Khó khăn tâm lí của học sinh đầu lớp 1 trường tiểu học Bộc Bố huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn - Pdf 22

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S Lê
Thị Thu Hà, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình làm
khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Tiểu học - Mầm non những
người đã trực tiếp giảng dạy, trang bị cho em những kiến thức quý báu trong thời
gian học tập tại trường, xin cảm ơn các thầy, cô giáo và các em học sinh lớp 1
Trường Tiểu học Bộc Bố và phân trường Nà Lảy đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong
quá trình tìm hiểu thực trạng khó khăn tâm lí của học sinh lớp 1.
Xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp K51A Đại học giáo dục Tiểu học, cũng
như gia đình, bạn bè những người luôn quan tâm, động viên và nhiệt tình giúp
đỡ em để hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện

Hoàng Thị Tuyết Mai

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

GV: giáo viên
HS: học sinh
KKTL: khó khăn tâm lí
GĐ: gia đình
TB: thứ bậc
SGK: sách giáo khoa


2.2. Thực trạng khó khăn tâm lí của học học sinh đầu lớp 1 trƣờng tiểu học
Bộc Bố, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn 25
2.2.1. Khó khăn tâm lí của học sinh lớp 1 25
2.2.2. Biểu hiện khó khăn tâm lí của học sinh lớp 1 trường tiểu học Bộc Bố
huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn 30
2.2.3. Nguyên nhân dẫn đến khó khăn tâm lí của học sinh lớp 1 33
2.2.3.1. Nguyên nhân chủ quan 33
2.2.3.2. Nguyên nhân khách quan 35
2.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến khó khăn tâm lí của trẻ lớp 1 39
2.2.4.1. Ảnh hưởng của môi trường sống đến khó khăn tâm lí của học sinh lớp 1
39
2.2.4.2. Giới tính và khó khăn tâm lí của học sinh lớp 1. 41
2.2.4.3. Độ tuổi và khó khăn tâm lí của học sinh lớp 1 43
2.2.4.4. Hoàn cảnh gia đình và khó khăn tâm lí 46
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN TÂM LÍ
CHO HỌC SINH ĐẦU LỚP 1 TRƢỜNG TIỂU HỌC BỘC BỐ HUYỆN
PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN 50
3.1. Chuẩn bị cho trẻ một thể lực tốt khi vào lớp 1 50
3. 2. Chuẩn bị về mặt trí tuệ cho trẻ 52
3.3. Tạo hứng thú sẵn sàng đi học cho trẻ 56
3.4. Chuẩn bị cho trẻ về khả năng thích ứng với hoạt động học tập và xã hội 57
3.5. Chuẩn bị tốt về mặt ngôn ngữ 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
1. Kết luận 65
2. Kiến nghị 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC

1
MỞ ĐẦU

2
Đặc biệt là học sinh tiểu học vùng miền núi Đông Bắc - vùng còn có nhiều khó
khăn trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Bởi vậy, nghiên cứu những khó khăn
tâm lý của trẻ đầu lớp 1 là cần thiết để giúp các bậc phụ huynh, các thầy cô giáo -
những người làm công tác giáo dục nhận thức được các khó khăn tâm lý của trẻ khi
vào học lớp 1 và có biện pháp thích hợp nhằm khắc phục và hạn chế khó khăn tâm
lí cho trẻ khi đi học đầu lớp 1.
Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi chọn đề tài “Khó khăn tâm lí
của học sinh đầu lớp 1 trường tiểu học Bộc Bố - huyện Pác Nặm - tỉnh Bắc Kạn”.
2. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Khó khăn tâm lí của học sinh đầu lớp 1.
2.2. Khách thể nghiên cứu
Học sinh lớp 1 của trường tiểu học Bộc Bố - huyện Pác Nặm – tỉnh Bắc
Kạn.
3. Mục đích nghiên cứu
Từ những nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài phát hiện những khó
khăn tâm lý của trẻ đầu lớp 1 trường tiểu học Bộc Bố và một số nhân tố dẫn tới
những khó khăn đó. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp
tháo gỡ khó khăn tâm lí cho học sinh lớp 1.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề có liên quan đến khó khăn của học sinh lớp 1: khó
khăn tâm lý, đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 1.
- Tìm hiểu thực trạng khó khăn tâm lý, các yếu tố ảnh hưởng đến khó khăn
tâm lý của trẻ lớp 1 ở trường tiểu học Bộc Bố - huyện Pác Nặm - tỉnh Bắc Kạn.
- Đề xuất một số biện pháp để tháo gỡ khó khăn tâm lý cho học sinh lớp 1 ở
trường tiểu học Bộc Bố - huyện Pác Nặm - tỉnh Bắc Kạn.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Do điều kiện thời gian và khuôn khổ đề tài có hạn mà vấn đề khó khăn tâm
lí là một vấn đề lớn. Nên xét về điều kiện của bản thân tôi chỉ tập trung nghiên

có nội dung gồm các câu hỏi:
4
+ Theo thầy cô, học sinh lớp 1 có gặp khó khăn tâm lí không? Đó là
những khó khăn nào?
+ Nguyên nhân nào dẫn đến những khó khăn đó?
+ Làm thế nào để khắc phục khó khăn tâm lí cho học sinh lớp 1?
- Bước 2: Thiết kế phiếu điều tra chính thức:
Dựa trên kết quả khảo sát, chúng tôi xây dựng phiếu điều tra chính thức.
Nội dung phiếu điều tra gồm 7 vấn đề:
+ Học sinh lớp 1 có khó khăn không?
+ Đó là những khó khăn nào?
+ Biểu hiện của khó khăn đó
+ Yếu tố chủ quan gây nên khó khăn
+ Yếu tố khách quan gây nên khó khăn
+ Ảnh hưởng của khó khăn
+ Biện pháp khắc phục khó khăn
7.4. Phương pháp phỏng vấn
Đây là phương pháp chủ yếu mà chúng tôi đã sử dụng trong quá trình
nghiên cứu.
- Mục đích nghiên cứu: Nhằm tìm hiểu thực trạng khó khăn tâm lí của học
sinh lớp 1.
- Nội dung: Chúng tôi thiết kế một phiếu phỏng vấn gồm 40 câu hỏi chia
thành 2 phần:
+ Phần 1: Những khó khăn
+ Phần 2: Những nguyên nhân
- Cách tiến hành: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp từng học sinh trong một
phòng học chỉ gồm người phỏng vấn và người được phỏng vấn nhằm nâng cao
tính khách quan cho kết quả điều tra. Sau đó chúng tôi cho điểm mỗi câu theo
quy định chuẩn sau:
+ Câu trả lời a được 3 điểm: Có khó khăn tương ứng

quan… để xử lí kết quả nghiên cứu thu được nhằm rút ra các nhận xét khoa học
của đề tài nghiên cứu.
8. Đóng góp của đề tài
- Phát hiện khó khăn tâm lí của học sinh lớp 1 trường tiểu học Bộc Bố - Pác
Nặm - Bắc Kạn.
- Bước đầu tìm ra biện pháp tháo gỡ khó khăn tâm lí của học sinh, góp phần
nâng cao hiệu quả dạy và học.
6
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN
TÂM LÝ CỦA HỌC SINH ĐẦU LỚP 1

1.1. Lịch sử nghiên cứu về vấn đề
Cho đến nay, vấn đề khó khăn tâm lí (KKTL) đã được các nhà nghiên cứu
xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều loại khách thể với nhiều lĩnh vực khác nhau. Do
phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi không có điều kiện đề cập một cách hệ
thống toàn bộ các công trình nghiên cứu về KKTL. Chúng tôi chỉ trình bày một
cách tổng quát một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến đề tài.
1.1.1. Những nghiên cứu về khó khăn tâm lý
Theo hướng này có các công trình tiêu biểu:
- Trong công trình nghiên cứu của G.M.Anctrecva, tác giả đã đề cập đến
những khó khăn tâm lí trong qua trình giao tiếp. Theo tác giả, trong quá trình
giao tiếp, con người bắt gặp một số bức rào cản tâm lí. Những trở ngại tâm lí đó
có thể nảy sinh do sự bất đồng ngôn ngữ, do sự khác biệt về xã hội, chính trị tôn
giáo nghề nghiệp, do những đặc điểm tâm lí cá nhân của những người tham gia
giao tiếp.
Công trình nghiên cứu này của G.M.Anctrecva chủ yếu đi vào lí luận về
khó khăn tâm lí trong lĩnh vực giao tiếp trên khách thể nghiên cứu là người lớn.
- Tác giả V.A.Cancalic trong khi nghiên cứu giao tiếp sư phạm của giáo
viên (GV) cũng đã nêu ra một số trở ngại trong giao tiếp của sinh viên sư phạm
– những người thầy giáo tương lai đó là:

thuộc Đại học Paris đã có công trình nghiên cứu về bước chuyển từ mẫu giáo lên
lớp 1 của trẻ em. Theo tác giả thì khó khăn lớn nhất của trẻ khi chuyển từ mẫu
giáo lên lớp 1 là sự thay đổi môi trường hoạt động một cách triệt để. Một bên là
còn vừa học vừa chơi, hoạt động đa dạng, tính tự do tùy hứng thú cá nhân còn
nặng hơn tính chỉ đạo của cô giáo. Bước sang lớp 1, HS phải tập trung học tập
theo sự chỉ đạo chặt chẽ của GV, chủ trương nguyên tắc của lớp học. Trong
chương trình này tác giả còn nghiên cứu một cách khá toàn diện quá trình thích
ứng của trẻ lớp 1 với hoạt động học tập và sinh hoạt tập thể.
8
- Trong cuốn “Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm” tác giả
A.V.Petrovxki đã đưa ra những biến đổi về mặt sinh lí trong cơ thể trẻ 6 tuổi.
Bên cạnh đó, ông còn đề cập đến những biến đổi về mặt tâm lí khi trẻ bước vào
lớp 1. Ông đã chia những khó khăn tâm lí của trẻ lớp 1 thành 3 loại:
+ Thứ nhất: Trẻ phải làm quen với chế độ học tập mới mẻ.
+ Thứ hai: Trẻ phải đối mặt với những thay đổi về tính chất của các mối
quan hệ: quan hệ với cô giáo, với gia đình và với bạn bè.
+ Thứ ba: Trẻ mất dần đi những hứng thú học tập ban đầu và uể oải, thờ ơ
với việc học. Có thể gọi là sự “vỡ mộng” của trẻ.
Trong tác phẩm này A.V.Petrovxki cũng đã đề cập đến những nguyên nhân
dẫn đến khó khăn, ảnh hưởng của những khó khăn này đến đời sống của trẻ và
đề xuất một số biện pháp để giải quyết khó khăn cho trẻ.
Việc phân tích trên cho thấy các tác phẩm và các công trình nghiên cứu của
nước ngoài về vấn đề khó khăn tâm lí của HS lớp 1 chủ yếu đi vào nghiên cứu lí
luận về khó khăn tâm lí, thực tiễn ít hoặc là chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu về
khó khăn tâm lí trong hoạt động học tập.
Ở Việt Nam, cũng có một số tác giả bàn về vấn đề này thông qua các tác
phẩm, các công trình nghiên cứu của họ.
- Tác giả Nguyễn Thị Nhất trong tác phẩm “6 tuổi vào lớp 1” cũng đã nêu
lên những khó khăn tâm lí mà trẻ lớp 1 phải vượt qua. Theo tác giả “trong quá
trình lớn lên của trẻ em, có những bước ngoặt chuyển từ giai đoạn này sang giai

1.2.2. Khó khăn tâm lí
Khó khăn tâm lí là sự thiếu hụt phẩm chất tâm lí cần thiết cho hoạt động
của cá nhân gây cản trở cho hoạt động của cá nhân và làm cho hoạt động kém
hiệu quả.
Khó khăn tâm lí là những nét tâm lí của cá nhân, nảy sinh ở chủ thể trong
quá trình hoạt động không phù hợp (gây cản trở) với những yêu cầu đặc trưng
của một hoạt động nhất định, làm ảnh hưởng xấu tới tiến trình và kết quả của
hoạt động đó.
10
Như vậy, khó khăn tâm lí là những khó khăn xuất hiện do các yếu tố
mang tính chất tiêu cực gây nên, làm ảnh hưởng xấu đến kết quả hoạt động của
con người.
1.2.3. Khó khăn tâm lý của học sinh đầu lớp 1
Khó khăn tâm lí của HS đầu lớp 1 là sự thiếu hụt phẩm chất tâm lí cần
thiết cho hoạt động học tập và sinh hoạt trong nhà trường của học sinh những
ngày đầu đi học tiểu học, gây cản trở cho hoạt động học tập và sinh hoạt của HS
và khiến cho các hoạt động này kém hiệu quả.
1.2.4. Nguyên nhân gây ra khó khăn tâm lí
Bước vào lớp 1, trẻ gặp rất nhiều khó khăn tâm lí. Những khó khăn này
do nhiều nguyên nhân gây ra, bao gồm cả nguyên nhân khách quan và nguyên
nhân chủ quan.
- Nguyên nhân khách quan:
+ Sự thay đổi môi trường hoạt động
+ Sự thay đổi các mối quan hệ giao tiếp
+ Sự thay đổi nội dung hoạt động
+ Địa vị xã hội khác nhau
+ Sự chênh lệch về tuổi tác
+ Khác nhau về giới tính
+ Khác biệt về lối sống, ngôn ngữ
+ Khác nhau về mục đích hoạt động

thì họ cũng vẫn là người dạy dỗ có uy tín và nghiêm khắc, đưa ra những nguyên
tắc nhất định và ngăn chặn mọi lệch lạc vi phạm những nguyên tắc đó. Mặt
khác, GV thường xuyên đánh giá công việc của trẻ. Chính vì vậy, đứng trước
GV trẻ thường rụt rè, ngượng nghịu và đôi lúc mất bình tĩnh.
Một trong những trở ngại của HS lớp 1 là việc kết bạn. Nhiều khi HS lớp
1 bối rối trong môi trường mới, không thể ngay một lúc làm quen được với
những trẻ khác nên các em cảm thấy cô độc.
Theo A.V.Petrovxki, để giải quyết khó khăn này cho trẻ thì người GV
phải lưu ý một số điểm sau:
12
+ Phải tìm hiểu được các đặc điểm cá nhân của từng HS, hiểu những
phẩm chất tâm lí thực sự của chúng.
+ Phải giáo dục cho trẻ lòng tin vào GV, vào những hành động của họ.
+ Phải đối xử công bằng và yêu cầu như nhau đối với mọi HS.
+ Phải ủng hộ tình bạn của những trẻ có chung hứng thú, tình bạn của
những trẻ có điều kiện bên ngoài của cuộc sống giống nhau.
A.V.Petrovxki cho rằng “trong những tháng đầu tiên của trẻ ở trường
mục đích quan trọng của công tác giáo dục là làm cho trẻ cảm thấy lớp học và
sau đó là trường học không phải là một nhóm người xa lạ với nó, mà là một tập
thể thiện ý và chu đáo của những người bạn cùng học, của những người bạn nhỏ
và lớn”[15, tr.89].
Đó là trong nhà trường, trong gia đình vị trí của trẻ cũng có sự thay đổi.
Trẻ có những trách nhiệm và quyền hạn mới. Nhiều gia đình sẵn sàng thỏa mãn
quá đầy đủ những đòi hỏi của trẻ làm cho một số trẻ bắt đầu “chiếm đoạt” vị thế
của mình, đưa mình vào trung tâm. Vì đây là nguồn nảy sinh tính vị kỉ riêng của
trẻ. Một số gia đình khác lại thờ ơ, không quan tâm đến “vai” này của trẻ trong
gia đình, không thỏa mãn được những quyền hạn tối thiểu của trẻ dẫn đến kết
quả là việc học của trẻ đạt kết quả không cao.
+ Thứ 3: Loại khó khăn này nhiều HS lớp 1 bắt đầu gặp phải vào giữa
năm học. Theo A.V.Petrovxki, biểu hiện của khó khăn này là ban đầu trẻ thích

và để thoát khỏi thực tế phũ phàng ấy, trẻ trốn vào thế giới mơ tưởng hoặc cùng
bạn bè đùa nghịch. Vậy là trẻ lại bị kỉ luật.
Theo tác giả, HS lớp 1 có khả năng thích nghi vượt qua gian khổ rất lớn
nếu ta biết khuấy động ở trẻ những tình cảm tích cực. Mặt khác, mỗi GV lớp 1
cần nhận thức được rằng mỗi HS có đặc điểm tâm lí riêng cần quan tâm đặc biệt
đến những đặc điểm riêng đó ở các em.
+ Trẻ gặp khó khăn trong quan hệ với thầy cô giáo. Ở nhà hay ở lớp mẫu
giáo đôi khi trẻ còn được bố mẹ, cô giáo có những hành động vuốt ve, quan tâm
đặc biệt. Nhưng bước vào lớp 1 là một thế giới hoàn toàn “vô hình”. Ở đây thầy
14
cô không quan tâm riêng đến ai, không hề chăm sóc vuốt ve ai. Kết quả là trẻ
vừa sợ thầy cô, vừa sợ đến trường.
+ Ở lớp 1 trẻ bắt đầu “vỡ mộng”. Bước vào lớp 1, ở trẻ có biết bao cảm
giác hân hoan, tự hào, với sự hồi hộp đón chờ một thế giới đầy hấp dẫn. Nhưng
rồi trẻ được học những điều khác xa với tưởng tượng của các em: Đó là những
chữ cái, vần, rồi dấu hỏi, dấu sắc, số 1, số 2, dấu cộng, dấu trừ… chứ không phải
là những cuộc phiêu lưu đầy kì thú của các nhân vật cổ tích. Và thế là trẻ chán.
Có những em có những biểu hiện như lơ đãng, quấy phá, từ chối đến trường
hoặc có những biểu hiện sinh lí như nhức đầu, đau bụng, nôn ọe.
Qua việc phân tích trên đây cho thấy trong tác phẩm này, tác giả đã tập
trung nêu lên những biểu hiện khó khăn của HS lớp 1 nhưng ít đề cập đến
nguyên nhân cũng như biện pháp để giải quyết khó khăn cho trẻ.
- Trong tác phẩm “Nỗi khổ của con em”, tác giả Nguyễn Khắc Viện cũng
đã đề cập đến những KKTL mà HS lớp 1 gặp phải, đó là:
+ Thử thách đầu tiên đối với trẻ lớp 1 đó là giữ kỉ luật lớp học, là ngồi yên
cả tiết, cả buổi. Biểu hiện là hết giờ học, trẻ ùa ra sân, la ó, chạy tán loạn, xô đẩy
nhau bởi các em đã phải ngồi yên đến tê cả chân.
+ Trẻ phải học một chương trình học quá nặng so với sức của chúng. Thời
gian học chiếm hầu hết thời gian của trẻ. Chúng không được chơi nên lại càng
“thèm” chơi.

Như vậy, mỗi tác giả đưa ra những KKTL của HS lớp 1 khác nhau nhưng
có thể phân thành các loại như sau:
- Khó khăn thích ứng với cuộc sống nhà trường.
- Khó khăn khi chuyển dạng hoạt động chủ đạo.
- Khó khăn trong giao tiếp
- Khó khăn trong khi tham gia các hoạt động tập thể.
- Khó khăn khi tham gia các hoạt động lao động.
- Khó khăn khi tham gia các hoạt động vui chơi.
Đây chính là cơ sở của việc nghiên cứu thực trạng của đề tài.

16
1.4. Đặc điểm tâm lý của học sinh đầu lớp 1
Sáu tuổi vào lớp 1, trong cơ thể của trẻ diễn ra nhiều sự biến đổi cả về mặt
tâm lý và sinh lý. Theo tác giả A.V.Petrovxki thì những biến đổi về mặt sinh lý
của trẻ 6 tuổi là “diễn ra sự kiện toàn đáng kể trong hệ thống cơ – xương, hoạt
động tim mạch trở nên tương đối ổn định, các quá trình thần kinh hưng phấn và
ức chế cân bằng nhiều hơn. Tất cả điều đó cực kỳ quan trọng vì rằng, khởi đầu
của hoạt động học tập đặc biệt phải đòi hỏi trẻ phải có sức chịu đựng lớn về thể
lực” [15, tr.87]. Có thể nói đây là những cơ sở sinh lí để trẻ sẵn sàng vào lớp 1.
1.4.1. Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 1
a. Tri giác
- Tri giác của HS lớp 1 mang tính tổng thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang
tính không chủ động. Mặc dù trẻ em đến trường đã có quá trình tri giác khá phát
triển song tri giác trong hoạt động học tập chỉ diễn ra ở mức nhận biết và gọi tên
hình dạng, màu sắc.
- Tri giác của HS lớp 1 gắn với hành động và hoạt động thực tiễn của trẻ.
Những gì trẻ được sờ mó, cầm nắm trực tiếp thì các em sẽ tri giác tốt hơn.
- Trẻ tri giác về thời gian, không gian còn hạn chế. Trẻ lớp 1 có khuynh
hướng kéo dài thời gian ngắn và rút ngắn thời gian dài. Những thời gian dài như
ngày xưa, thế kỷ… trẻ không tri giác được.

quan hệ nhân quả. Từ nguyên nhân trẻ có thể suy ra được kết quả song từ kết
quả trẻ khó hoặc không suy ra được nguyên nhân.
+ Khi phân loại và phân hạng các sự vật, hiện tượng, học sinh lớp 1
thường dựa vào các dấu hiệu bên ngoài như màu sắc, hình dáng, kích thước…
mà chưa biết dựa vào các dấu hiệu bên trong.
+ Trong phán đoán và suy luận trẻ thường chỉ dựa vào những dấu hiệu
duy nhất nên phán đoán của các em mang tính khẳng định. Trong suy luận, các
em thường khó chấp nhận giả thuyết “nếu”.
+ Các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, trừu tượng hoá, khái quát
hoá… được trẻ tiến hành chủ yếu bằng hành động thực tế, bằng việc dựa vào các
dấu hiệu bên ngoài.

18
d. Tưởng tượng
- Tưởng tượng của trẻ lớp 1 chủ yếu là tưởng tượng tái tạo. Những hình
ảnh được tái tại lại gần đúng đối tượng thực nhưng chi tiết trong các hình ảnh
thường nghèo nàn, tản mạn và chưa hợp lý.
- Tưởng tượng của HS lớp 1 còn chủ yếu dựa vào hình ảnh các sự vật,
hiện tượng cụ thể, chưa biết sáng tạo và khái quát trong tưởng tượng.
e. Ngôn ngữ
- Ngôn ngữ của HS tiểu học phát triển mạnh cả về ngữ âm, từ vựng và
ngữ pháp. Vốn từ của trẻ được tăng lên rõ rệt do học nhiều môn học, giao tiếp
nhiều hơn. Tuy nhiên khả năng hiểu nghĩa từ của HS còn hạn chế.
- Ở HS lớp 1, một loại ngôn ngữ mới dược hình thành tuy nó còn nghèo
nàn hơn ngôn ngữ nói. Đó là ngôn ngữ Việt.
- Kĩ năng đọc của trẻ được hoàn thiện dần. Tuy nhiên, ở HS lớp 1, khả
năng đọc diễn cảm còn hạn chế, đọc hiểu vẫn là điều khó đối với trẻ.
g. Chú ý
- Khi đến trường trẻ em còn chưa có sự chú ý có mục đích. Chúng chủ
yếu chú ý đến những gì mà chúng trực tiếp thấy thú vị, đến cái gì nổi bật nhờ

vậy mà hành vi của trẻ lớp 1 thường mang tính tự phát.
- Học sinh lớp 1 rất cả tin: Các em tin vào sách vở, vào người lớn, vào bản
thân mình. Niềm tin này còn cảm tính, chưa có lý trí soi sáng.
- Một nét tính cách khác của HS lớp 1 là các em rất hồn nhiên: hồn nhiên
trong quan hệ với thầy cô, bạn bè, với người lớn. Các em nghĩ rằng mọi cái đều
dễ dàng và đơn giản, nhìn cuộc sống với thái độ lạc quan,
- Học sinh lớp 1 còn có rất nhiều đức tính tốt như ham hiểu biết, lòng
thương người, vị tha…
- Một đặc điểm nữa cần lưu ý trong tính cách của HS lớp 1 đó là tính bắt
chước. Các em dễ dàng bắt chước người lớn, thầy cô, bạn bè, các nhân vật trong
phim… Đây thực sự là “một con dao hai lưỡi” bởi các em bắt chước cái tốt cũng
lắm mà cái xấu cũng không phải là ít. 20
c. Tự ý thức – tự đánh giá
- Ở học sinh lớp 1 các biểu tượng về bản thân thường không đầy đủ,
không ổn định và dựa theo nhận xét của người ngoài.
- Trong học tập, muốn cho công việc hoàn hảo thì phải thực hiện một kiểu
hành động là hành động kiểm tra. Thoạt đầu, việc kiểm tra thuộc về giáo viên.
Dần dần trẻ tự mình đối chiếu kết quả của những hành động của mình với mẫu,
phát hiện và điều chỉnh những sai lệch. Ở trẻ xuất hiện năng lực tự kiểm tra.
Cùng với việc hình thành sự tự kiểm tra, khả năng tự đánh giá cũng hình thành ở
học sinh. Trẻ thường đánh giá hành vi của mình thông qua các tình huống cụ
thể, đánh giá dựa vào nhận xét của cô giáo.
d. Mối quan hệ liên nhân cách
- Trong quan hệ với bạn bè: Đối với HS lớp 1, mỗi quan hệ giữa các em
phần lớn được giải quyết bởi giáo viên thông qua việc tổ chức các hoạt động cho
trẻ. Ở tuổi này đã hình thành các nhóm bạn trong tập thể HS. Cơ sở để thành lập
nhóm chủ yếu dựa trên các dấu hiệu bề ngoài như ở gần nhà nhau, cùng học mẫu

được mục đích đã định.
- Tính độc lập, kiềm chế và tự chủ ở HS lớp 1 còn kém cho nên các em ít
tự mình giải quyết sự việc mà thường là chờ đợi sự giúp đỡ của người khác.
- Tính bột phát và ngẫu nhiên vẫn còn trong hành động của học sinh.
Đây là một trong những nguyên nhân làm cho HS thường rời bỏ mục đích
chính của mình.
Những phân tích trên cho thấy HS lớp 1 có một số đặc điểm tâm lí giống
như đặc điểm tâm lí ở lúa tuổi mẫu giáo. Bên cạnh đó có đặc điểm đặc trưng
(cấu tạo tâm lí mới) của lứa tuổi như khả năng quan sát, ghi nhớ ý nghĩa. Các
đặc điểm đặc trưng này chỉ được hình thành rõ nét khi người giáo viên giúp trẻ
khắc phục được các khó khăn tâm lí trong hoạt động của nhà trường tiểu học mà
chủ đạo là hoạt động học.
1.4.3. Tâm lí sẵn sàng đi học của trẻ vào lớp 1
Lớp 1 là lớp đầu tiên trong cuộc đời đi học ở trường phổ thông của học
sinh. Xét về mặt tâm lí học, ở đây có sự thay đổi hoạt động chủ đạo của trẻ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status