ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÀM VĂN PHÚC
Tên đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN XÃ DANH SỸ
- HUYỆN THẠCH AN - TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2011- 2015 Thái Nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÀM VĂN PHÚC
Tên đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN XÃ DANH SỸ
Cao Bằng”.
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ
động viên của nhiều cá nhân và tập thể. Tôi xin trân trọng cảm ơn sự đóng
góp của các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế & PTNT. Đặc biệt tôi xin bày tỏ
lòng biết ơn tới thầy giáo Vũ Đức Hải đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này.
Xin cảm ơn các cán bộ, nhân viên UBND xã Danh Sỹ, cùng bạn bè và
gia đình đã giúp đỡ động viên tôi hoàn thành đề tài này.
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên bản thân
báo cáo khóa luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong
nhận được sự góp ý, phê bình của thầy cô và các bạn đồng nghiệp để bản báo
cáo đề tài nghiên cứu khoa học được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, tháng 6 năm 2015
Sinh viên
Đàm Văn Phúc ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1. Hiện trạng sử dụng đất tại xã Danh Sỹ 25
Bảng 4.2. Hiện trạng về dân số, lao động xã Danh Sỹ 31
Bảng 4.3. Tình hình quy hoạch tại xã Danh Sỹ 31
Bảng 4.4. Hiện trạng đường giao thông của xã Danh Sỹ 32
Bảng 4.5. Hiện trạng về thủy lợi, điện và trường học tại xã Danh Sỹ 34
Bảng 4.6. Hiện trạng về cơ sở vật chất văn hóa, chợ, bưu điện, 37
nhà ở dân cư tại xã Danh Sỹ 37
Bảng 4.7. Hiện trạng kinh tế và tổ chức sản xuất tại xã Danh Sỹ 39
GTVT
: Giao thông vận tải
HTX
: Hợp tác xã
HĐND
: Hội đồng nhân dân
KH
: Kế Hoạch
KHKT
: Khoa học kỹ thuật
NTM
: Nông thôn mới
PTNT
: Phát triển nông thôn
QĐ-TTg
: Quyết định thủ tướng
SX-KD
: Sản xuất kinh doanh
THCS
: Trung học cơ sở
TƯ
: Trung ương
TTATGT
: Trật tự an toàn giao thông
UBND
: Uỷ ban nhân dân
VH-TT-DL
: Văn hoá - Thể thao - Du lịch
XDNTM
: Xây dựng nông thôn mới
v
3.3.2. Phương pháp xử lý thông tin 22
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
4.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 23
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 23
4.1.2. Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội 26
4.2. Thực trạng nông thôn tại xã Danh Sỹ theo 19 tiêu chí XDNTM 31
4.2.1. Thực trạng Quy hoạch tại xã Danh Sỹ, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng 31
4.2.2. Hạ tầng kinh tế - xã hội 32
4.2.3. Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất 39
4.2.4. Văn hóa - xã hội - môi trường 41
4.2.5. Hệ thống chính trị, an ninh trật tự của xã 43
4.2.6. Đánh giá của cán bộ xã và người dân về việc xây dựng nông thôn mới 44
4.3. Đánh giá chung và định hướng về XDNTM của xã 55
4.3.1. Đánh giá chung về công tác XDNTM tại xã 55
4.3.2. Định hướng về XDNTM của xã 56
4.3.3. Giải pháp hỗ trợ người nghèo về nhà ở 57
4.3.4. Giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo 57
4.3.5. Giải pháp phát triển kinh tế 57
4.3.6. Giải pháp phát triển các hình thức tổ chức sản xuất 58
4.3.7. Giải pháp về văn hóa – Môi trường 58
4.3.8. Giải pháp củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức trong hệ thống
chính trị cơ sở, giữ gìn an ninh trật tự 59
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
5.1. Kết luận 61
5.2. Kiến nghị 62
5.2.1. Kiến nghị đối với các cấp chính quyền 62
5.2.2. Đối với người dân 64
“ tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông
thôn theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, gắn với phát triển kinh tế
với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông thôn 2
với thành thị giữa các vùng, miền góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội,
phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ an ninh quốc phòng”.
Xã Danh Sỹ là một xã nằm ở phía Đông của huyện Thạch An, cách trung
tâm thành phố Cao Bằng khoảng 45km. Danh Sỹ là xã vùng 3 của huyện
Thạch An sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất chính. Trong những năm
qua xã đã đẩy mạnh các chương trình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
như chương trình bê tông hóa kênh mương, làm đường giao thông liên xóm,
xây dựng trường học, trạm y tế và các thiết chế văn hóa, thể dục thể thao,
chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng vật nuôi, phát triển các làng nghề…theo
hướng xây dựng nông thôn mới. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng kết quả
đạt được vẫn còn khiêm tốn, cơ sở hạ tầng của xã còn nhiều bất cập và xây
dựng thiếu quy hoạch Danh Sỹ vẫn là một xã nghèo, kinh tế của xã vẫn là
thuần nông, sản xuất hàng hóa chưa phát triển, đời sống của nhân dân còn hết
sức khó khăn.
Xây dựng mô hình nông thôn mới cấp xã phát triển theo quy hoạch là
gắn nông nghiệp với phát triển nhanh tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ bền
vững. kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn
được cải thiện, hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển, bản sắc văn hóa được bảo
tồn và phát huy, môi trường sinh thái nông thôn xanh - sạch - đẹp, chất lượng
hệ thống chính trị cơ sở được nâng cao.
Xuất phát từ những thực trạng trên em tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Thực
trạng và một số giải pháp xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Danh Sỹ -
huyện Thạch An - tỉnh Cao Bằng” để làm đề tài tốt nghiệp.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Các khái niệm về nông thôn
- Khái niện nông thôn
Cho đến nay. Có thể nói chưa có định nghĩa nào chuẩn xác và được chấp
nhận một cách rộng rãi về nông thôn, có rất nhiều quan điểm khác nhau về
nông thôn, và khi nói về nông thôn người ta thường đặt nó trong mối tương
quan với đô thị.
Trong từ điển tiếng việt của Viện Ngôn Ngữ học, nông thôn dược định
nghĩa là khu vực tập trung chủ yếu dân cư làm nghề nông nghiệp. Thành thị
được định nghĩa là khu vực dân cư làm các ngành nghề ngoài nông nghiệp.
Hai định nghĩa nêu trên mới chỉ nói lên một số đặc điểm cơ bản khác
nhau giữa nông thôn và thành thị.
Thực tế sự khác nhau giữa nông thôn và thành thị không phải chỉ ở đặc
điểm nghề nghiệp của dân cư, mà còn khác nhau về mặt tự nhiên, kinh tế và
xã hội.
Về tự nhiên, nông thôn là vùng đất đai rộng lớn, thường bao quanh các
đô thị. Những vùng đất đai này khác nhau về địa hình, khí hậu, thủy văn…
Về kinh tế, nông thôn chủ yếu là nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp).
cơ sở hạ tầng nông thôn lạc hậu, thấp kém hơn đô thị. Trình độ phát triển cơ
sở vật chất kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa…cũng kém hơn thành thị.
Về xã hội, trình độ học vấn, điều kiện cho giáo dục, y tế, đời sống vật
chất, tinh thần của dân cư nông thôn thấp hơn dân cư thành thị. Tuy nhiên
những di sản văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền ở nông thôn lại thường
phong phú hơn thành thị.[3] 5
chung của đất nước.
Như vậy, có rất nhiều quan điểm khái niện về phát triển nông thôn.
Trong điều kiện của Việt Nam, tổng hợp các quan điểm từ các chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của chính phủ, thuật ngữ này có thể hiểu như sau: “Phát
tiển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh
tế, văn hóa, xã hội và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của
người dân nông thôn . Quá tr
́
nh này , trước hết là do chính người dân nông
thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác”.[5]
2.1.2. Các vấn đề nông thôn hiện nay
Nói đến các vấn đề trong nông thôn là vấn đề không bao giờ lỗi thời ở
Việt Nam. Trước để hiểu được các vấn đề nóng, bức xúc ở nông thôn thì
trước tiên ta phải hiểu được những đặc trưng ở vùng nông thôn.
2.1.2.1. Đặc trưng của vùng nông thôn
Nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng dân cư bao
gồm chủ yếu là nông dân, là vùng chủ yếu sản xuất nông nghiệp. Các hoạt
động sản xuất và dịch vụ chủ yếu phục vụ cho nông nghiệp, cho cộng đồng
nông thôn. Mật độ dân cư nông thôn thấp hơn so với thành thị.
Nông thôn có cơ cấu hạ tầng, có trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản
xuất hàng hóa thấp hơn so với thành thị. Nông thôn chịu sức hút của thành thị
về nhiều mặt, dân nông thôn t
́
m cách di chuyển lên thành thị.
Nông thôn là vùng có tr
́
nh đ ộ văn hóa, khoa học và kỹ thuật thấp hơn so
với thành thị, và trong chừng mực nào đó mức độ dân chủ, tự do và công bằng
xã hội cũng thấp hơn đô thị. Thu nhập, đời sống vật chất tinh thần của vùng
nông thôn thấp hơn so với thành thị.
Mức độ giảm nghèo chung của Việt Nam tiến bộ liên tục. Tuy nhiên, xu
hướng phân hóa giàu nghèo gia tăng trong nội bộ khu vực nông thôn, đặc biệt
là giữa nông thôn với đô thị. Nhiều chuyên gia còn đưa ra con số về chênh 8
lệch giàu nghèo giữa nông thôn - thành thị lên tới trên 6,9 lần (2004) chứ
không phải con số 3,5 lần như vẫn nhắc đến.
Một vấn đề nữa là người nông dân thiếu việc làm do bị mất đất do xu thế
tích tụ ruộng đất ngay tại nông thôn và quá trình đô thị hóa và phát triển các
khu công nghiệp hiện nay (20 năm qua, 300.000 héc-ta đất nông nghiệp bị
mất đi do quá trình này). Điều này đã làm cho vấn đề thiếu việc làm tại nông
thôn và xu hướng di dân ra thành phố để mưu sinh là không thể tránh khỏi.
Đây là xu thế của một xã hội phát triển là giảm tương đối cơ cấu của
nông nghiệp trong nền kinh tế, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ.
Thiếu hụt nhất ở khu vực này là tri thức và thông tin khoa học hiện đại
không được chuyển giao một cách có hệ thống. Người nông dân thiếu kiến
thức, nên khó chuyển giao được khoa học công nghệ để họ thực sự làm chủ.
Điều này tiếp tục đặt họ và thế bất lợi hơn nữa.
Một thách thức to lớn nữa của khu vực nông thôn là sức ép trong chi tiêu
cho giáo dục, áp lực của tình trạng gia tăng ô nhiễm và suy thoái môi trường
đến mức báo động. Làng nghề và các khu công nghiệp nông thôn gây ô nhiễm
đất, nước và không khí rất nặng, làm suy thoái tài nguyên môi trường do khai
thác tự phát, không theo quan điểm phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Khu
vực đô thị - công nghiệp là nguồn gây ô nhiễm và suy thoái môi trường nặng
nề hơn và cư dân ven đô lại là những người trực tiếp chịu hậu quả.
Kết cấu hạ tầng nông thôn còn yếu kém chưa đáp ứng được nhiều tiềm
năng phát triển ở nông thôn, đời sống và sản xuất còn gặp nhiều khó khăn.
Đặc biệt là giao thông nông thôn gây cản trở lớn cho sản xuất, kinh doanh ở
nông thôn. Các dịch vụ y tế ở một số vùng nông thôn chưa được quan tâm,
+ Tỉ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt
chuẩn theo cấp kĩ thuật của Bộ GTVT: Đạt 100%
+ Tỉ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kĩ
thuật của Bộ GTVT: Đạt (50% cứng hóa) 10
+ Tỉ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa: Đạt
100% (50% cứng hóa)
+ Tỉ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại
thuận tiện: Đạt 50%
-Tiêu chí thứ 3: Thủy lợi
+ Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh: Đạt
+ Tỉ lệ km kênh mương do xã quản lí được kiên cố hóa: Đạt từ 65% trở lên
-Tiêu chí thứ 4: Điện nông thôn
+ Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kĩ thuật của ngành điện: Đạt
+ Tỉ hệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn: Đạt từ 95%
trở lên
-Tiêu chí thứ 5: Trường học
+ Tỉ lệ trường học các cấp mầm non, mẫu giáo, tiểu học, THCS có cơ sở
vật chất đạt chuẩn quốc gia: Đạt 70%
-Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất văn hóa
+ Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ VH- TT- DL: Đạt
+ Tỉ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao đạt quy định của Bộ VH-TT-
DL: Đạt 100%
-Tiêu chí thứ 7: Chợ nông thôn
Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng: Đạt
-Tiêu chí thứ 8: Bưu điện
+ Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông: Đạt
+ Có internet đến thôn: Đạt
+ Tỉ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn Quốc gia: Đạt
từ 90% trở lên
+ Các cơ sở sản xuất – kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường 12
+ Không có các hoạt động suy giảm môi trường và các hoạt động phát
triển môi trường xanh sạch đẹp.
+ Nghĩa trang được xây dựng đúng quy định.
+ Nước thải và chất thải được thu gom và xử lý theo quy định.
-Tiêu chí thứ 18: Hệ thống tổ chức chính trị, xã hội vững mạnh
+ Cán bộ đạt chuẩn
+ Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị theo quy định.
+ Đảng bộ, chính quyền xã đều đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”
+ Các tổ chức đoàn thể trong xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên.
-Tiêu chí thứ 19: An ninh trật tự xã hội
An ninh trật tự xã hội được giữ vững: Đạt.
2.1.4. Các căn cứ để xây dựng nông thôn mới
- Nghị quyết 26/TƯ về nông nghiệp ngày 5/8/2008 của Ban Chấp hành
Trung ương Khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.[20]
- Thông báo 238-TB/TƯ ngày 7/4/2009 của Ban Bí thư về chương trình
xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh CNH –
HĐH.[20]
- Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính
phủ về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.[11]
- Quyết định số 193/QĐ- TTg ngày 02/02/2010 của Thủ tướng chính phủ
phê duyệt rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới.[19]
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng chính phủ
phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới.[11]
- Thực hiện văn bản số 1416/BNN – KTHT ngày 27/05/2009 của Bộ
hoàn thiện hệ thống nước thải sinh hoạt, xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng,
trồng thêm cây xanh và xây dựng sân chơi cho trẻ em… Cải thiện môi trường
sống cho người dân nông thôn được coi là nền tảng cho quá trình phát triển 14
nông thôn. Chính phủ đã liên tục điều chỉnh chính sách hỗ trợ phát triển phù
hợp với tình hình thực tiễn.
Bốn mục tiêu trụ cột của chương trình “Nông thôn mới” ở Hàn Quốc là:
- Tăng thu nhập cho nông dân
- Cải thiện môi trường sống cho nông dân nông thôn
- Nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn
- Khuyến khích phát triển đời sống tinh thần và quan hệ xã hội ở nông thôn.
Các phương pháp thực hiện
- Kích thích sự tham gia của người dân bằng những lợi ích thiết thực
- Phát triển cộng đồng xã hội
- Phân cấp phân quyền quản lý và thực hiện dự án
- Tăng cường năng lực lãnh đạo của địa phương
- Phát huy dân chủ, sức sáng tạo của nhân dân.
Chính phủ Hàn Quốc đã vực dậy nông thôn bắt đầu bằng việc cải thiện dân
sinh và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Thay đổi lớn nhất là việc thay đổi vật
liệu làm nhà từ rơm rạ sang các vật liệu công nghiệp ( xi măng, tôn…).
Các nguồn năng lượng phục vụ cho sinh hoạt của dân cư nông thôn được
thay đổi theo hương hiện đại, thay bếp và gần 100% dân nông thôn được bếp
điện các giống lúa mới có năng suất cao được đưa vào sản xuất, mang lại hiệu
quả kinh tế cao.
Sự ra đời kịp thời của “Saemaulundong” vào đúng lúc nông thôn Hàn
Quốc đang trì trệ trong đói nghèo cần có sự bứt phá mạnh mẽ và những kết
quả khả quan đạt được ngay sau đó đã làm nức lòng nông dân cả nước. Tới
năm 1974, chỉ sau 4 năm phát động “Saemaulundong”, sản lượng lúa tăng đến
phương.[8]
2.2.1.3.Mô hình nông thôn mới ở Thái Lan( One Tambon one product – OTOP)
Tại Thái Lan, thông qua mô hình OVOP, Chính phủ đã xây dựng dự án cấp
quốc gia "mỗi xã, một sản phẩm" (One Tambon one Product-OTOP) nhằm tạo
ra sản phẩm mang tính đặc thù của địa phương có chất lượng, độc đáo, bán được
trên toàn cầu. Sản phẩm của OTOP được phân loại theo 4 tiêu chí:
- Có thể xuất khẩu với giá trị thương hiệu 16
- Cản xuất liên tục và nhất quán
- Tiêu chuẩn hoá, đặc biệt, mỗi sản phẩm đều có một câu chuyện
riêng.[12]
2.2.2. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
2.2.2.1. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở Cao Bằng
Cao Bằng đã triển khai thực hiện Chương trình XDNTM gần 4 năm, đã
đạt được những thành quả nhất định, như: 11 xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí
XDNTM, trong đó, 2 xã đạt 14 tiêu chí là Hưng Đạo (Thành phố), Phúc Sen
(Quảng Uyên).
Một số địa phương, cơ sở triển khai thực hiện chương trình vừa có bài
bản, vừa chủ động, sáng tạo, tập hợp được sức mạnh của quần chúng nhân
dân nên đã đạt những kết quả khá toàn diện và vững chắc, gồm các xã: Nam
Tuấn (Hòa An), Hưng Đạo (Thành phố), Đào Ngạn (Hà Quảng), Phúc Sen
(Quảng Uyên) Trong những năm qua, Văn phòng Điều phối tỉnh phối hợp
với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh tổ chức 9 hội nghị tuyên
truyền ở 9 xă, trong đó, có 3 xã điểm của tỉnh, 6 xã điểm của huyện và ngày
17/11/2014 tổ chức Hội thảo về XDNTM.
Thực tế, qua triển khai tại 3 xã điểm của tỉnh và 6 xã điểm của huyện
cho thấy, tiến độ thực hiện Chương trình XDNTM và kết quả đạt được vẫn
còn nhiều vấn đề cần phải rút kinh nghiệm, cả trong công tác chỉ đạo ở cấp
phát từ vấn đề nhận thức, người nông dân vẫn còn mơ hồ về khái niệm xây
dựng nông thôn mới, không nhận thức được vai trò quan trọng của mình trong
quá trình xây dựng nông thôn mới. Không chỉ đối với người dân, thực tế hiện
nay ở cơ sở, địa bàn trực tiếp làm chủ đầu tư xây dựng nông thôn mới, nhiều
cán bộ địa phương vẫn rất mơ hồ và lúng túng về phương pháp lãnh đạo, chỉ
đạo, hoặc chưa thực sự vào cuộc.
Theo đánh giá của Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh Tuyên
Quang, trong 129 xã thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng 18
nông thôn mới, có 4 xã đạt từ 8 - 9 tiêu chí xây dựng nông thôn mới, 37 xã đạt
từ 5 - 7 tiêu chí, 88 xã còn lại đạt dưới 5 tiêu chí. 19 tiêu chí trong xây dựng
nông thôn mới là những tiêu chí toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã
hội. Để đạt được những tiêu chí về xây dựng nông thôn mới, vấn đề quy
hoạch tổng thể là rất cần thiết, bên cạnh đó chính quyền địa phương cần xác
định rõ tiêu chí nào cần ưu tiên làm trước. Việc huy động sức dân cần được
phát huy trong mọi phong trào theo phương châm nhân dân làm, nhà nước hỗ
trợ. Có như vậy, các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới, mới đảm bảo thực
hiện một cách đồng bộ.[7]
2.2.2.3. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở Tam Phước, huyện Phú Ninh,
tỉnh Quảng Nam
Là một xã đứng vào hàng trung bình của tỉnh, khi bắt tay xây dựng
NTM, xã chưa đạt một tiêu chí nào về NTM. Sau gần 2 năm triển khai xây
dựng thí điểm mô hình NTM, với sự giúp đỡ, chỉ đạo kịp thời, có hiệu quả
của BCĐTƯ và Tổ Công tác giúp việc BCĐ; sự hỗ trợ tích cực của các cấp,
các ngành ở địa phương, đặc biệt là sự nỗ lực và quyết tâm cao của Đảng bộ,
chính quyền và nhân dân xã Tam Phước; đến cuối tháng 6 năm 2011, xã Tam
Phước đã đạt 12/19 tiêu chí NTM; 7 tiêu chí còn lại, trừ tiêu chí về tỉ lệ lao
động trong nông nghiệp mới đạt 57,9% (quy định là 35%), còn 6 tiêu chí khác