0
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LÊ NGỌC LUÂN Tên đề tài:
SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN VÀ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở XÃ BỘC BỐ,
HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Lớp : K42 - PTNT
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Vũ Thị Hiền
Thái Nguyên, năm 2014
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BPTT : Nông thôn mới Ban phát triển thôn
BQ : Bình quân
CC : Cơ cấu
CNH -HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
DT : Diện tích
GPMB : Giải phóng mặt bằng
HTX : Hợp tác xã
NN : Nông nghiệp
NTM : Nông thôn mới
PTNT : Phát triển nông thôn
SL : Sản Lượng
UBND : Ủy ban nhân dân 3
MỤC LỤC
Trang
Phần 1. MỞ ĐẦU 1
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.2 Cơ sở thực tiễn 21
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 31
3.3. Nội dung nghiên cứu 31
thôn mới 48
Bảng 4.7: Cách tiếp cận thông tin của các tổ chức đối với chương trình nông
thôn mới 50
Bảng 4.8: Hiểu biết của người dân trong chương trình xây dựng nông thôn
mới và mức độ thông tin với cán bộ phát triển nông thôn 51
Bảng 4.9: Hiểu biết của các tổ chức xã hội về chương trình xây dựng nông
thôn mới và mức độ thông tin với cán bộ phát triển nông thôn 53
Bảng 4.10: Đánh giá mức độ tự nguyện của người dân khi tham gia chương
trình nông thôn mới 56
Bảng 4.11: Đánh giá mức độ tự nguyện của các tổ chức xã hội khi tham gia
mô hình nông thôn mới 57
Bảng 4.12: Lý do người dân tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới 58
Bảng 4.13: Lý do các tổ chức tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới 59
Bảng 4.14: Những công việc của người dân khi tham gia vào xây dựng nông
thôn mới 61
Bảng 4.15: Những công việc của các tổ chức xã hội khi tham gia vào xây
dựng nông thôn mới 63
5
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 của đảng ta, tại
đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã xác định: “Hiện nay và nhiều năm tới,
vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan
trọng” là vấn đề chiến lược trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, góp
phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, là cơ sở ổn định chính trị và an
ninh quốc phòng, là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của đất
nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, nhưng trước hết phải xuất phát rừ lợi ích của nông dân, phát huy
vai trò của giai cấp nông dân, tạo điều kiện thuận lợi giúp nông dân nâng cao
trình độ mọi mặt, có đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao. Trong
những năm qua, nhiều chương trình dự án đã được thực hiện, như chương
trình giống, chương trình khoa học công nghệ, chương trình khuyến nông,
chương trình 135 hay Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị
quyết số 30a/2008/NQ-CP. Tuy nhiên, việc triển khai còn chậm trễ do bị ràng
buộc bởi các cơ chế, chính sách và năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở còn hạn chế
trong việc phát triển nông thôn văn minh hiện đại.
Để xây dựng một nông thôn mới bền vững và phát triển, cần phải chú
trọng việc nâng cao năng lực cho cộng đồng người dân của nông thôn, đặc
biệt là quan tâm đến vai trò của người dân và các tổ chức xã hội.
Tuy nhiên, trên thực tế nhiều nơi chưa phát huy được vai trò của nông
dân trong thực hiện các dự án phát triển nông thôn. Có nhiều lý do và lực cản
như trình độ hiểu biết của người dân, năng lực quản lý, cơ chế, phương pháp
triển khai thực hiện và điều kiện cơ sở hạ tầng thấp kém,…
2
nhằm nâng cao vai trò của người dân và các tổ chức trong xây dựng nông
thôn mới trên địa bàn xã Bộc Bố.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa được những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự tham gia
của người dân và các tổ chức trong xây dựng nông thôn mới
- Tìm hiểu được tình hình điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội và tình
hình sản xuất trên địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá được sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội ở địa
phương trong một số mô hình xây dựng nông thôn mới ở địa phương
- Phân tích được những khó khăn và trở ngại ảnh hưởng đến sự tham
gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới
- Đưa ra được những giải pháp nhằm thúc đẩy tham gia của người trong
xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Bộc Bố.
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho
công tác sau này.
- Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu
- Góp phần hoàn thiện những lý luận và phương pháp nhằm đẩy mạnh
và phát triển và xây dựng điều kiện kinh tế xã hội ở nông thôn trong giai đoạn
công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn hiện nay.
4
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc đánh giá sát thực hơn
thực trạng xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn
- Qua đó giúp người dân nhận thức đầy đủ hơn về tầm quan trọng của
xây dựng nông thôn mới, đưa ra những giải pháp để tăng cường sự tham gia
của người dân vào xây dựng nông thôn mới nói riêng và phát triển nông thôn
nói chung.
các quan hệ xã hội. Nếu như giữa tập hợp các cá nhân không có những quan
hệ xã hội thì họ chưa thể được coi là thành viên của một tổ chức xã hội nào
đó. Những quan hệ này sẽ liên kết các cá nhân vào một nhóm để họ cùng thực
hiện một hoạt động chung nào đó nhằm đạt được những lợi ích nhất định.
6
Tóm lại, có thể hiểu tổ chức xã hội là một nhóm người có mối quan
hệ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, và hoạt động cùng mục tiêu và cùng lợi ích
như nhau
Các tổ chức ở xã như: hội nông dân, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh,…
2.1.3 Khái niệm phát triển nông thôn
Nông thôn là vùng khác với đô thị là ở đó có một cộng đồng chủ yếu là
nông dân, làm nghề chính là nông nghiệp; có mật độ dân cư thấp hơn; có kết
cấu hạ tầng kém phát triển hơn; Có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn; có
trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn.
Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều
quan điểm khác nhau. Theo Ngân hàng thế giới (1975): “Phát triển nông thôn
là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống về kinh tế và xã hội của
một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn. Nó giúp những
người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được
hưởng lợi ích từ sự phát triển”. [2]
Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều chiều khác nhau. Đây là
một quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển,
nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các cư dân nông thôn, đồng
thời phát triển nông thôn là quá trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông
thôn nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc ứng
dụng khoa học và công nghệ. PTNT là sự phát triển tổng hợp của tất cả các
hoạt động có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất,
kinh tế, công nghệ, văn hóa, xã hội, thể chế và môi trường. Nó không thể tiến
hành một cách độc lập mà phải được đặt trong khuôn khổ của một chiến lược,
hút sự tham gia đầy đủ của các thành viên trong nông thôn nhằm đạt được
mục tiêu đề ra có tính hiệu quả cao.
− Việc thực hiện kế hoạch dựa trên nền tảng huy động nguồn lực của
8
bản thân người dân, thay cho việc dựa vào sự hỗ trợ từ bên ngoài là chính.
− Các tổ chức nông dân hoạt động mạnh, có tính hiệu quả cao.
− Nguồn vốn từ bên ngoài được phẩn bổ và quản lý sử dụng có hiệu quả.
Trên đây là những đặc điểm tạo nên nét riêng biệt của mô hình nông
thôn mới chưa từng có trước kia.
2.1.4.1 Điều kiện cần có để xây dựng mô hình nông thôn mới theo đề án của
Bộ NN và PTNT
- Về kinh tế, nông thôn có nền sản xuất hàng hoá mở, hướng đến thị
trường và giao lưu, hội nhập. Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông
thôn phải hiện đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán.
- Về chính trị, phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật, gắn
lệ làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo
tính pháp lý, tôn trọng kỷ cương phép nước, phát huy tính tự chủ của làng xã.
- Về văn hóa xã hội, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, giúp
nhau xoá đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng.
- Về con người, chú trọng nâng cao trình độ dân trí, nhằm phát huy
nội lực của người dân, tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật vận dụng
vào sản xuất. Mặt khác cần khuyến khích người dân tích cực tham gia các
hoạt động lập kế hoạch, giám sát, điều chỉnh và đánh giá các công trình
phát triển thôn, xóm. Xây dựng hình mẫu người nông dân sản xuất giỏi, là
người kết tinh các tư cách: công dân, thể nhân, dân của làng, người con của
các dòng họ, gia đình.
- Về môi trường, xây dựng, củng cố, bảo vệ môi trường, du lịch sinh
thái. Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không
khí và chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững.[6]
10
* Cấp thôn, bản
Xây dựng kế hoạch phát triển thôn dưới sự tư vấn của cán bộ tư vấn
Bộ, tỉnh, huyện và xã.
Thôn, bản đạt tiêu chí nông thôn mới khi đạt 90% các chỉ tiêu đề ra do
nhân dân tự xác định và đã kiểm tra theo từng giai đoạn cụ thể.
Một số tiêu chí để xây dựng mô hình nông thôn mới
Được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 491/QĐ-TTg
(16/4/2009) ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới bao gồm 19
tiêu chí như: quy hoạch và thực hiện quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện,
trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư,
thu nhập, hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y
tế, văn hóa, môi trường, hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh, an ninh,
trật tự xã hội; và được chia thành 5 nhóm cụ thể:
+ Về quy hoạch.
+ Về hạ tầng kinh tế - xã hội.
+ Về kinh tế và tổ chức sản xuất.
+ Về văn hóa - xã hội - môi trường.
+ Về hệ thống chính trị.
Bổ sung nghị định 342 sửa đổi các tiêu chí NTM - Theo điều 1:
Sửa đổi 5 tiêu chí của bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới ban hành
tại quyết định số 491/QĐ – TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng
Chính phủ như sau:
(1) Tiêu chí 07 về chợ nông thôn được sửa đổi như sau:
“ Chợ theo quy hoạch đạt chuẩn quy định
(2) Tiêu chí sô 10 về thu nhập như sau:
a) Nội dung tiêu chí: Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông
thôn (triệu đồng/người).
11
phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ
trong thí điểm mô hình. Các nội dung trong vai trò của người dân vào việc
tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới được hiểu là:
- Dân biết: là quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của người nông dân về
những kiến thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch nông thôn, quá
trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn. Mặt khác,
người dân có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai đoạn sau của quá trình
xây dựng công trình; người dân nắm được thông tin đầy đủ về công trình mà họ
tham gia như mục đích xây dựng công trình, các yêu cầu đóng góp từ cộng đồng,
trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng người dân được hưởng lợi.
- Dân bàn: bao gồm sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến kế
hoạch phát triển sản xuất, liên quan đến các giải pháp, mọi hoạt động của
nông dân trên địa bàn như bàn luận mở ra một hướng sản xuất mới, đầu tư
xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết kế, phương thức
khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và các
định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính,… trong
nội bộ cộng đồng dân cư hưởng lợi.
- Dân đóng góp: là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc
mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng
tính tự giác của từng người dân trong cộng đồng. Hình thức đóng góp có thể
bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ.
- Dân làm: chính là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các
hoạt động phát triển nông thôn như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt
động của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm và
những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công
trình. Người dân trực tiếp tham gia vào quá trình cụ thể trong việc lập kế
hoạch có sự tham gia cho từng hoạt động thi công, quản lý và duy tu bảo
13
dưỡng, từ những việc tham gia đó đã tạo cơ hội cho người dân có việc làm,
nhân dân phát huy nội lực theo phương châm: Dân biết, dân bàn, dân đóng
góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi thành quả. Bên cạnh
đó, cần được hỗ trợ tích cực, có hiệu quả từ các ngành, các cấp từ trung ương
đến địa phương về vốn, kỹ thuật và cơ chế chính sách.
Nâng cao vai trò của người dân là nâng cao thể chế quản lý, tự quản
của cộng đồng người dân như xây dựng và thực hiện các hương ước, quy ước,
nội quy,… Phát huy vai trò của trưởng làng, trưởng bản, trưởng dòng họ và
các tổ chức tôn giáo tại địa phương; thực hiện đoàn kết trong toàn dân, xây
dựng các mối quan hệ tốt trong thôn, xóm, làng, bản. Phát huy tinh thần
thương yêu đùm bọc, giúp đỡ nhau trong phát triển kinh tế, phòng chống và
đấu tranh chống lại các tệ nạn xã hội; Đào tạo việc lập và thực hiện các dự án
phát triển, cũng như việc vận hành và bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng
nông thôn quy mô nhỏ; Đào tạo quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo
vệ môi trường; Thiết lập các tổ, nhóm quản lý, vận hành và duy tu, bảo dưỡng
các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn quy mô nhỏ, hình thành các tổ nhóm
tiết kiệm, tín dụng nông thôn.
2.1.5.3. Sự tham gia
Một yếu tố chủ yếu trong chiến lược phát triển cộng đồng là "sự tham
gia của quần chúng". Nó đã chứng tỏ là một trong những thành tố chính của
phát triển trong thời gian gần đây vì nhiều lý do. Một là, sự tham gia của quần
chúng là phương tiện hữu hiệu để huy động tài nguyên địa phương, tổ chức và
tận dụng năng lực sự khôn ngoan, tính sáng tạo của quần chúng vào các hoạt
động phát triển. Hai là, nó giúp xác định nhu cầu tiên khởi của cộng đồng và
giúp tiến hành những hoạt động phát triển để đáp ứng những nhu cầu này.
Quan trọng hơn cả là sự tham gia của quần chúng cho dự án hay hoạt động
15
được công nhận, khuyến khích người dân tham gia thực hiện và đảm bảo khả
năng bền vững. Kinh nghiệm gần đây trong những hoạt động phát triển cho
thấy rằng có một mối liên hệ quan trọng giữa mức độ và cường độ tham gia
− Thúc đẩy phát triển kết hợp với mô hình khuyến nông viên cơ sở
trong việc chuyển giao những TBKT vào sản xuất.
Nâng cao hiểu biết của người dân
− Cải thiện điều kiện sinh hoạt nâng cao chất lượng cuộc sống: xây
dựng cung cấp các cơ sở hạ tầng phù hợp điện, đường, trường, trạm, y tế, văn
hóa, chợ.
− Cải thiện nhà ở: xóa nhà tranh vách nứa, vệ sinh, chuồng trại phục vụ
cho chăn nuôi….
− Quy hoạch các khu dân cư: duy trì tính truyền thống văn hóa, bản sắc
riêng của thôn. Nhưng vẫn dảm bảo tính văn minh, hiện đại, phát triển bền vững.
Hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hàng hóa, dịch vụ nâng cao thu nhập
− Trong sản xuất nông nghiệp: khuyến khích người dân trồng trọt và
chăn nuôi những cây con giống có giá trị kinh tế cao, khối lượng hàng hóa lớn
tạo thị trường tiêu thụ rộng lớn. Đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp phát huy
những tiềm lực của địa phương.
− Tăng cường các hoạt động dịch vụ thúc đẩy sản xuất và đời sống:
cung ứng vật tư, hàng hóa, tư vấn kỹ thuật….
− Hỗ trợ trang thiệt và kỹ thuật phục vụ cho sản xuất nhằm thúc đẩy
cơ cấu cây trồng, vật nuôi.
− Tăng cường, củng cố quan hệ sản xuất. Các hoạt động tư vấn hỗ trợ:
khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư….
Xây dựng các làng nghề gắn với nông thôn
− Với những thôn có ngành nghề truyên thống: Khôi phục và củng cố
17
tăng cường tay nghề cho người lao động, hỗ trợ và quảng bá công nghệ, xử lý
môi trường và phát triển bền vững.
− Với những thôn chưa có ngành nghề phi nông nghiệp: tiến hành đưa
các ngành nghề mới vào thôn và tăng cường chuyển giao kỹ thuật, tạo việc
làm tăng thêm thu nhập cho nông dân.
Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, đã ban hành Nghị quyết 26-NQ/TW về
nông nghiệp - nông thôn - nông dân, với mục tiêu đến năm 2010 tạo chuyển
biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời
sống nhân dân. Chương trình hành động sẽ tập trung vào một số nội dung
chính như:
– Tổ chức quán triệt sâu rộng trong các ngành, các cấp và nhân dân từ
Trung ương đến cơ sở để có nhận thức đúng đắn về vấn đề nông nghiệp, nông
dân, nông thôn trong quá trình hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở nước ta.
– Phát động trong toàn quốc phong trào thi đua lao động xây dựng
nông nghiệp hiện đại, xây dựng nông thôn mới.
– Rà soát điều chỉnh quy hoạch, xây dựng và triển khai các chương
trình kinh tế-xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia, các đề án chuyên
ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
Sau Nghị quyết 7, Chính phủ đã có “Chương trình Hành động thực hiện
Nghị quyết Trung ương 7 về nông nghiệp - nông dân - nông thôn” với 3
chương trình quốc gia là xây dựng nông thôn mới, đào tạo nguồn nhân lực và
chương trình mục tiêu thích ứng với sự biến đổi khí hậu. Cùng với 3 chương
trình quốc gia này, gần 50 đề án chuyên ngành cũng đã thể hiện khá rõ nội
dung về phát triển nông nghiệp công nghệ cao trong phạm vi toàn quốc để
phát triển nông nghiệp - nông dân - nông thôn theo Nghị quyết 7 Trung ương.
19
Theo đó, đến năm 2020, bằng mọi cách phải đầu tư cho nông nghiệp, nông
dân và nông thôn cứ 5 năm sau cao gấp đôi 5 năm trước.
Đề án “Vấn đề nông nghiệp - nông dân - nông thôn”, dựa trên tư tưởng
chỉ đạo của Đại hội Đảng X được đưa ra tập trung đáng giá thực trạng nông
nghiệp, nông dân, nông thôn từ năm 2000 đến nay, làm rõ các quan điểm đề
ra mục tiêu và các chủ trương, giải pháp lớn nhằm giải quyết các vấn đề này
trong giai đoạn từ nay đến năm 2020. Trong đề án, vấn đề xây dựng nông
thôn mới là một trong 3 nội dung trọng tâm nhằm giải quyết các vấn đề đưa ra