ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HÀ HOÀNG LÂM TÊN ĐỀ TÀI :
SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN VÀ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở XÃ BẢN NGOẠI
HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Lớp : 42 - PTNT
Khóa học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : Th.S. Nguyễn Thị Giang
Hà Hoàng Lâm
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất của xã Bản Ngoại từ năm 2011- 2013 27
Bảng 4.2: Bảng tình hình sản xuất một số cây trồng chính tại xã Bản Ngoại qua 3
năm 2011 - 2013 29
Bảng 4.3: Bảng tình hình chăn nuôi ở xã Bản Ngoại qua 3 năm 2011- 2013 31
Bảng 4.4: Tình hình dân số và lao động xã Bản Ngoại qua 3 năm 2011-2013 32
Bảng 4.5: Tình hình cơ sở hạ tầng qua 3 năm 2011-2013 34
Bảng 4.6: Hiểu biết của người dân trong chương trình xây dựng nông thôn mới và
mức độ thông tin với cán bộ phát triển nông thôn 36
Bảng 4.7: Hiểu biết của các tổ chức xã hội về chương trình xây dựng nông thôn mới
và mức độ thông tin với cán bộ phát triển nông thôn 38
Bảng 4.8: Những công việc của người dân khi tham gia vào xây dựng nông thôn
mới 40
Bảng 4.9: Những công việc của các tổ chức xã hội khi tham gia vào xây dựng nông
thôn mới 42
Bảng 4.10: Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong việc thảo luận
chiến lược phát triển nông thôn 44
Bảng 4.11: Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong việc lập kế hoạch
phát triển nông thôn 46
Bảng 4.12: Người dân tham gia tập huấn và ứng dụng kỹ thuật trong sản xuất 48
Bảng 4.13. Các tổ chức tham gia tập huấn khoa học – kỹ thuật 51
Bảng 4.14: Cơ cấu nguồn vốn xây dựng mô hình xây dựng nông thôn xã
năm 2013 53
MỤC LỤC
Trang
Phần 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1. Mục tiêu chung 3
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 3
1.3. Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 4
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
2.1. Cơ sở khoa học lý luận 5
2.1.1. Khái niệm nông dân 5
2.1.2. Các tổ chức xã hội 5
2.1.3. Khái niệm phát triển nông thôn 6
2.1.4. Mô hình nông thôn mới 6
2.1.4.1. Điều kiện cần có để xây dựng mô hình nông thôn mới theo đề án của Bộ
NN&PTNT 7
2.1.4.2. Căn cứ xác định tiêu chí, chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới theo đề án của
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 8
2.1.5. Sự tham gia của người dân trong xây dựng mô hình nông thôn mới 10
2.1.5.1. Lý luận của sự tham gia 10
2.1.5.2. Những đặc điểm nâng cao vai trò của người dân 12
2.1.5.3. Sự tham gia 13
2.1.5.4. Các hình thức tham gia 13
2.1.5.5. Mức độ tham gia 14
2.2. Cơ sở thực tiễn 14
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về tăng cường sự tham gia của
4.2.1.1. Sự hiểu biết của người dân trong xây dựng nông thôn mới 36
4.2.1.2. Sự hiểu biết của các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới 38
4.2.2. Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội vào chương trình xây dựng
nông thôn mới tại xã Bản Ngoại 39
4.2.2.1. Những công việc người dân và các tổ chức xã hội tham gia vào xây dựng
nông thôn mới 39
4.2.2.2. Các hoạt động đã thực hiện trong chương trình nông thôn mới có sự tham
gia của người dân và các tổ chức xã hội tại xã Bản Ngoại 42
4.2.2.3. Lý do của người dân và các tổ chức xã hội tham gia xây dựng mô hình nông
thôn mới 57
4.2.2.4. Đánh giá của người dân và các tổ chức về vai trò của ban quản lý trong xây
dựng nông thôn mới 60
4.3. Những khó khăn ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân và một số tổ chức xã
hội trong xây dựng nông thôn trên địa bàn xã Bản Ngoại 63
4.4. Một số giải pháp để nâng cao sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội
trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Bản Ngoại, huyện Đại Từ,
tỉnh Thái Nguyên 65
4.4.1. Giải pháp chung 65
4.4.2. Giải pháp cụ thể 65
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
5.1. Kết luận 68
5.2. Kiến nghị 69
5.2.1. Đối với các cấp chính quyền 69
5.2.2. Đối với người dân nông thôn 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
án nhằm thay đổi bộ mặt của người dân nông thôn như: Chương trình 135,
chương trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, chương trình nước sạch và nhiều dự
án phát triển sản xuất,… Tuy nhiên, những chương trình, dự án này chỉ mới giải
quyết một số vấn đề riêng rẽ, chưa được triển khai đồng bộ trên tất cả các xã
trong cả nước.
Để giải quyết vấn đề trên và thực hiện Nghị quyết Trung ương 7
khóa X về “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn”, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành “Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới” (Quyết định số
491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009) và “Chương trình mục tiêu Quốc gia xây
dựng Nông thôn mới” tại Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 06/4/2010
nhằm thống nhất chỉ đạo việc xây dựng Nông thôn mới trên cả nước. Tuy
thời gian triển khai thực hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới chưa
lâu nhưng các địa phương đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đời
sống của người dân ở các xã được nâng lên rõ rệt.
Bản Ngoại là một xã miền núi xã nằm ở phía tây bắc huyện Đại Từ, có
tuyến đường giao thông quan trọng của tỉnh là quốc lộ 37 từ Thái Nguyên đi
Tuyên Quang chạy qua trung tâm xã cùng tuyến đường sắt Quán Triều- Núi
Hồng đi qua địa bàn, xã gồm có 19 xóm, số hộ 2045 hộ, 7024 nhân khẩu,
trình độ dân trí không đồng đều, hộ nghèo còn 454 hộ chiếm 25%. Có đất đai
thổ nhưỡng tương đối tốt, song địa hình khá phức tạp đồi núi xen kẽ với đồng
bằng, và do đó cũng ảnh hưởng đến công tác xây dựng xã, nhiều năm qua đã
có những chủ trương, những dự án về nông thôn ở xã và đã đạt được những
kết quả đáng kể, nhưng qua đó cũng có nhiều bất cập xảy ra. Hạ tầng cơ sở
trong xã đã được tu sửa khang trang song không đạt tiêu chuẩn, có 2 nhà máy
sản xuất nhưng chưa có quy hoạch, sản xuất gần khu dân cư, trường học. Tình
trạng ô nhiễm môi trường vẫn còn là vấn đề lớn của xã. Văn hóa xã hội còn
chưa thực sự ổn định, sản xuất nông nghiệp còn chưa thực sự ổn định, sản
xuất nông nghiệp còn nhiều bất cập, khó khăn, còn chưa phù hợp với hướng
phát triển theo CNH – HĐH. Người dân còn chưa nhiệt tình tham gia vào
chương trình dự án của xã, người dân chưa thấy được lợi ích của mình từ các
phát triển và xây dựng điều kiện kinh tế xã hội ở nông thôn trong giai đoạn
công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn hiện nay.
- Đề tài được coi là một tài liệu tham khảo cho trường, khoa, các cơ
quan trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo.
4
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc đánh giám sát thực
hơn thực trạng xây dựng nông thôn mởi xã Bản Ngoại, huyện Đại Tư, tỉnh
Thái Nguyên.
- Qua đó giúp người dân nhận thức đầy đủ hơn về tầm quan trọng của
xây dựng nông thôn mới, đưa ra những giả pháp để tăng cường sự tham gia
của người dân vào xây dựng nông thôn mới nói riêng và phát triển nông thôn
nói chung.
- Kết quả của đề tài là cơ sở cho các cấp chính quyền địa phương, các
nhà đầu tư đưa ra quyết định mới, hướng đi mới để xây dựng thành công mô
hình nông thôn mới trên địa bàn xã Bản Ngoại, huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên. 5
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học lý luận
2.1.1. Khái niệm nông dân
Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản
nông dân, làm nghề chính là nông nghiệp; có mật độ dân cư thấp hơn; có kết
cấu hạ tầng kém phát triển hơn; có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn; có
trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn.
Phát triển nông thôn là phạm trù rộng được nhận thức với nhiều quan
điểm khác nhau.
Theo ngân hàng thế giới (1975): “ Phát triển nông thôn là một chiến
lược nhằm cải thiện điều kiện sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ
thể - người nghèo ở vùng nông thôn. Nó giúp những người nghèo nhất trong
nhưng người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển
” (Mai Thanh Cúc, 2005).[3]
Phát triển nông thôn có tác động theo chiều khác nhau. Đây là một quá
trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm
mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các cư dân nông thôn, đồng thời
phát triển nông thôn là quá trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn
nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống qua việc ứng dụng khoa
học và công nghệ. PTNT là sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động có
mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất, kinh tế, công
nghệ, văn hóa, xã hội, thể chế và môi trường. Nó không thể tiến hành một
cách độc lập mà phải được đặt trong khuôn khổ của một chiến lược, chương
trình phát triển quốc gia. Sự phát triển của các vùng nông thôn sẽ đóng góp
tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển chung của
đất nước (Mai Thị Cúc, 2005).[3]
2.1.4. Mô hình nông thôn mới
Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách về một mô hình
phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao
quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải
quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự
tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý
chí.
7
tính pháp lý, tôn trọng kỷ cương phép nước, phát huy tính tự chủ của làng xã.
8
- Về văn hóa xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, giúp
nhau xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng.
- Về con người, chú trọng nâng cao trình độ dân trí, nhằm phát huy nội
lực của người dân, tiếp thu những tiến độ khoa học kỹ thuật vận dụng vào sản
xuất. Mặt khác cần khuyến khích người dân tích cực tham gia các hoạt động
lập kế hoạch, giám sát, điều chỉnh và đánh giá các công trình phát triển nông
thôn, xóm. Xây dựng hình mẫu người nông dân sản xuất giỏi
- Về môi trường, xây dựng củng cố bảo vệ môi trường, du lịch sinh thái.
Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và
chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững.
2.1.4.2. Căn cứ xác định tiêu chí, chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới theo đề án
của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
* Cấp tỉnh
UBND tỉnh xác định tiêu chí và chỉ tiêu phấn đấu cụ thể như sau:
- Tỉnh nông nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm > 30%
- Tỉnh Nông - công nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm 10- 30%
- Tỉnh công nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm < 10%
Ngoài các tiêu chí trên, để đạt chuẩn nông thôn tỉnh phải có 80%
số huyện trong tỉnh đạt tiêu chí huyện nông thôn mới.
* Cấp huyện
UBND huyện chịu trách nhiệm chính trong lĩnh vực xây dựng
nông thôn mới ở huyện. Huyện cử các cán bộ có trình độ am hiểu nông dân,
nông dân phối hợp với tư vấn kế hoạch phát triển của bộ tham gia xây dựng
phát triển xã. Bên cạnh đó còn thẩm định kỹ thuật các công trình xây dựng cơ
bản trong kế hoạch của xã cố vấn lớn theo quy định hiện hành.
Tiêu chí nông thôn mới phụ thuộc đặc điểm, điều kiện tự nhiên
của từng vùng: Trung du, miền núi hay các huyện đồng bằng, hải đảo. Ngoài
Bổ sung nghị định 342 sửa đổi các tiêu chí NTM – theo điều kiện 1:
Sửa đổi 5 tiêu chí của bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tại
quyết định số 491/QD – TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của thủ tướng chính
phủ như sau.
(1) Tiêu chí 07 về chợ nông thôn được sử chữa như sau:
“ Chợ theo quy hoạch đạt tiêu chuẩn quy định”
(2) Tiêu chí số 10 về thu nhập như sau:
10
(a) Nội dung tiêu chí: Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn
(triệu đồng/người).
(b) Tiêu chí chung cho cả nước.
- Năm 2012: đạt 18 triệu đồng/ người
- Đến năm 2015: Đạt 26 triệu đồng / người
- Đến năm 2020: Đạt 44 triệu đồng/người
c) Chỉ tiêu cụ thể cho các vùng (theo phụ lục đính kèm). Chỉ tiêu cụ thể
đạt chuẩn theo từng năm giữa các giai đoạn do bộ nông nghiệp và phát triển
nông thôn phối hợp theo bộ kế hoạch và đầu tư hướng dẫn chi tiết
d) Các xã thuộc nghị quyêt 30a/2008/NQ – CP được áp dụng mức của
vùng trung du và miền núi phía bắc
e) Các xã đạt tiêu chuẩn phải có thu nhậm bình quân đầu người của xã
không thấp hơn tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người tối thiểu khu vực
nông thôn của vùng do bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn phối hợp cùng
với bộ kế hoạch và đầu tư hướng dẫn chi tiết và công bố.
(3). Tiêu chí số 12 về cơ cấu lao động được sửa đổi bổ sung như sau:
a). Tiêu chí: Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên
b) Nội dung tiêu chí: Tỷ lệ người dân làm việc trên dân số trong độ tuổi
lao động
c) Chỉ tiêu chung và từng vùng: Đạt từ 90% trở lên
(4). Tiêu chí số 14 về giáo dục được sửa đổi như sau:
tính tự giác của từng người dân trong cộng đồng. hình thức đóng góp bằng
tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ.
- Dân làm: Chính là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào
các hoạt động phát triển nông thôn như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các
hoạt động của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm
và những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công
trình. Người dân trực tiếp tham gia vào quá trình cụ thể trong việc lập kế
hoạch có sự tham gia cho từng hoạt động thi công, quản lý và duy trì bảo
dưỡng, từ những việc tham gia đó đã tạo cơ hội cho người dân có việc làm,
tăng thu nhập cho người dân.
- Dân kiểm tra: Có nghĩa là thông qua các chương trình, hoạt động có
sự giám sát đánh giá của người dân, để thực hiện các quy chế dân chủ cơ sở
của đảng và nhà nước nói chung và nâng cao hiệu quả chất lượng công trình.
12
Ở những công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng
đồng hưởng lợi có tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình và
tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của nhà nước và của người
dân vào xây dựng, quản lý và vận hành công trình. Việc kiểm tra có thể được
tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư trên các khía cạnh kỹ
thuật cũng như tài chính.
- Dân quản lý: Đó là các thành quả của các hoạt động mà người dân đã
tham gia; Các công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp
của một tổ chức do nông dân hưởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ
ràng về chủ sở hữu công trình. Việc tổ chức của người dân tham gia tu sửa,
bảo dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả
trong việc sử dụng công trình.
- Dân hưởng lợi: Đó là các thành quả của các hoạt động mà người dân
đã tham gia, tuy nhiên cần chia ra các nhóm hưởng lợi ích trực tiếp và nhóm
hưởng lợi gián tiếp. Nhóm hưởng lợi trực tiếp là nhóm thụ hưởng lợi ích từ
tận dụng năng lực sự khôn ngoan, tính sáng tạo của quần chúng là phương
tiện hữu hiệu để huy động tài nguyên địa phương, tổ chức và tận dụng năng
lực sự khôn ngoan, tính sáng tạo của quần chúng và các hoạt động phát triển.
Hai là, nó xác định nhu cầu của cộng đồng và giúp tiến hành các hoạt động
phát triển để đáp ứng được những nhu cầu này. Quan trọng hơn cả là sự tham
gia của quần chúng cho dự án hay các hoạt động được công nhận, khuyết
khích người dân tham gia thực hiện và đảm bảo khả năng bền vững. kinh
nghiệm gần đây cho các hoạt động phát triển cho thấy rằng có một mối liên hệ
quan trọng giữa mức độ và cường độ tham gia của người dân với sự thành
công của những hoạt động phát triển.
2.1.5.4. Các hình thức tham gia
- Có quyền được biết một cách tường tận, rõ ràng những gì có liên quan
mật thiết và trực tiếp đến đời sống của họ.
- Được tham dự các buổi họp, tự do phát biểu, trình bày ý kiến, quan
điểm và thảo luận các vấn đề của cộng đồng.
- Được cùng quyết định, lựa chọn các giải pháp hay xác định các vấn đề
ưu tiên của cộng đồng.
- Có trách nhiệm cùng mọi người đóng góp công sức, tiền của để thực
hiện các lợi ích mang tính lợi ích chung.
14
- Người dân tự lập kế hoạch dự án và quản lý điều hành, kiểm tra, giám
sát, đánh giá các chương trình dự án phát triển cộng đồng.
2.1.5.5. Mức độ tham gia
- Không có sự tham gia
- Tham gia ít
- Tham gia thực sự
Các mức độ tham gia này có thể minh họa phương thức “ Nhà nước và
nhân dân cùng làm” với các bước dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm,
dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi.
chỉ đặt ra 5 tiêu chí chung: Sản xuất phát triển, cuộc sống sung túc, diện mạo
sạch sẽ, thôn xóm văn minh, quản lý dân chủ. Vấn đề đất đai được đặc biệt
quan tâm trong xây dựng NTM ở Trung Quốc. Ruộng đất ở các thôn do doanh
nghiệp đứng ra tổ chức sản xuất tập chung một hoặc nhiều loại sản phẩm.
Người nông dân cho doanh nghiệp thuê đất rồi vào làm công nhân, được
doanh nghiệp hướng dẫn, tập huấn nghề. Nông dân vừa có thu nhập từ tiền
lương, và vừa có thu nhập từ tiền cho thuê đất. Công tác quy hoạch trong xây
dựng NTM ở Trung Quốc cũng rất bài bản, đồng bộ. Cấp thôn được chọn làm
đơn vị quy hoạch. Việc công khai quy hoạch với dân được coi trọng đặc biệt,
tại bất cứ mô hình NTM nào được triển khai cũng đều có đầy đủ sơ đồ, bản vẽ
thiết kế được treo nơi công cộng. Khi thu hồi đất, cách làm cũng dân chủ,
công khai, bàn bạc với dân trên nguyên tắc “không để cho dân thiệt”.
Song song với nguyên tắc quy hoạch, nhà nước Trung Quốc cũng rất
chăm lo và có bước đi hợp lý trên 2 lĩnh vực: áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật và cơ khí hóa vào sản xuất nông nghiệp. Điều quan trọng nữa là giải
quyết công ăn việc làm được coi trọng, chính sách xã hội với người nông dân
đặc biệt quan tâm, gắn trách nhiệm của các đơn vị sử dụng đất của nông dân
với quyền lợi lâu dài của nông dân. Làm như vậy, trong trường hợp bị thu hồi
đất, người nông dân vẫn không bị giảm quyền lợi.
Bên cạnh đó, khi xây dựng NTM, Trung Quốc xây dựng một đội ngũ
cán bộ thôn có năng lực, có trình độ quản lý, hiểu biết khoa học kỹ thuật. Đây
là vấn đề quan trong mà xây dựng NTM ở Việt Nam cần phải học hỏi để tăng
cường cho cán bộ cơ sở, có như vậy mới vận động được quần chúng nhân dân
tham gia xây dựng NTM. (htt://nongthonmoi.gov.vn)[7].
b. Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
Phòng trào Saemaul Undong của Hàn Quốc: Nhằm giảm thiểu tác động
tiêu cực đến khu vực kinh tế nông thôn khi thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ I
16
(1962 - 1966) và thứ II (1966 - 1967) với chủ trương công nghiệp hóa hướng
thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân.
17
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức
cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp,
đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách
khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên
bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái;
giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm,
thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác. Trong xây dựng
kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý
các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi bảo
đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao
năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp. Chương
trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ
được triển khai rộng khắp cả nước….
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập
trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công
nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ
năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song
song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu.
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng
nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp
chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước
công nghiệp phát triển.
Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên
cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của
nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người
dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với
việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng
thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.