ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG THỊ LINH ĐAN Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI
XÃ BẾ TRIỀU, HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Lớp : K42 - PTNT
Khoá học : 2010 - 2014
Thái Nguyên - 2014
LỜI CẢM ƠN!
Thực tập tốt nghiệp là một khâu quan trọng trong quá trình học tập của
mỗi sinh viên nhằm hệ thống lại toàn bộ lượng kiến thức đã học, vận dụng lý
thuyết vào thực tiễn, bước đầu làm quen với những kiến thức khoa học. Qua
đó sinh viên ra trường sẽ hoàn thiện hơn về kiến thức lý luận, phương pháp
làm việc, năng lực công tác nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của công việc
sau này.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của ban giám
hiệu, ban chủ nhiệm khoa kinh tế và phát triển nông thôn - trường đại học
Nông Lâm Thái Nguyên phân công em về thực tập tại xã Bế Triều - huyện
Hòa An - tỉnh Cao Bằng. Có được kết quả này em xin bày tỏ lòng biết ơn
chân thành và sâu sắc đến ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa và
đặc biệt là thầy giáo PGS.TS. Dương Văn Sơn là người trực tiếp hướng dẫn
bài khóa luận tốt nghiệp của em.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các bác, các chú, các cô, các anh, các chị
đang công tác và làm việc tại UBND xã Bế Triều, đặc biệt là ban chỉ đạo điều
hành nông thôn mới đã tạo điều kiện cho em tìm hiểu công tác xây dựng
NTM tại địa phương. Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ của ban điều
hành NTM huyện Hòa An đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập.
Trong quá trình thực hiện khóa luận, mặc dù em đã cố gắng rất nhiều
nhưng do trình độ còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót.
Em rất mong nhận được những ý kiến chỉ bảo của các thầy, các cô, ý kiến
đóng góp của bạn bè để bài khoá luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.
Bảng 4.9: Tình hình về điện của xã Bế Triều năm 2013 46
Bảng 4.10: Tình hình xây dựng Trường học của xã Bế Triều năm 2013 47
Bảng 4.11: Cơ sở vật chất văn hóa năm 2013 48
Bảng 4.12: Chợ nông thôn năm 2013 49
Bảng 4.13: Về bưu điện năm 2013 50
Bảng 4.14: Nhà ở dân cư của xã Bế Triều năm 2013 51
Bảng 4.15: Thu nhập BQ đầu người của xã Bế Triều năm 2013 52
Bảng 4.16: Hộ nghèo của xã Bế Triều năm 2013 52
Bảng 4.17: Cơ cấu lao động của xã Bế Triều năm 2013 52
Bảng 4.18: Hình thức tổ chức sản xuất của xã Bế Triều năm 2013 53
Bảng 4.19: Về giáo dục của xã Bế Triều năm 2013 54
Bảng 4.20: Y tế của xã Bế Triều năm 2013 55
Bảng 4.21: Về văn hóa của xã Bế Triều năm 2013 55
Bảng 4.22: Môi trường của xã Bế Triều năm 2013 56
Bảng 4.23: Hệ thống tổ chức chính trị của xã Bế Triều năm 2013. 59
CSXH Chính sách xã hội
GDCĐ Giáo dục cộng đồng
GTVT Giao thông vận tải
HĐND Hội đồng nhân dân
HTX Hợp tác xã
KH& CN Khoa học và công nghệ
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
KHKT Khoa học kỹ thuật
MHNTM Mô hình nông thôn mới
MTQG Mục tiêu quốc gia
NTM Nông thôn mới
PTNT Phát triển nông thôn
SWOT Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức
SX-KD Sản xuất- kinh doanh
TDMNPB Trung du miền núi phía bắc
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
TW Trung ương
UBND Uỷ ban nhân dân
VH-TT-DL Văn hóa thể thao du lịch
XĐGN Xoá đói, giảm nghèo
MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
NGHIÊN CỨU 27
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 27
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 27
3.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 27
3.2.1. Nội dung nghiên cứu 27
3.2.2. Phương pháp nghiên cứu 27Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1. Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 30
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 30
4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 34
4.2. Đánh giá tình hình thực hiện các tiêu chí xây dựng mô hình nông thôn
mới tại xã Bế triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng 42
4.2.1. Quy hoạch 42
4.2.2. Hạ tầng kinh tế - xã hội 43
4.2.3. Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất 51
của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, nhưng trước hết phải xuất phát từ lợi ích của nông dân, phát
huy vai trò của giai cấp nông dân, tạo điều kiện thuận lợi giúp nông dân nâng
cao trình độ mọi mặt, có đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao.
Trong những năm qua nhiều chương trình, dự án đã được thực hiện,
như chương trình giống, chương trình khoa học công nghệ, chương trình
khuyến nông, chương trình 135 hay chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói
giảm nghèo và việc làm. Tuy nhiên những chương trình hay dự án này chỉ
mới giải quyết được một số riêng rẽ (như cơ sở hạ tầng, môi trường) hoặc
nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo cho những vùng đặc biệt khó khăn, vùng
nghèo. Tuy nhiên việc triển khai thực hiện còn chậm trễ do bị ràng buộc bởi
những cơ chế, chính sách và năng lực của đội ngũ các cán bộ cơ sở còn hạn
chế trong việc phát triển nông thôn văn minh, hiện đại.
Để góp phần khắc phục một cách cơ bản tình trạng trên, đưa Nghị quyết
của Đảng về nông thôn đi vào cuộc sống, một trong những việc cần làm trong
giai đoạn này là xây dựng mô hình nông thôn mới đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và hội nhập nền kinh tế thế
giới. Vì vậy từ năm 2001- 2006 cả nước đã triển khai đề án thí điểm “mô hình
nông thôn mới cấp xã theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ
hóa”. Chính sách xây dựng mô hình nông thôn mới đang được diễn ra mạnh
mẽ trong phạm vi cả nước, xã Bế Triều thuộc huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng
cũng đang có những bước đầu bắt tay vào xây dựng mô hình nông thôn mới.
2
Xã Bế Triều là một xã miền núi với nhiều tiềm năng để xây dựng thành công
chương trình NTM. Tuy nhiên, cũng như nhiều địa phương khác đang xây
dựng chương trình NTM, xã Bế Triều còn gặp nhiều khó khăn: Xuất phát
điểm thấp còn nhiều tiêu chí NTM chưa đạt được, nguồn lực hạn chế, tổ chức
thực hiện còn gặp nhiều lúng túng, sự tham gia của người dân còn hạn chế,
Do đó, chương trình xây dựng NTM ở địa phương diễn ra chậm chạp, thiếu
thống nhất, hiệu quả thực hiện chương trình chưa cao.
- Có cái nhìn tổng thể về công tác xây dựng phát triển nông thôn mới
trên địa bàn xã, góp phần hoàn thiện những lí luận và phương pháp nhằm đẩy
mạnh và phát triển kinh tế xã hội nông thôn trong giai đoạn CNH - HĐH nông
thôn hiện nay.
- Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho trường, khoa, các
cơ quan trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để chính quyền địa phương xã
Bế Triều, huyện Hòa An và các cơ quan ban ngành tỉnh tỉnh Cao Bằng, các
nhà hoạch định chính sách, các tổ chức cá nhân đầu tư trong và ngoài nước
định hướng, đưa ra chính sách phát triển mô hình xây dựng nông thôn mới tại
xã và các địa phương khác có điều kiện tương đồng.
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Một số khái niệm liên quan
Để có thể đánh giá, tìm hiểu về thực trạng nông thôn mới, chúng ta cần
phải nắm rõ các khái niệm về nông thôn, phát triển nông thôn, phát triển nông
thôn bền vững, phát triển nông thôn có tính toàn diện và chương trình nông
thôn mới sau:
2.1.1.1. Nông thôn
Cho đến nay, chưa có một định nghĩa chuẩn xác nào được chấp nhận
một cách rộng rãi về nông thôn. Khi nói về nông thôn, thường thì người ta
hay so sánh nông thôn với thành thị. Có ý kiến cho rằng dùng chỉ tiêu dân số,
mật độ dân cư để phân biệt nông thôn với đô thị. Có ý kiến đưa ra chỉ tiêu về
trình độ kết cấu hạ tầng, chỉ tiêu về phát triển sản xuất hàng hoá, lại có ý kiến
cho rằng nông thôn là vùng mà ở đấy chủ yếu làm nông nghiệp. Tất cả những
ý kiến trên đều đúng những chưa đầy đủ. Nếu dùng những chỉ tiêu riêng lẻ thì
Phát triển theo quan niệm chung nhất thì nó là việc nâng cao các chuẩn
mực sống, cải thiện các điều kiện giáo dục, sức khoẻ, sự bình đẳng về các cơ
hội, đảm bảo các quyền về chính trị, công dân (Mai Thu Cúc và cs, 2005)[5]
PTNT là một phạm trù rộng lớn được nhìn nhận với nhiều quan điểm
khác nhau. Đã có nghiên cứu và áp dụng thuật ngữ này ở nhiều nước trên thế
giới. Ở Việt Nam thuật ngữ này được đề cập và có sự thay đổi lớn về nhận
thức qua các thời kỳ. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa có sự tổng hợp lý luận về
PTNT. Nhiều tổ chức phát triển trên thế giới đã nghiên cứu và vận dụng thuật
ngữ này ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.
Các chuyên gia Ngân Hàng thế giới đã đưa ra quan niệm về PTNT:
“ Phát triển nông thôn là một chiến lược vạch ra nhằm cải thiện đời
sống kinh tế - xã hội của một bộ phận dân cư tụt hậu, đặc biệt là ở các vùng
nông thôn. Nó đòi hỏi phải mở rộng các lợi ích của sự phát triển đến những
người nghèo nhất trong số những người đang tìm kế sinh nhai ở các vùng
nông thôn”.
6
Ở Việt Nam chúng ta đã và đang có những suy nghĩ xây dựng mục tiêu
và chương trình hành động cho sự phát triển của từng vùng, từng địa phương
và trên toàn quốc. Những thành tựu đạt được trong sự đổi mới và phát triển
đất nước những năm vừa qua làm cho bộ mặt nông thôn có nhiều biến đổi.
Kết cấu hạ tầng được đầu tư cải tạo hoàn thiện hơn, những tiến bộ khoa học
kỹ thuật được đưa vào sản xuất làm tăng năng suất cây trồng, vật nuôi và giá
trị sản lượng nông nghiệp, tăng trưởng kinh tế và mức thu nhập bình quân đầu
người, môi trường sống đang được dần được cải thiện.
Tổng hợp các quan điểm từ các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của Chính phủ, thuật ngữ này có thể được hiểu như sau: “Phát triển nông thôn
là quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hoá
và môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn.
Quá trình này trước hết là do chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích
cực của nhà nước và các tổ chức khác”.
Một định nghĩa khác về phát triển bền vững là “Phát triển tạo ra dòng
chảy liên tục các lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường. Đó là cơ sở bền vững
trong phát triển nông thôn”. Trong bối cảnh PTNT, bền vững không chỉ là vấn
đề tôn trọng môi trường mà nó còn liên quan đến bốn trụ cột của PTNT đó là:
con người, kinh tế, môi trường và các tổ chức.
Những nguyên tắc nhằm đạt được phát triển bền vững đối với phát triển
con người trong PTNT:
- Dân chủ và an toàn.
- Bình đẳng và công bằng xã hội.
- Bền vững chất lượng cuộc sống cho người dân.
- Tôn trọng quá khứ của tổ tiên và quyền lợi của thế hệ mai sau.
Những nguyên tắc nhằm đạt được sự phát triển bền vững đối với phát
triển kinh tế trong PTNT:
- Tăng cường sự đa dạng hoá nền kinh tế nông thôn.
- Đảm bảo cho người dân có lợi từ các hoạt động của địa phương họ.
- Tránh gây ảnh hưởng xấu đến các khu vực khác trong nền kinh tế
quốc dân và các khu vực trên lãnh thổ địa lý.
- Thúc đẩy phồn vinh lâu dài hơn là chú trọng lợi ích trước mắt.
Những nguyên tắc nhằm đạt được phát triển bền vững đối với phát triển
môi trường trong PTNT:
8
- Tôn trọng tài nguyên và tính vẹn toàn của môi trường.
- Giảm thiểu sử dụng tài nguyên không có khả năng tái tạo lại.
- Sử dụng tài nguyên thiên nhiên với tốc độ không nhanh hơn tốc độ tái
tạo của tài nguyên thiên nhiên.
- Sử dụng nguồn tài nguyên và không gây ô nhiễm, ảnh hưởng tới
môi trường.
- Những nguyên tắc đạt được phát triển bền vững đối với sự phát triển
của các tổ chức trong PTNT:
- Nâng cao năng lực của các tổ chức phù hợp với mức độ phát triển
nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng trên cơ
sở nông thôn cũ (truyền thống, đã có) nhưng mang tính tiên tiến về mọi mặt”
NTM trước hết là một vùng nông thôn chứ không phải đô thị. Bởi nó
vẫn mang những nét đặc trưng vốn có của nông thôn truyền thống, cả về quan
hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, cả về hình thái bên trong và bên ngoài (về
cơ sở hạ tầng, về quy hoạch bố trí nhà ở, hình thức nhà ở, đường làng ngõ
xóm… và về quan hệ xóm giềng, về phong cách sống của người dân nông
thôn). Tuy nhiên, NTM là vùng nông thôn có những nét hiện đại mà nông
thôn truyền thống không có được. Đó là việc canh tác theo kiểu hiện đại, sử
dụng các công nghệ kỹ thuật hiện đại vào trong sản xuất nông nghiệp. NTM
ngoài sản xuất nông nghiệp còn phải phát triển mạnh các ngành sản xuất công
nghiệp -TTCN và các ngành thương mại, dịch vụ, du lịch,… Ngoài sự thay
đổi về mặt kinh tế, ở vùng NTM đời sống văn hóa tinh thần của người dân
cũng được nâng cao. Quyền tự do dân chủ của người dân được phát huy cao
độ, người dân được tham gia vào quá trình lập và đề ra các quy hoạch, được
đóng góp ý kiến vào việc xây dựng và phát triển địa phương.
- Đặc điểm nông thôn mới:
Phân biệt nông thôn và nông thôn mới:
Về cơ bản nông thôn và NTM không khác nhau nhưng xét trên những
tiêu chí cụ thể thì 2 khái niệm này có nhiều điểm khác nhau. Khác với nông
thôn truyền thống, NTM là một vùng nông thôn với cơ cấu mới, mang những
nét đặc trưng của một vùng nông thôn phát triển theo hướng đô thị hóa mà biểu
hiện cụ thể đó là sự phát triển nền kinh tế theo hướng CNH-HĐH sản xuất. Ở
đó nền sản xuất không chỉ đơn thuần là sản xuất các ngành nông nghiệp mà có
10
sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du
lịch. Một vùng NTM phải đảm bảo được ít nhất các chức năng sau:
• Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại
Chức năng cơ bản của nông thôn là sản xuất dồi dào các sản phẩm nông
phụ chất lượng cao. Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp
hoàn cảnh xã hội nông thôn đặc thù. Các truyền thống văn hoá quý báu này
đòi hỏi phải được giữ gìn và phát triển trong một hoàn cảnh đặc thù. Môi
trường thành thị là nơi có tính mở cao, con người cũng có tính năng động cao,
vì thế văn hoá quê hương ở đây sẽ không còn tính kế tục. Do vậy, chỉ có nông
thôn với đặc điểm sản xuất nông nghiệp và tụ cư theo dân tộc mới là môi
trường thích hợp nhất để giữ gìn và kế tục văn hoá quê hương. Việc xây dựng
NTM nếu như phá vỡ đi các cảnh quan làng xã mang tính khu vực đã được
hình thành trong lịch sử thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài hoà vốn có của
nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn. Điều này không những hạn
chế tác dụng của chức năng nông thôn mà còn có tác dụng tiêu cực đến giữ
gìn sinh thái cảnh quan nông thôn và cảnh quan văn hoá truyền thống.
• Chức năng sinh thái
Chức năng này chính là một trong những tiêu chí quan trọng phân biệt
giữa thành thị với nông thôn. Nền văn minh nông nghiệp được hình thành từ
những tích luỹ trong suốt một quá trình lâu dài, từ khi con người thích ứng
với thiên nhiên, lợi dụng, cải tạo thiên nhiên, cho đến khi phá vỡ tự nhiên dẫn
đến phải hứng chịu các ảnh hưởng xấu và cuối cùng là tôn trọng tự nhiên.
Trong nông thôn truyền thống, con người và tự nhiên sinh sống hài hoà với
nhau, chức năng người tôn trọng tự nhiên, bảo vệ tự nhiên và hình thành nên
thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên. Quá trình công nghiệp hoá và đô thị
hoá khiến con người ngày càng xa rời tự nhiên, dẫn đến những ô nhiễm trong
môi trường nước và không khí. Xây dựng NTM phải đảm bảo giữ gìn và cải
tạo môi trường tự nhiên vốn có của nông thôn truyền thống, đồng thời làm
giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường.
2.1.2. Cơ sở lý luận
2.1.2.1. Căn cứ pháp lý xây dựng nông thôn mới
- Nghị quyết số 26 - NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung
ương Đảng khóa X “ Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”.
12
Nghị quyết 26/TQ - TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X
nông thôn hướng dẫn thực hiện Bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
13
- Quyết định số 800/QĐ - TTg, ngày 4 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn
mới giai đoạn 2010 - 2020.
- Quyết định 193/QĐ - TTg ngày 02/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới.
- Thông tư số 07/2010/TT - BNNPTNT ngày 08/02/2010 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông
nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
- Kế hoạch số 18 - KH/TU ngày 14/10/2008 của Ban chấp hành Đảng
bộ Tỉnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương
Đảng khoá X "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn".
- Kế hoạch số 435/KH - BCĐXDNTM ngày 20/9/2010 của Ban chỉ đạo
Trung ương chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới về triển
khai chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 -
2020 [11].
2.1.2.2. Sự cần thiết phải có chính sách phát triển nông thôn
- Phát triển nông thôn là lĩnh vực rất đa dạng, Nhà nước Việt Nam cần
quan tâm phát triển (thông qua các chính sách kinh tế của Chính phủ đối với
phát triển nông thôn) bởi vì i) nông sản là sản phẩm thiết yếu đối với toàn xã
hội; ii)sản xuất phát triển nông thôn thường gặp rủi ro; iii) dân số sống trong
lĩnh vực phát triển nông thôn và khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng lớn (ở
Việt Nam có khoảng 70% dân số sống bằng nghề nông, ở nông thôn). Do
vậy, sự can thiệp của Chính phủ vào nông thôn là nhằm bảo đảm lợi ích của
người sản xuất.
- Đứng trên góc độ ngành sản xuất, nông sản thường là sản phẩm đầu
tiên của một chuỗi hàng, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động ở
những hoạt động khác nhau sau thu hoạch.
- Phát triển nông thôn sản xuất ra nguyên liệu cho công nghiệp chế
đầu tư được điều chỉnh. Chỉ còn một nửa trong số 33 nghìn làng của năm
1971 tiếp tục được hỗ trợ. Nhưng Nhà nước đã tăng cường đầu tư cho các
làng này thêm một tấn thép và tăng lên 500 bao xi măng.
Để đánh giá kết quả của những chính sách này, dự án thực hiện việc
đánh giá và xếp loại các làng theo ba nhóm: Nhóm làng tích cực nhất, nhóm
trung bình và nhóm cơ bản. Bằng việc trao thưởng cho mỗi làng 2000 $ nếu
15
được thăng nhóm xếp hạng, chương trình đã tạo sư chuyển biến rõ rệt trong
việc phân loại các nhóm làng trong vòng 3 năm sau đó.
Con người là nhân tố quyết định
Để thực hiện có hiệu quả quá trình hỗ trợ cho các làng, dự án “Nông
thôn mới” chú trọng đến nhân tố con người. Trình độ văn hoá của người dân
nông thôn rất thấp cho nên việc phổ biến chính sách gặp phải không ít khó
khăn. Để khắc phục hạn chế này, dự án chú trọng vào việc phát triển đội ngũ
cán bộ cấp làng, cán bộ chính quyền địa phương.
Trước khi tiến hành hỗ trợ vào các làng, cán bộ dự án sẽ tiến hành các
điều tra xã hội học đối với ba nhóm đối tượng là: Cán bộ địa phương, cán bộ
làng và người dân. Các điều tra này cho phép cán bộ dự án biết được đích xác
nhu cầu hiện tại của các làng, suy nghĩ và trình độ nhận thức của lãnh đạo làng.
Dự án tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo cán bộ cấp làng và chính quyền
địa phương. Tại các lớp tập huấn, sẽ có các buổi thảo luận nhóm với chủ đề:
“Làm thế nào để người dân hiểu và thực hiện các chính sách của nhà nước ?”.
Với chủ đề này, lãnh đạo làng và chính quyền địa phương tham gia các lớp tập
huấn sẽ đưa ra những ý kiến, giải pháp cho hoàn cảnh cụ thể của làng mình.
Để sự tham gia của người dân chủ động và hiệu quả, các cán bộ làng sẽ
thực hiện quá trình trao đổi ý kiến với dân làng, tiếp thu ý kiến của nhân dân
để điều chỉnh và phát triển chương trình thực hiện.
Dự án Nông thôn mới trả lương cho cán bộ làng thay cho nhân dân như
trước đây, cho nên đã khuyến khích cả lãnh đạo làng lẫn nhân dân tích cực
thực hiện.
thôn được giao cho cơ quan Tái thiết Nông thôn (JCRR) thành lập năm 1948.
Quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn Đài Loan gắn liền
với chiến lược phát triển chung của kinh tế Đài Loan. Quá trình này trải qua 3
giai đoạn: 1953-1963, thực hiện chiến lược phát triển hướng nội thay thế nhập
khẩu. Nhờ đó, tạo việc làm, phát triển công nghiệp tăng mức sống dân cư,
giảm việc nhập siêu ngoại tệ. Giai đoạn 1963 - 1973 phát triển hướng ngoại,
hướng vào xuất khẩu. Thập kỷ 70 - 80 áp dụng chiến lược “chuyển đổi tăng
tốc”. Chính phủ thành lập 17 khu vực công nghiệp nông thôn để hỗ trợ phát
triển ngành thủ công và công nghiệp nông thôn. JCRR cung cấp vận dụng, hỗ
trợ công nghệ cho các dự án này, tập trung vào công nghiệp chế biến nông
17
sản. Các doanh nghiệp với sự bảo trợ của chính quyền, phối hợp với Nông hội
ký kết hợp đồng với nông dân sản xuất nguyên liệu cho các nhà máy và tiêu
thụ nông sản cho nông dân. Chế biến nông sản thực phẩm, công nghiệp dệt,
đồ may mặc, đồ da, đồ gỗ, sản phẩm thép, thiết bị máy,… phục vụ xuất khẩu
chiếm ưu thế. Chú trọng phát triển công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm;
tạo mối liên kết chặt chẽ giữa công nghiệp và nông nghiệp, hình thành mối
quan hệ hợp đồng giữa nông dân vùng nguyên liệu với nhà máy.
Đài Loan áp dụng thành công mô hình kinh tế “liên kết”. Các thành
phần kinh tế đều kết nối chặt chẽ và chia sẻ lợi ích với nhau: Nông dân - nông
hội - chính phủ; doanh nghiệp nước ngoài - doanh nghiệp vệ tinh trong nước;
nông dân - nhà máy; sản xuất tiêu thụ nội địa - xuất khẩu; công nghiệp thành
phố - kinh tế nông thôn,… Nông nghiệp không chỉ là nền tảng trong tiến trình
công nghiệp hóa, mà thực sự tham gia tích cực vào giai đoạn đầu cung cấp
lương thực, nguyên liệu cho xã hội, chuyển vốn và lao động, tích luỹ ngoại tệ
cho công nghiệp, tạo ra thị trường rộng lớn và ổn định trong nước nuôi công
nghiệp lớn lên vươn ra thế giới ( tapchicongsan.org.vn)[17].
2.2.1.3. Nhật Bản và phong trào "Mỗi làng, một sản phẩm"
Từ năm 1979, tỉnh trưởng Oita - ông Morihiko Hiramatsu đã khởi
xướng và phát triển phong trào "Mỗi làng, một sản phẩm" (One Village, one