1
PHẦN 1
TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA HUYỆN THANH CHƯƠNG
1.1. Đặc điểm tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Thanh Chương là một huyện miền núi địa hình tương đối phức tạp. Chiều dài
từ Nam đến Bắc 43 km, chiều rộng từ Đông sang Tây 23km, phía Đông giáp
huyện Đô Lương, phía Tây giáp huyện Lào, Nam giáp Nam Đàn và Hà Tĩnh,
phía Bắc giáp huyện Anh Sơn.
Thanh Chương có diện tích tự nhiên 186.204 ha; dân số 307.377 người, đứng
thứ 7 về diện tích huyện, thứ 11 về dân số. Mật độ dân số trung bình 297 người
trên km
2
(tương đôi cao so với các huyện miền núi). Huyện được chia thành 39
xã, một thị trấn và một Trại CT số 6. Thanh Chương cách thành phố Vinh 70km
về phía Đông Nam và cách quốc lộ 1A khoảng 65 km về phía Đông.
Thanh Chương là huyện trung du miên núi của tỉnh, có tiềm lực để phát triển
thành vùng chăn nuôi lớn; có diện tích đất lâm nghiệp lớn, và nhất là nhiều công
trình trọng điểm khác so với các huyện miền núi khác. Đây là nhân tố quan trọng
cho phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp đặc biệt là chăn nuôi gia súc và đẩy
nhanh tiến trình phát triển tổng đàn gia súc của tỉnh.
1.1.2. Đặc điểm địa hình
Địa hình huyện Thanh Chương có xu hướng nghiêng dần từ Bắc và Tây
Nam ra phía Đông Đông Bắc. Phía Tây hình thành dãy đồi núi hình cánh
cung chạy từ Đông Bắc xuống Tây Nam bao lấy cả một vùng trung du ở phía
Đông Đông Nam.
Dựa vào phân bố địa hình, Thanh Chương được chia làm hai vùng: vùng trung
du và vùng đồi núi phía tây.
+ Vùng trung du gồm 28 xã; độ cao bình quân so với mặt nước biển là:
+3,6 đến + 4,5m.
+ Vùng Đồi núi phía tây gồm 11 xã; là các xã phía Tây, Tây Bắc giáp với
Bão và áp thấp nhiệt đới trung bình mỗi năm 2 đến 3 cơn đổ bộ vào địa bàn
huyện. Bão kéo theo mưa to, thường xảy ra lũ quét gây nhiều thiệt hại cho sản
xuất và đời sống.
Trong nhiều yếu tố của khí hậu thời tiết có ảnh hưởng đến sản xuất và sử dụng
đất thì hạn và rét là ảnh hưởng lớn nhất, thứ đến là lũ lụt và gió bão.
Bảng 1.1. Diễn biến thời tiết thuỷ văn huyện Thanh Chương 2005 – 2009
Stt Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009
1
Nhiệt độ trung binh các
tháng trong năm (
0
C)
24,6 25 25,3 26,4 25,4
2 Số giờ nắng/năm 1.529 1.889 1.892 20.012 20.001
3 Số ngày mưa/Năm 189 152 145 151 150
4 Lượng mưa mml /Năm 3.490,9 2.698,3 3.247,3 2.449,3 1.895,2
5
Độ ẩm tương đối
trung bình
86,91 86,56 86 85,4 88,4
[Theo nguồn 1]
3
1.2. Tình hình kinh tế - xã hội
Trong thời kỳ 2001 - 2005, định hướng kinh tế phát triển của huyện với cơ cấu
Công nghiệp, Nông nghiệp, Dịch vụ. Huyện chủ trương phát triển Nông nghiệp
toàn diện và xây dựng nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tăng
nhanh khối lượng sản phẩm hàng hóa, nhất là Nông nghiệp, Lâm nghiệp; từng
bước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp,thực
hiện cơ giới hóa từng khâu công việc, mở rộng điện khí hóa, đưa công nghệ sinh
học vào sản xuất.
15 Thanh Khê 2.093 2.592
16 Thanh Thủy 2.576 2.470
17 Võ Liệt 2.333 4.820
18 Thanh Long 1.268 2.315
19 Thanh Hà 2.218 2.752
20 Thanh Tùng 2.053 2.753
21 Thanh Giang 1.123 965
22 Thanh Mai 3.147 2.335
23 Thanh Xuân 3.037 4.760
24 Thanh Lâm 2.789 2.973
25 Thanh Hưng 1.270 2.735
26 Thanh Văn 1.404 3.548
27 Thanh Phong 2.121 3.343
28 Thanh Tường 702 1.997
29 Thanh Đồng 1.083 2.208
30 Thị Trấn 408 1.708
31 Đồng Văn 1.901 3.797
32 Thanh Ngọc 2.834 3.543
33 Ngọc Sơn 2.824 3.084
34 Xuân Tường 2.209 3.393
35 Thanh Dương 1.726 3.104
36 Thanh Lương 1.849 2.362
37 Thanh Yên 1.636 3.045
38 Thanh Khai 1.118 2.370
39 Thanh Sơn 977 1.062
40 Ngọc Lâm 1.264 602
41 Trại CT số 6 168 510
Tổng cộng 81.565 108.476
[Theo nguồn 2]
5
6
nhiều kênh thông tin và nguồn tài liệu khác nhau để áp dụng vào thực tế sản xuất.
Tuy nhiên phần lớn thú y cơ sở mới có trình độ sơ cấp, trung cấp còn đại học thì
rất ít nên còn rất hạn chế trong quá trình hành nghề.
1.3.4.2. Công tác tiêm phòng cho gia súc, gia cầm
Công tác tiêm phòng được huyện chỉ đạo chặt chẽ. Kết quả tiêm phòng nhìn
chung đạt tỷ lệ khá, năm sau cao hơn năm trước và ổn định qua các năm.
Công tác tiêm phòng định kỳ một năm 2 đợt, đợt 1: tháng 3, 4. Đợt 2: tháng 7,
8 hàng năm.
1.3.4.3. Công tác kiểm dịch giết mổ
Công tác kiểm soát giết mổ được đảm bảo bởi đội ngũ thú y viên,hầu hết các
gia súc, gia cầm đều được kiểm dịch của cán bộ thú y trước khi đến tay người
tiêu dùng.
1.3.4.4. Tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi
Thanh Chương cũng là điểm giao lưu buôn bán Động vật và các sản phẩm
động vật với nhiều nơi trong và ngoài tỉnh. Chính vì vậy cơ quan thú y huyện
đặc biệt quan tâm tới công tác kiểm dịch. Năm năm qua, công tác này được
Trạm Thú Y Huyện Thanh Chương làm khá tốt chính vì vậy mà hạn chế khá
nhiều sự lây lan dịch bệnh do vận chuyển gia súc trong vùng. [Theo nguồn 4].
1.4. Nhận xét đánh giá
1.4.1. Thuận lợi
+ Toàn huyện Thanh Chương có diện tích địa hình đồi núi phức tạp nhưng
lại có nhiêu đồng cỏ tự nhiên thuận lơi cho việc chăn nuôi nên chăn nuôi là một
thế mạnh của huyện. Ngoài ra trồng trọt cũng phát triển tương đối nhanh so với
các huyện trong tỉnh Nghệ An. Trồng trọt có khả năng canh tác nhiều loại cây
trồng khác nhau, có thể áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất,
trồng cây công nghiệp,từ đó thúc đẩy ngành trồng trọt phát triển phong phú va đa
dang.
+ Bên cạnh sự phát triển của ngành trồng trọt thì ngành chăn nuôi trong
những năm qua cũng phát triển mạnh mẽ nhờ được đầu tư và nhất là công tác
được sự quan tâm đúng mức của chinh quyền, chưa có dự án nào thực sự lớn để
tận dung hết tiềm năng của huyện. Gặp nhiều khó khăn về vốn, có ít nghiên cứu
có chất lượng để đưa vào thực tiễn giúp cho người dân nâng cao năng suất trong
trồng trọt và chăn nuôi.
8
PHẦN 2
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
2.1. Đặt vấn đề
Trên thế giới, chăn nuôi lợn là ngành kinh tế lớn, nhất là các nước nông
nghiệp, thịt lợn chiếm 40% tổng lượng các loại thịt (trong đó, thịt bò chiếm 31%,
thịt cừu 6%, thịt gia cầm 23%. Chăn nuôi lợn là ngành đã có từ rất lâu đời, đó là
ngành nghề truyền thống của hàng triệu nông dân. Ngoài sản phẩm chính là cung
cấp thịt, ngành chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng lớn phân bón hữu cơ cho
ngành trồng trọt, góp phần làm tăng năng suất cây trồng.
Ở Việt Nam hiện nay chăn nuôi lợn có vị trí rất quan trọng trong ngành nông
nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng. Lợn đã cung cấp cho cả nước
một khối lượng lớn về thực phẩm, còn cho xuất khẩu và cung cấp phân bón cho
cây trồng.
Những năm trở lại đây nhờ việc áp dụng những tiến bộ mới về khoa học kỹ
thuật và thự hiên một số chính sách mới về phát triển đàn lợn lên số lượng ở
nước ta đã tăng nhanh. Tuy nhiên còn nhiều tác nhân làm hạn chế đến việc phát
triển chăn nuôi lợn, các yếu tố như tập quán chăn nuôi còn lạc hậu, trình độ dân
trí còn thấp, các cơ sở nghiên cứu còn hạn chế, đội ngũ cán bộ thú y chưa đáp
ứng được nhu cầu thực tiễn Do đó đã ảnh hưởng lớn đến dịch bệnh gây thiệt
hại rất lớn về đàn lợn làm ảnh hưởng tới nền kinh tế nông nghiệp.
Cụ thể, trong những năm gần đây, ở địa phương huyện Thanh Chương- Nghệ
An nói riêng cũng như nhiều địa phương khác trên cả nước nói chung tình hình
dịch bệnh xảy ra nhiều trên đàn lợn đã làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của
người chăn nuôi. Và một trong những bệnh quan trọng xuất hiện phổ biến mà
chúng ta cần quan tâm hiện nay đó là các bệnh sản khoa xuất hiện trên đàn lợn
với độ cao u xoang chậu, chức năng của buồng trứng là sản xuất ra tế bào sinh
dục cái (trứng), sản xuất ra một số kích dục tố (hormon) để tham gia vào việc
điều hoà chức năng sinh sản của gia súc cái.
10
- Ống dẫn trứng (Fallop): phần đầu nó loa như cái phễu hay còn gọi là loa
kèn, kích thước rất nhỏ. Chức năng của ống dẫn trứng là nơi để tế bào sinh dục
đực (tinh trùng) và tế bào sinh dục cái (trứng) gặp nhau, ống dẫn trứng có khả
năng co bóp dưới ảnh hưởng của hormon Oxytocin nhằm giúp cho tinh trùng
thuận lợi hơn trong việc thụ tinh.
- Tử cung: gồm 3 bộ phận.
+ Sừng tử cung: có kích thước khác nhau tuỳ từng loài, chức năng của nó là
nơi làm tổ và cư trú của bào thai trong quá trình mang thai.
+ Thân tử cung: có kích thước khác nhau tùy theo loài, chức năng của nó là
nơi lam tổ và cư trú của thai trong quá trình mang thai.
+ Cổ tử cung: có kích thước khác nhau tuỳ theo loài, cổ tử cung là nơi ngăn
cánh giữa bên ngoài và bên trong tử cung. Bình thường và khi gia súc mang thai,
cổ tử cung luôn đóng kín để tránh sự xâm nhập của vi khuẩn cung như tác nhân
bên ngoài tác động tới thân và sừng tử cung để bảo vệ thai nhi. Cổ tử cung chỉ
mở khi gia súc động dục và trong quá trình đẻ. Vì vậy, thông qua việc khám phá
sự đóng mở của cổ tử cung người ta có thể chẩn đoán được con vật ở giai đoạn
nào của quá trinh mang thai.
- Âm hộ: là đoạn nằm từ tiền đình đến cổ tử cung, âm đạo có 3 chức năng
chính.
+ Là chỗ đẻ chứa dương vật con đực khi giao phối.
+ Là nơi bài tiết nước tiểu.
+ Là lối ra của bào thai.
2.2.2.2. Bộ phận bên ngoài:
Gồm có hai môi âm đạo, là nơi tập trung nhiều mút thần kinh, tác dụng gây
hưng phấn sinh dục khi giao phối và khi co tác dụng bảo vệ các cơ quan bên
trong đường sinh dục cái, bình thường no khép kín lại hai môi lại để ngăn chăn
phát triển ở các giai đoạn khác nhau, trong cơ thể con vật đã có sẵn một hàm
lượng hoormon Oestrogen đã tác động lên trong khi vỏ đại não ảnh hưởng đến
Hyphothalamus.
2.2.3.2. Nhân tố ngoại cảnh
12
Nhiệt độ, ánh sáng, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, đặc biệt là Sterol tự nhiên
từ thức ăn chúng xâm nhập vào cơ thể hoặc do ảnh hưởng từ con đực thông qua
giác quan như thính giác, thị giác, xúc giác… Các kích tố này truyền thông đến
trung khu cảm giác của vỏ đại não. Vỏ đại não tiếp thu yếu tố ngoại cảnh từ nội
tại truyền đến vùng dưới đồi (Hyphothalamus). Hypothalamus tiết ra GnRH
(Ganadotropin Realising Hoormon) gồm hai thành phần FRH và LRH; ngoài ra
Hypothalamus còn tiết ra PRH (Prolactin Realising Hoormon), FRH kích thích
thuỳ trước tuyến yên tiết ra FSH (Follculin Stimalin Hoormon), FSH theo máu
tuần hoàn kích thích buồng trứng phát triển và làm trứng rụng.
Trứng chín tiết ra noãn bào tố Oestrogen , sau đó Oestrogen theo máu tuần
hoàn khắp cơ thể, tác động đến trung khu đại não làm hưng phấn sinh dục (thực
hiện các triệu chứng động dục bên ngoài), tác độnh đến đường sinh dục, làm
biến đổi bộ máy sinh dục.
LRH kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết ra FSH, FSH chỉ có tác động làm
cho noãn bào chín thành nang Graaf chứ không làm cho trứng rụng. LH cùng với
FSH kích thích sự phát triển của noãn bào và làm cho nang Graaf vỡ chín, hoạt
động của Enzym hyaluronidaza tăng lên độ phân giải acid hyaluronic trên bề mặt
noãn bào, dẫn tới bào mòn noãn, đồng thời trong noãn bào tăng dịch tiết gây ra
áp lực mạnh làm cho noãn bào vỡ và trứng rụng được giải phóng ra ngoài. Như
vậy, FSH chỉ làm cho trứng chín còn LH làm cho trứng rụng; tỷ lệ tốt nhất cho
trứng rụng là LH/FSH = 3/1. Sau khi trứng rụng sẽ hình thành nên thể vàng, thể
vàng tiết ra hoàn thể tố Progesteron. Progesteron tác động đến Hypothalamus
theo cơ chế điều hoà ngược âm tính. Lúc này là giai đoạn ức chế sinh dục, nếu
trứng được thụ thai thì thể vàng tồn tại trước khi đẻ khoảng 10 đến 12 ngày, nếu
trứng không được thụ thai thì thể vàng tồn tại trong một thời gian ngắn khoảng
, Na
+
cao làm cho độ dẫn điện tăng, điện trở âm đạo giảm
xuống thấp, thấp nhất khi lợn chịu đực và rụng trứng.
Buồng trứng có nhiều thay đổi trên bề mặt có nhiều nang trứng nổi rõ nhưng
chưa đạt tới mức độ chín hoàn toàn. Ở nái tơ thường 8 - 14 cái, ở lợn nái cơ bản
12 - 20 cái có khi hơn. Ở lúc 0h chịu đực các bao noãn to, màng bao noãn mỏng
nhưng trứng vẫn chưa rụng do vậy không nên phối vào lúc 0 giờ chịu đực. Trứng
chỉ võ sau 30 - 32 giờ kể từ lúc 0 giờ. Trứng rụng các thể vàng được hình thành
từ các nang trứng bị vỡ.
2.2.4.3.
Giai đoạn sau động dục.
Giai đoạn này kéo dài khoảng 3 - 4 ngày các dấu hiệu của hoạt động sinh dục
giảm dần. Có thể lợn cái vẫn tìm đực nhưng không cho giao phối. Âm hộ teo lại
tái nhạt. Vùng thắt âm hộ - âm đạo co bóp. Niêm mạc tiền đình âm đạo màu
trắng hơi ướt. Dịch âm đạo chứa nhiều bạch cầu và các tế bào biểu mô. Trong
buồng trứng đã có nhiều thể vàng.
14
2.2.4.4.
Giai đoạn yên lặng sinh dục.
Kéo dài 12 - 13 ngày, lợn nái yên tĩnh không có phản xạ với lợn đực. Âm hộ
teo nhỏ trắng nhạt, tử cung giảm thể tích, thể vàng giảm từ 10 mm xuống 7 - 8
mm, các bao noãn tiếp tục phát triển đến cuối giai đoạn này đạt khoảng 10 mm.
Sau giai đoạn yên lặng sinh dục lại bắt đầu sự phát triển của bao noãn và những
thay đổi đặc trưng của đường sinh dục. Điều đó chứng tỏ chu kỳ mới lại bắt đầu.
Ở những lợn nái được thụ tinh chu kỳ sinh dục dừng lại chuyển sang thời kỳ có
chửa, tiết sữa, nuôi con. Sau khi cai sữa lợn con từ sau 5 - 8 ngày chu kỳ sinh
dục lại trở lại. [Theo nguồn 5].
2.2.5. Sự hình thành và phát triển của thai
2.2.5.1. Quá trình làm tổ của hợp tử
2.2.5.2. Quá trình hình thành của thai nhi và sự đoán tuổi của thai nhi
+ Khi gia súc đẻ non cần xác định tuổi của thai nhi để tìm ra nguyên nhân, từ
đó đề ra biện pháp phòng trị, giúp ta đoán được tuổi của thai.
+ Các giống khác nhau thì có sự khác rất lớn về kích thước sủa thai nhi, ngay
trong một ổ thai có kích thước to nhỏ khác nhau, trung bình giao động trong
khoảng.
- Tháng thứ nhất: thân dài 1,6 - 1,8cm, các bộ máy trong cơ thể bắt đầu
hình thành.
- Tháng thứ hai: 35 ngày thân dài 5cm, 60 ngày thân đã dài 8cm, ngoại hình
rõ và co thể phân biệt được giới tính của thai nhi.
- Tháng thứ ba: thân dài 14 - 18cm, tại mép, đuôi đã có lông to nhỏ. Trước
khi đẻ thân dài 20 - 25cm, toàn bộ thân bao phủ bở lớp lông dày, xương sọ cứng,
đã có răng cưa và răng nanh.
Công thức tính dài thân: DT = X(X+2); trong dó DT là độ dài thân, x là số
tháng của thai. [Theo nguồn 5].
2.2.5.3. Nội tiết trong thời gian mang thai
Thai nhi phát triển được bình thường trong quá trình mang thai là do ảnh
hưởng nhịp nhàng của các kích tố buồng trứng, nhau thai và thuỳ trước tuyến
yên tiết ra một số hoormon
16
+ Thời kỳ đầu: nhau thai bắt đầu hình thành và tiết ra chất Prolan B có hoạt
tính giống như hormon LH của thuỳ trước tuyến yên. Chất này kích thích hoàn
thể tố tiết ra Progesteron làm cho niêm mạc tử cung dày lên, tạo điều kiện cho
hợp tử phát triển, làm tổ. Nhau thai còn tiết ra Progesteron và Oestrogen nên vẫn
còn hiện tượng động ở thời kỳ đầu có chửa.
+ Thời kỳ sau: thể vàng teo dần do hiện tượng Progesteron giảm dần, con lại
Oestrogen tăng đến mức tối đa, đồng thời tuyến yên tiét ra Oxytocin. Hai
hormon Progesteron và Oxytocin làm tăng co bóp của tử cung cho nên hay xảy
ra hiện tương sảy thai. [Theo nguồn 7].
2.2.5.4. Sự biến đổi cơ thể khi mang thai
- Sẩy thai do kí sinh trùng.
Nguyên phát: Roi trùng trichomonois foctus (thường kí sinh ở đường sinh
dục bò)
Thứ phát: ký sinh trùng đường máu: Biên trùng, tiên mao trùng, sán lá gan…
+ Sẩy thai không truyền nhiễm:
- Sẩy thai do ngoại thương:
Thành bụng bị kích thích mạnh.
Làm việc quá nặng nhọc.
Khám thai kỹ thuật kém.
Khi có thai vẫn cho đực nhảy hoặc thụ tinh nhân tạo.
Khi điều trị làm con vật quá đau đớn.
- Sẩy thai do triệu chứng: Có thai nhưng con vật bị bệnh đường sinh dục,
viêm mãn tĩnh, khối u tử cung, viêm âm đạo, viêm buồng trứng, rối loạn
nội tiết…
-Sẩy thai do dinh dưỡng:
Thức ăn kém phẩm chất gây rối loạn tiêu hóa, rối loạn trao đổi chất mà chủ
yếu là thiếu đạm, Ca, P, Cu, Fe và sinh tố.
Nếu thiếu sinh tố A sự liên kết giữa lông nhung, màng thai và niêm mạc tử
cung mẹ bị trở ngại dẫn dến sẩy thai.
Nếu thiếu sinh tố E thai chết non có thể tiêu biến cũng có thể xác khô.
Nếu thiếu sinh tố D làm sự thay đổi Ca của mẹ bị rối loạn sẽ ảnh hưởng tới con.
18
- Sẩy thai do thói quen.
Trong cùng một điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ở một gia súc nào đó có
chửa và cứ đến thời kỳ nào đó lại sẩy thai nếu 3 lần trở lên thì ta cho sẩy thai là
thói quen.
Nguyên nhân: Phôi phát triển không bình thường hoặc bộ máy sinh dục mẹ
không bình thường, giảm cơ năng tuyến giáp, hoàng thể bị ảnh hưởng, phôi
giống đồng huyết;
-Sẩy thai do thuốc.Thường do dùng thuốc không đúng chỉ định.
chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung
giãn nở quá mức.
- Kế phát sau các bệnh khó đẻ khác.
- Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh truyền
nhiễm đặc biệt bệnh Brucellaloes (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu tạo
của nhau.
2.2.6.2.2.Triệu chứng
Căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 2 loại:
Sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung. Khi mắc
thường là
có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn.
Sót nhau không hoàn toàn:
Đối với động vật đơn thai một phần màng nhau còn dính lại trong tử cung
con mẹ.
Đối với động vật đa thai một số nhau ra ngoài, một số nhau còn sót lại trong
tử cung con mẹ.
Con vật biểu hiện các triệu chứng:
Đối với trâu bò: Khi sót nhau hoàn toàn thì cuống nhau (dây rốn) thường treo
lơ lửng ở mép âm môn. Khi sót nhau không hoàn toàn thì cần kiểm tra nhau đã
ra,nếu có dấu hiệu rách một phần nhau ta phải kiểm tra thật kỹ để phát hiện. Khi
sót nhau, con vật thường bỏ ăn hoặc kém ăn, nhu động dạ cỏ giảm cũng có thể
ngừng nhai lại, có khi đi ỉa chảy, nhiệt độ tăng, sản lượng sữa giảm, con vật cong
lưng rặn.
Đối với lợn: Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống
nước, sản dịch chảy ra màu nâu. Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ
đẻ cho lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm
số nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không.
2.2.6.3.Bệnh viêm tử cung
2.2.6.3.1.Nguyên nhân
20
21
2.2.6.4.2.Triệu chứng
Nếu nặng con vật bị liệt hai chân sau không đi được, trong trường hợp liệt
do gãy xương con vật đau đớn va có hiện tượng tốt do nhiễm trùng.
2.2.6.5. Bệnh viêm vú
2.2.6.5.1.Nguyên nhân
- Khi bú con cắn loét đầu vú.
- Chuồng trại bẩn, con vật kéo lê bầu vú trên sàn chuồng.
- Do ngoại thương kỹ thuật vắt sữa.
- Do vi trùng có thể xâm nhập qua lỗ đầu vú, ống lâm ba hoặc huyết quản.
Thường các loại vi trung sau
Streptococus 86%
Strephylococus 5,4%
Trực trùng sinh mủ 2,7%
Ecoli 1,2%
Các loại vi trùng khác 3,7%.
- Ngoài ra còn do thể trạng của gia súc nhất là tuổi của gia súc. Gia súc của
tuổi sung sức sinh đẻ dễ viêm vũ hơn, bò 5-9 tuổi 77%, bò trên 9 tuổi 20%.
2.2.6.5.2.Triệu chứng
Người ta phân ra các loại viêm vú sau:
- Viêm vú thanh dịch
- Viêm vú cata
- Viêm vú có sợi fibrin
- Viêm vú có mủ
- Viêm vú xuất huyết
- Viêm vú đặc biệt
- Hoá rắn tuyến vú
- Viêm hoại tử
2.2.6.6.Bệnh chậm sinh và vô sinh
2.2.6.6.1.Nguyên nhân
- Chọn địa điểm điều tra: Điều tra tỷ lệ mắc bệnh sản khoa trên địa bàn 3 xã:
Thanh Văn, Thanh Hòa, Ngọc Lâm đặc trưng cho 3 vùng sinh thái tương ứng là:
Đồng bằng, Trung du, Miền núi.
- Lập bảng điều tra thống nhất.
- Tìm đọc tài liệu tham khảo và thu thập khối lượng ở trạm thú y.
- Đi đến các xã điều tra, kết hợp với thú y cơ sở đến từng hộ gia đình nuôi
lợn nái phỏng vấn thu thập các thông tin cần thiết.
- Thống kê, phân loại theo các chỉ tiêu đã điều tra.
- Tổng hợp các số liệu đã thu thập được.
- Tìm hiểu phương thức chăn nuôi lợn.
- Tìm ra nguyên nhân chính gây bệnh và nêu ra biện pháp khắc phục.
- Xử lý số liệu: cộng, trừ,nhân, chia, tính phần trăm.
2.4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Qua quá trình điều tra đàn lợn nái nuôi tại hộ gia đình huyện Thanh Chương-
Nghệ An chúng tôi đã điều tra được tổng số lợn nái trên địa bàn 3 xã là 370
con.3 xã bao gồm là: Thanh Văn, Thanh Hoà, Ngọc Lâm tương ứng với 3 vùng
sinh thái: đồng bằng, trung du và miền núi. Từ kết quả điều tra bệnh sản khoa ở
lợn nái chúng tôi thu được kết quả như sau:
2.4.1. Tỷ lệ mắc bệnh sản khoa chung trên toàn đàn
Bảng 1: Tỷ lệ mắc bệnh sản khoa chung trên đàn lợn nái
Tên bệnh Số con điều tra Số con mắc bệnh
Tỷ lệ mắc bệnh
(%)
Sẩy thai 370 35 9,46
Sót nhau 370 25 6,76
Viêm tử cung 370 14 3,78
Bại liệt 370 28 7,57
Viêm vú 370 19 5,14
Chậm sinh-vô sinh 370 42 11,35
Tổng số 370 163 44,06
yếu dưa vào nguồn phụ phế phẩm từ nông nghiệp làm thức ăn cho lợn nái, mức
đầu tư cho lợn nái còn rất thấp, trong khi đó nhu cầu của lợn nái là rất lớn.
25
khẩu phần thức ăn không đủ protid, khoáng chất mà lại còn nhiều glucid. Đối
với khoáng chất, nhu cầu lợn nái sinh sản cần nhu cầu cao, đặc biệt là canxi và
photpho. Hai loại khoáng đa lượng này nếu thiếu quá mức thì sẽ làm cho lợn nái
mắc bệnh bại liệt trước và sau khi đẻ chiếm tỷ lệ cao.
nguyên nhân khác như cơ thể lợn mẹ qua nhỏ, lại dẫn tinh quá sớm, hay dẫn tinh
ngoại, đến khi lợn mẹ bị hẹp xương chậu do thai quá to, khi can thiệp không tốt
cũng dẫn tới bại liệt.
Nguyên nhân nữa là hầu hết chuồng trại không đảm bảo kỹ thuật, thiếu ánh
sáng, quá trình chăm sóc nuôi dưỡng không cho lợn nái vận động, tắm nắng dẫn
tới thiếu Vitamin D vì Vitamin là chất xúc tác cho quá trình hấp thụ canxi,
photpho.
Nói chung bệnh bại liệt thì có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính
là do vấn đề dinh dưỡng kém.
Bệnh sót nhau chiếm tỷ lệ 6.76%.
Qua điều tra tìm hiểu cho thấy nguyên nhân chủ yếu dẫn tới bệnh sót nhau
là do trong thời gian có thai nhất là ở giai đoạn cuối con vật không được vận
động thỏa đáng. Trong thức ăn thiếu các chất khoáng nhất là canxi và
photpho,hoặc tử cung bị sa liệt,con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa nhiều
thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức.
một nguyên nhân nữa cũng không kém phần quan trọng là do kế phát từ các
bệnh truyền nhiễm.
Bệnh viêm vú chiếm tỷ lệ 5.14%.
Nguyên nhân chính là do vệ sinh chuồng trại không tốt, lợn con khi bú do
không được bấm răng từ khi đẻ nên làm xây xát bầu vú dẫn đến nhiễm khuẩn.
Một số lợn đẻ nhiều lứa nên bầu vú sệ, tiếp xúc với nền chuồng làm xây xát gây
viêm vú. Bệnh này còn do kế phát từ các bệnh sản khoa khác như viêm tử cung,
sót nhau sau khi đẻ, vi khuẩn tuần hoàn theo máu đến bầu vú gây viêm.