng bước áp dụng các khoa học kĩ thuật vào sản xuất góp phần tăng năng
suất cây trồng, bình ổn sản lượng nông sản.
2.4. Chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng vật nuôi
Nhìn chung, trong sản xuất nông , lâm nghiệp và thủy sản , vấn đề chuyển
dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi ngày càng diễn ra mạnh mẽ,
mang tính khoa học và phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội, đất đai và khí hậu của
địa phương.
Sản xuất các nghành nông nghiệp, thủy sản đều có những bước phát triển
đáng khích lệ; trong đó: ngành trồng trọt đang chuyển dần sang hướng phát triển
bền vững, tăng mùa vụ, hệ số sử dụng đất nông nghiệp cao .
Thực hiện tốt công tác chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng , vật nuôi được
đưa vào sản xuất, từ đó tăng giá trị sản xuất; năng suất nhiều loại cây trồng ngày
một tăng qua các năm , thể hiện được ưu thế ngành trồng trọt, làm đa dạng hóa các
mặt hàng nông sản trên thị trường.
2.5 .Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong sản xuất nông nghiệp
2
. Trong đó có bao gồm các hạng mục:
+ Số phòng làm việc 18 phòng, tổng diện tích phòng là 30m
2
+ Hội trường xã diện tích là 135 m
2
Cơ sở vật chất hạ tầng: có 4 dãy nhà, trong đó: 2 dãy nhà cấp 4 được xây
dựng từ nững năm 1986 – 1988, 2 dãy nhà bằng được xây dựng năm 2003, đã phát
huy hiệu quả sử dụng, phục vụ thiết thực cho nhu cầu hoạt động của Đảng ủy,
HĐND, UBND và các tổ chức đoàn thể trong những năm qua.
Trong xã có 3 máy tính, nhưng chưa nối mạng internet, các dụng cụ làm việc
tuy đã đáp ứng một phần nào bề chế độ làm việc của các cán bộ viên chức nhưng
vẫn chưa đủ. Công sở và các công trình phụ trợ xã so với tiêu chí nông thôn mới là
chưa đạt.
1.2. Cơ sở vật chất văn hóa
- Khu thể thao của xã
Trên địa bàn có 1 khu thể thao của xã với diện tích là 6554 m
2
, cơ sở vật
chất đang còn thiếu thốn, chưa đảm bảo diện tích và cơ sở hạ tầng theo tiêu chí
nông thôn mới.
- Trung tâm văn hóa thôn
Xã Thọ Thế đã có hệ thống nhà văn hóa thôn. Mỗi thôn đều dành quỹ đất để
xây dựng nhà văn hóa nhưng với quy mô nhỏ.
Vị trí xây dựng đều gắn liền với điểm dân cư, thuận lợi cho việc sinh hoạt đi
lại của dân cư
Tổng số nhà văn hóa thôn: 12 nhà.
- Cơ sở văn hóa tín ngưỡng
Trên địa bàn xã không có đất tôn giáo tín ngưỡng.
* Bưu điện , Đài truyền thanh
+ Diện tích đất: 13886 m
2
+ Tổng diện tích xây dựng: 885 m
2
+ Cơ sở hạ tầng của trường gồm 3 dãy nhà 2 tầng, được xây dựng năm 2003, có 18
phòng trong đó có 9 phòng học, 4 phòng hiệu bộ và 5 phòng chức năng. Trang
thiết bị dạy học tuy đã đáp ứng một phần nào nhu cầu của giáo viên, học sinh
nhưng trang thiết bị vẫn còn sơ sài chưa đủ như máy tính, bàn ghế và đồ dùng
giảng dạy khác.
Nhận xét: Với vị trí thuận lợi, quy mô đất đai đảm bảo, quy mô xây dựng,
chất lượng công trình đáp ứng yêu cầu sử dụng và ổn định lâu dài. Tuy nhiên cần
được mở rộng chỉnh trang cải tạo, nâng cấp các hạng mục phụ trợ, khuôn viên cây
xanh, đường giao thông nội bộ để đảm bảo mĩ quan, đáp ứng yêu cầu nâng cao
chất lượng dạy và học.
- Trường trung học cơ sở
+ Vị trí xây dựng nằm ở thôn 6 của xã.
+ Diện tích đất đai : 5027 m
2
+ Tổng diện tích xây dựng: 950 m
2
+ Cơ sở hạ tầng của trường gồm 3 dãy nhà, trong đó : 2 dãy nhà tầng, có 14 phòng
( được xây dựng năm 2003); 1 dãy nhà cấp 4, có 5 phòng . Trường có tổng số 19
phòng, trong đó có 8 phòng học, 5 phòng hiệu bộ và 6 phòng chức năng. Trang
thiết bị dạy học tuy đã đáp ứng một phần nào nhu cầu của giáo viên, học sinh
nhưng trang thiết bị vẫn còn thiếu và lạc hậu chưa bắt nhịp với thời đại phát triển
của đất nước, như máy vi tính ,máy chiếu, bàn ghế và đồ dùng giảng dạy và các
thiết bị thí nghiệm thực hành khác.
Nhận xét: Với vị trí thuận lợi, quy mô đất đai đã đảm bảo, nhưng quy mô
xây dựng, chất lượng công trình chưa đáp ứng yêu cầu sử dụng và ổn định lâu dài.
Tuy nhiên cần được chỉnh trang cải tạo nâng cấp các hạng mục phụ trợ, nhà cấp 4,
liên hoàn với mạng giao thông liên thôn, liên xóm, liên gia. Kết nối hệ thống tiêu
thoát nước dân sinh. Nhà văn hóa quy hoạch tại trung tâm các khu dân cư theo quy
mô thôn ( làng văn hóa truyền thống). Vì vậy nhà ở khu dân cư nông thôn đạt so
với tiêu chí nông thôn mới.
* Chợ nông thôn
Trên địa bàn xã Thọ Thế hiện tại chưa có chợ, mới có những quầy hàng nhỏ
buôn bán hàng tạp hóa và các hàng thực phẩm ở ven các đường trục trính của xã.
2. Hệ thống hạ tầng kĩ thuật
2.1. Hệ thống giao thông
Hiện nay, hệ thống mạng lưới giao thông được bố trí hợp lý, có quốc lộ 47
chạy qua địa bàn với chiều dài là 5,2 km với các đường liên xã, liên thôn bắt nguồn
từ đường quốc lộ 47 đến các xã lân cận và các khu dân cư. Đó cũng là các trục giao
thông chính của xã nên việc đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân trong xã
dễ dàng, thuận lợi. Tổng số đường giao thông trong xã là 43,2 km, cứng hóa 49,28
km, còn lại là đường đất và đá cấp phối.
Bảng 5. Hiện trạng hệ thống giao thông xã Thọ Thế
ĐVT – Đường : km; Tỷ lệ %
TT Hạng mục Năm 2010
Tổng Bê tông,
nhựa
Cấp phối,
đất
Tỷ lệ cứng
hóa (%)
Tổng số 43,2 21,29 21,91 49,28
1 Đường quốc lộ 5,2 5,2 0 100
2 Đường liên xã 2,2 1,0 1,2 45,45
3 Đường liên thôn 2,7 0,8 1,9 29,63
4 Đường trục chính nội
thôn
Hệ thống dây dẫn có 5,5 km đườnng dây cao thế, 17,8 km đường dây hạ thế.
Cơ bản các tuyến dây điện của xã được xây dựng từ lâu, đến nay đang bắt đầu
xuống cấp, cần thay thế những đoạn dây cũ thường xuyên quá tải giảm sự hao tổn
điện năng. Hệ thống cột điện và đường dây đầu tư chưa được đồng bộ nên hiệu qur
sử dụng điện chưa cao, điện áp chưa được ổn định. Như vậy so với tiêu chí nông
thôn mới, hệ thống điện phục vụ sản xuất cơ bản chưa đạt.
* Hệ thống cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường
- Cấp nước sạch
Trên địa bàn xã Thọ Thế chưa có các công trình xử lý nước sạch, phục vụ cho sinh
hoạt và sản xuất của người dân.
- Xử lý chất thải
+ Hiện tại chưa có khu xử lý rác thải tập trung của xã.
+ Cần tuyên truyền, khuyến khích nhân dân tự đổ rác thải hoặc thu gom tại vị trí
bãi rác quy hoạch trong xã.
- Hệ thống thoát nước
+ Hệ thống thoát nước mưa, nước thải từ các điểm dân cư một phần thoát ra hệ
thống cống rãnh, đổ ra hệ thống kênh mương tiêu phía Bắc và phía Nam của xã.
Mặt khác một số điểm dân cư đang để tình trạng thoát nước theo hình thức tiêu
thấm vào đất.
* Nghĩa trang nhân dân: Toàn xã hiện có 7 khu nghica địa, với tổng diện tích là
7,18 ha, được phân bố đều trên địa bàn xã.
* Môi trường
Công tác môi trường trên địa bàn xã luôn được quan tâm chú trọng với ý
thức tự giác của mọi người dân. Tuy nhiên hệ thống tiêu thoát nước dân sinh vẫn
đang tiêu thấm, rác thải chưa được xử lý tập trung, chưa có hệ thống cấp nước sinh
hoạt, tình trạng khai thác nước ngầm tùy tiện bằng hệ thống giếng khoan chưa
được quản ký theo quy định.
3. Đánh giá tổng hợp hiện trạng không gian kiến trúc
3.1. Thuận lợi
- Là một xã thuộc vùng đồng bằng ven biển, đất đai màu mỡ, nằm trong khu vực
nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới;
- Thông tư 09/2010/TT-BXD ngày 4/8/2010 của Bộ Xây dựng về Quy định
việc lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng xã nông
thôn mới;
- Thông tư số 32/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng
về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng nông
thôn;
- Quyết định số 1442/QĐ-UBND ngày 12/4/2010 của Chủ tịch Ủy ban Nhân
dân tỉnh Thanh Hóa về việc thành lập Ban chỉ đạo chương trình xây dựng
nông thôn mới tỉnh Thanh Hóa;
- Quyết định số 2005/QĐ-UBND, ngày 7/6/2010 của Ủy ban Nhân dân tỉnh
Thanh Hóa về việc phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới tỉnh Thanh Hóa
giai đoạn 2010-2020, định hướng đến năm 2030;
- Quyết định số 1457/QĐ-UBND, ngày 11/5/2011 của Ủy ban Nhân dân tỉnh
Thanh Hóa về việc Ban hành hướng dẫn lập quy hoạch xây dựng xã nông
thôn mới trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa;
- Công văn số 1736/HD-SVHTTDL ngày 07/10/2010 của Sở Văn hóa, Thế
thao và Du lịch Hướng dẫn tạm thời hệ thống các công trình Trung tâm văn
hóa, thể thao xã; nhà văn hóa, khu thể thao thôn đạt chuẩn theo yêu cầu Bộ
tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
II. Các dự báo các chỉ tiêu kinh tế - xã hội
1. Dự báo quy mô dân số và lao động
Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/10/2010, dân số xã Thọ Thế la 4367
người.
Dự báo đến năm 2015 dân số xã vào khoảng 4476 người và đến năm 2020 sẽ
có khoảng 4577 người.
Dự báo lực lượng lao động tham gia vào các ngành kinh tế năm 2015 là
2.149 người và đến năm 2020 khoảng 2.105 người.Trong đó lao động khu vực