LỜI CẢM ƠN
Để nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của
bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ từ các cá nhân, tổ chức từ trong và
ngoài trường.
Vậy qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể thầy cô
giáo trong Trường Đại học Lâm Nghiệp, đặc biệt là thầy cô thuộc khoa Kinh
tế và Quản trị kinh doanh đã dạy dỗ, dìu dắt tôi trong suốt thời gian tôi học tại
trường giúp tôi có kiến thức chuyên sâu về kinh tế.
Tôi xin cảm ơn cán bộ và nhân dân xã Trực Đại, huyện Trực Ninh, tỉnh
Nam Định đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên
cứu thu thập số liệu và khảo sát thực tế tại địa phương.
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, chăm sóc, động viên tôi
trong quá trình học tập, tích lũy kiến thức.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Đặng Thị Hoa, người đã
giảng dạy, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
của mình.
Trong thời gian thực tập tôi đã cố gắng để hoàn thành báo cáo của
mình, tuy nhiên khó tránh khỏi thiếu xót. Vì vậy mong nhận được sự nhận
xét, bổ sung của thầy cô.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Lưu Văn Hiền
DANH MỤC VIẾT TẮT
CNH-HDH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
NTM : Nông thôn mới
UBND : Uỷ ban nhân dân
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
CTXH : Chính trị xã hội
QHXD : Quy hoạch xây dựng
mô hình nông thôn mới xây dựng làng, xã có cuộc sống no đủ, văn minh, môi
trường trong sạch.
Từ năm 2011, xã Trực Đại đã triển khai áp dụng hoạt động nông thôn
mới của chính phủ và đạt được một số thành tựu đáng kể trong phát triển
nông nghiệp ở địa phương, nếp sống, mức sống, thu nhập tăng cao so với
những thời kỳ trước. Người dân đã áp dụng khoa học kĩ thuật vào trồng trọt
chăn nuôi. Đời sống người dân đã được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần,
bộ mặt làng xã đã thay đổi rõ rệt, cảnh quan môi trường được đảm bảo hơn.
Mặc dù đã có nghị quyết hướng dẫn thi hành, nhưng vẫn còn nhiều bất cập ở
cấp xã cần được giải quyết. Do đó tôi chọn nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá kết
quả xây dựng nông thôn mới tại xã Trực Đại, Huyện Trực Ninh, Tỉnh
Nam Định”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng xây dựng nông thôn mới tại xã Trực Đại và trên cơ
sở đó đưa ra giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới tại
xã Trực Đại, Trực Ninh, Nam Định.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng mô hình nông thôn
mới.
- Đánh giá kết quả xây dựng mô hình nông thôn mới tại xã Trực Đại.
- Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong quá trình xây dựng nông
thôn mới tại xã.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng
nông thôn mới tại xã.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kết quả xây dựng nông thôn mới
đang được triển khai tại địa phương.
Nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về xây dựng mô
sau đó phân tích và đánh giá tình hình thực hiện tại địa phương nghiên cứu.
Phần II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Một số khái niệm cơ bản
- Nông thôn:
Hiện nay vẫn chưa có khái niệm chuẩn xác về nông thôn và có nhiều
quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng nông thông được coi là khu vực
địa lý nơi đó cộng đồng gắn bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng,
bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông
nghiệp. Một số quan điểm khác cho rằng nông thôn là nơi có mật độ dân số
thấp hơn so với thành thị. Vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp
là chủ yếu, nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là sản xuất nông
nghiệp. Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị
trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng vùng
nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và tiếp cận thị trường thấp hơn so với
thành thị. Hay dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, nghĩa là cơ
sở hạ tầng của vùng nông thôn không phát triển bằng đô thị.
Như vậy khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó thay đổi
theo thời gian và tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trên thế
giới. Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam chúng ta có thể hiểu: “ Nông
thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập
hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi
trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ
chức khác”.
Nông nghiệp là quá trình sản xuất ra lương thực, thực phẩm cung cấp
cho con người và tạo ra của cải cho xã hội.
Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản
xuất nông nghiệp, sống chủ yếu bằng ruộng vườn sau đó đến ngành nghề khác
và tư liệu chính là đất đai.
- Nông thôn mới:
thành quốc gia phát triển giảm thiểu khoảng cách giàu nghèo; Nhà nước cần
quan tâm phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nông sản là sản phẩm thiết yếu
cho toàn xã hội và ở Việt Nam khu vực nông thôn chiếm đến 70% dân số.
Thực hiện đường lối mới của Đảng và Nhà nước trong chính sách phát triển
nông thôn, nông nghiệp được xem như mặt trận hàng đầu, chú trọng đến các
chương trình lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, phát
triển kinh tế trang trại, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn,
xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ
sở…Các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đã và đang đưa nền
nông nghiệp tự túc sang nền công nghiệp hàng hóa.
Nền nông nghiệp nước ta còn nhiều những hạn chế cần được giải quyết
để đáp ứng kịp xu thế toàn cầu. Một số yếu tố như:
Nông thôn phát triển tự phát, thiếu quy hoạch. Có khoảng 23% xã có
quy hoạch nhưng thiếu đồng bộ, tầm nhìn ngắn, chất lượng chưa cao. Cơ chế
quản lý phát triển theo quy hoạch còn yếu. Xây dựng tự phát kiến trúc cảnh
quan làng quê bị pha tạp, lộn xộn, nét đẹp văn hóa truyền thống bị mai một.
Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội còn lạc hậu, không đáp ứng được mục
tiêu phát triển lâu dài. Thủy lợi chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất nông
nghiệp và dân sinh. Tỷ lệ kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa mới
đạt 25%. Giao thông chất lượng thấp, không có quy chuẩn, chủ yếu phục vụ
dân sinh, nhiều vùng giao thông chưa phục vụ tốt sản xuất, lưu thông hàng
hóa, phần lớn chưa đạt tiêu chuẩn quy định. Hệ thống lưới điện hạ thế chất
lượng thấp, quản lý lưới điện nông thôn còn yếu, tổn hao điện năng cao, nông
thôn phải chịu mức giá điện cao. Hệ thống các trường mầm non, tiểu học,
trung học cơ sở ở nông thôn có tỷ lệ đật tiêu chuẩn về cơ sở vật chất còn thấp
(32%), hầu hết các nông thôn chưa có khu thể thao theo quy định. Tỷ lệ chợ
nông thôn đạt chuẩn thấp, khoảng 77% số xã có điểm bưu điện văn hóa theo
tiêu chuẩn, 22% số thôn có điểm truy cập internet. Cả nước còn khoảng hơn
300 nghìn nhà ở tạm.
Quan hệ sản xuất chậm đổi mới, đời sông người dân còn thấp. Kinh tế
mẫu. Tích cực sản xuất, chấp hành kỉ cương, ham học hỏi, giỏi làm kinh tế và
sẵn sàng giúp đỡ mọi người.
Về môi trường nông thôn: Xây dựng môi trường nông thôn trong lành,
đảm bảo môi trường nước trong sạch. Các khu rừng đầu nguồn được bảo vệ
nghiêm ngặt. Chất thải phải được xử lý trước khi vào môi trường. Phát huy
tinh thần tự nguyện và chấp hành luật pháp của mỗi người dân.
2.1.4. Nội dung xây dựng mô hình nông thôn mới
Đào tạo nâng cao năng lực phát triển cộng đồng. Nâng cao việc quy
hoạch, triển khai thực hiện, thiết kế, quản lý, điều hành các dự án trên địa bàn
thôn. Bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ địa phương về phát triển nông thôn bền
vững. Nâng cao trình độ dân trí người dân, phát triển câu lạc bộ khuyến nông
giúp áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, phát triển ngành nghề, dịch vụ
tạo việc làm, tăng thu thập cho nông dân.
Tăng cường nâng cao mức sống của người dân. Quy hoạch lại khu
nông thôn, giữ gìn truyền thống bản sắc của thôn, đồng thời đảm bảo tính văn
minh, hiện đại. Hỗ trợ xây dựng các nhu cầu cấp thiết, như đường làng, hệ
thống nước đảm bảo vệ sinh, cải thiện nhà ở, nhà vệ sinh, mô hình chuồng trại
sạch sẽ, đảm bảo môi trường.
Hỗ trợ nông dân phát triển ngành nghề, sản xuất hàng hóa dịch vụ nâng
cao thu nhập. Giúp người dân tìm ra cây trồng vật nuôi lợi thế, có khối lượng
lớn và thị trường tiêu thụ rộng rãi. Đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp, tận
dụng tối đa tài nguyên địa phương, như nguồn nước, đất đai, con người. Trang
bị kiến thức và kĩ năng sản xuất cho hộ nông dân, hình thành các tổ hợp tác,
xây dựng mối liên kết giữa người sản xuất, chế biến, tiêu thụ.
Phát triển ngành nghề nông thôn tạo việc làm phi nông nghiệp. hỗ trợ
đào tạo dạy nghề, mở rộng nghề mới. Hỗ trợ công nghệ mới, xây dựng khu
công nghiệp, tư vấn thị trường, quảng bá và xử lý môi trường.
Hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ sản xuất. Tư vấn quy
hoạch thủy lợi, giao thông, ruộng đất để phát triển kinh tế với loại hình thích
hợp. Hỗ trợ xây dựng làng nghề, cụm công nghiệp và các ngành chế biến.
Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được bê tông hóa hoặc nhựa hóa đạt
chuẩn theo cấp kĩ thuật của Bộ GTVT. Đạt 100%.
Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa chuẩn theo cấp kĩ thuật
của Bộ GTVT. Đạt 100%.
Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại
thuận tiện. Đạt 100%.
+ Tiêu chí 3: Thủy lợi
Hệ thống thủy lợi đáp ứng cơ bản yêu cầu sản xuất, sinh hoạt. Đạt.
Tỷ lệ kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa. Đạt 85% trở lên.
+ Tiêu chí 4: Điện nông thôn
Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kĩ thuật. Đạt.
Tỷ lệ hộ sử dụng điện, an toàn nguồn điện. Đạt 99% trở lên.
+ Tiêu chí 5: Trường học
Tỷ lệ trường học các cấp mẫu giáu, tiểu học, trung học cơ sở, có cơ sở
vật chất đạt tiêu chuẩn quốc gia. Đạt 100%.
+ Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất văn hóa
Nhà văn hóa xã và khu thể thao đạt chuẩn của Bộ Văn hóa - Thể thao –
Du lịch. Đạt.
+ Tiêu chí 7: Chợ nông thôn
Chợ đạt chuẩn của bộ xây dựng. Đạt.
+ Tiêu chí 8: Bưu điện
Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông. Đạt.
Có internet đến thôn. Đạt.
+ Tiêu chí 9: Nhà ở dân cư
Không còn nhà tạm, dột nát, đảm bảo 90% nhà ở đạt chuẩn của Bộ Xây
dựng.
+ Tiêu chí 10: Thu nhập
Thu nhập bình quân người/năm so với mức bình quân chung của tỉnh.
Gấp 1,5 lần
+ Tiêu chí 11: Tỷ lệ hộ nghèo
2.2.1. Mô hình nông thôn mới của một số nước trên thế giới
2.2.1.1. Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
Những năm đầu 60 đất nước hàn quốc còn phát triển chậm, chủ yếu là
sản xuất nông nghiệp, dân số trong khu vực nông thôn chiếm đến 2/3 dân số
cả nước. trước tình hình đó Hàn Quốc đã đưa ra nhiều chính sách mới nhằm
phát triển nông thôn. Qua đó xây dựng niềm tin của người nông dân, tích cực
sản xuất phát triển, làm việc chăm chỉ, độc lập và có tính cộng đồng cao.
Trọng tâm là phong trào xây dựng “làng mới” (Seamoul Undong).
Nguyên tắc cơ bản của làng mới là: nhà nước hỗ trợ vật tư cùng với sự
đóng góp của nhân dân. Nhân dân quyết định các dự án thi công, nghiệm thu
và chỉ đạo các công trình. Nhà nước hàn Quốc chú trọng tới nhân tố con
người trong việc xây dựng nông thôn mới. do trình độ của người nông dân
còn thấp, việc thực hiện các chính sách gặp phải khó khăn, vì thế chú trọng
đào tạo các cán bộ cấp làng, địa phương. Tại các lớp tập huấn, sẽ thảo luận
với chủ đề: “ làm thế nào để người dân hiểu và thực hiện chính sách nhà
nước”, sau đó các lãnh đạo làng sẽ cũng đưa ra ý kiến và tìm giải pháp tối ưu
phù hợp với hoàn cảnh địa phương.
Nội dung thực hiện dự án nông thôn mới của Hàn Quốc gồm có: phát
huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn. Cải thiện
cơ sở hạ tầng cho từng hộ dân và hỗ trợ kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất cũng
như đời sống sinh hoạt người dân. Thực hiện các dự án làm tăng thu nhập cho
nông dân tăng năng suất cây trồng, xây dựng vùng chuyên canh, thúc đẩy hợp
tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phát triển chăn nuôi, trồng xen canh.
Kết quả đạt được, các dự án mở rộng đường nông thôn, thay mái nhà ở,
xây dựng cống và máy bơm, sân chơi cho trẻ em đã được tiến hành. Sau 7
năm từ triển khai thực hiện thu nhập bình quân của hộ dân tăng lên khoảng 3
lần từ 1000USD/người/năm tăng lên 3000USD/người/năm vào năm 1978.
Toàn bộ nhà ở nông thôn đã được ngói hóa và hệ thống giao thông nông thôn
đã được xây dựng hoàn chỉnh.
Mô hình nông thôn mới đã đem lại cho Hàn Quốc sự cải thiện rõ rệt.
Chương trình giúp đỡ vùng nghèo: Mục tiêu là nâng cao sức sống của
các vùng nghèo, vùng miền núi, dân tộc ít người, mở rộng ứng dụng thành tựu
khoa học tiên tiến, phổ cập tri thức khoa học công nghệ và bồi dưỡng khoa
học cho cán bộ thôn, tăng sản lượng lương thực và thu nhập nông dân. Sau
khi chương trình được thực hiện, số dân nghèo đã giảm từ 1,6 triệu người còn
5 vạn người, diện nghèo khó giảm tử 47% xuống còn 1,5%.
Rút bài học từ các nước phát triển, Việt Nam cần tập trung đầu tư vào
nông thôn, nhằm thay đổi diện mạo của nông thôn, làm nông nghiệp phát
triển theo hướng hiện đại hóa.
2.2.2. Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Phong trào xây dựng nông thôn mới đã có bước phát triển mới, đã
trở thành phong trào chung và sâu rộng đến tất cả các địa phương trong cả
nước kể từ khi Chính phủ tổ chức hội nghị toàn quốc về xây dựng nông thôn
mới và chính thức phát động phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng
nông thôn mới".
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày
28/10/2008.Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 193/QĐ-TTg "Phê
duyệt công trình, rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới", Quyết định số
800/QĐ-TTg "phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông
thôn mới giai đoạn 2010 - 2020". Các bộ ngành như: Bộ Nông nghiệp phát
triển nông thôn, Xây dựng, Tài nguyên Môi trường, Giao thông vận tải và các
Bộ khác đã ban hành nhiều thông tư liên hộ, thông tư hướng dẫn để triển khai
thực hiện. Đặc biệt đã ban hành bộ tiêu chí gồm 19 tiêu chí cụ thể về nông
thôn mới, hướng dẫn chi tiết cho các địa phương thực hiện. Thông tư liên tịch
quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn
mới.
Trung ương đã chỉ đạo làm điểm ở một số tỉnh, rút kinh nghiệm chỉ
đạo ra diện rộng. Tập trung đầu tư ngân sách cho các địa phương nhất là
những nơi làm điểm, những địa phương có nhiều khó khăn. Trên cơ sở đó đã
tạo được lòng tin của nhân dân đối với chủ trương của Trung ương, xây dựng
thống chính trị vào thực hiện nhiệm vụ xây dựng NTM trong thời gian tới.
2.2.3. Một số bài học kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới
Từ kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc và Trung
Quốc cho thấy: Dù là các quốc gia đi trước trong công cuộc hiện đại hóa, họ
đều chú trọng vào việc xây dựng và phát triển nông thôn, đồng thời tích lũy
những kinh nghiệm phong phú. Kịp thời điều chỉnh mối quan hệ giữa thành
thị và nông thôn, giữa nông nghiệp và công nghiệp. đẩy mạnh phát triển nông
nghiệp hiện đại, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân. Thay đổi kĩ thuật mới,
bồi dưỡng nông dân theo mô hình mới, nâng cao trình độ tổ chức của người
nông dân.
Xây dựng nông thôn mới được coi là quốc sách lâu dài với mỗi
quốc gia. Đối với Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã chủ trương đẩy mạnh
CNH-HDH nông nghiệp, nông thôn nhằm mục tiêu phát triển nông thôn theo
hướng hiện đại, đảm bảo phát triển về cả kinh tế và đời sống xã hội. Nghị
quyết X của Đảng đã đề ra nhiệm vụ thực hiện chương trình xây dựng nông
thôn mới. xây dựng các làng xã cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường lành
mạnh.
Để xây dựng mô hình nông thôn mới thành công phải là một phong
trào quần chúng rộng lớn, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, có sự
tham gia chủ động, tích cực của mỗi người dân, cộng đồng dân cư, hệ thống
chính trị cơ sở, sự hỗ trợ, giúp đỡ của Nhà nước, chính quyền cấp cao.
2.2.4. Cơ sở pháp lý xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
- Nghị Quyết số 26/TW ngày 05/8/2008 của BCH Trung ương Đảng
(Khóa X) về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn ”.
- Quyết định số 491/TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về
ban hành bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới.
- Thông tư số 54/2009/TT – BNNN&PTNT ngày 21/8/2009 của Bộ
NN&PTNT hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới.
- Quyết định số 800/ QĐ – TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới
o
C
- 30,7
o
C, lượng mưa trong mùa mưa chiếm đến 93% lượng
mưa cả năm.
Mùa khô lạnh, bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau,
với lượng mưa trung bình biến động từ 2,5 – 33,9mm một tháng. Lượng mưa
ít cùng với khí hậu khô hanh kéo dài làm cho diện tích ao hồ và diện tích đất
canh tác bị khô hạn.
Độ ẩm trung bình hằng năm là 78%, tháng 3 có độ ẩm trung bình
lớn nhất là 86%, trong khi đó độ ẩm thấp nhất vào tháng 12 là 70%.
Nhìn chung xã Trực Đại nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa thuận
lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng và phong phú. Mùa đông với khí
hậu khô và lạnh làm cho vụ đông trở thành vụ chính có thể trồng được nhiều
loại cây rau màu ngắn hạn cho giá trị cao. Hạn chế của việc sử dụng đất nông
nghiệp địa phương là mưa lớn tập trung theo mùa làm ngập úng gây khó khăn
trong việc thâm canh tăng vụ, mở rộng diện tích nông nghiệp.
3.1.3. Nguồn nước và đất đai
- Nguồn nước:
Hệ thống sông cấp 1 dài 9,7km, nước tưới tiêu cho nông nghiệp chủ
yếu là tự chảy, bề rộng mặt nước khoảng 20-25m thuận lợi cho việc vận
chuyển bằng phương tiện đường thủy.
- Đất đai:
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất của xã Trực Đại năm 2013
Stt Mục đích sử dụng Diện tích ( ha ) Tỷ lệ ( % )
Tổng diện tích đất 930,61 100
1 Đất nông nghiệp 659,19 70,83
Đất trồng cây hằng năm 510,85 54.90
St
t
Nội dung
Hiện trạng Kế hoạch phát triển
Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
Số lao
động
Cơ cấu
(%)
Số lao
động
Cơ cấu
(%)
Số lao
động
Cơ cấu
(%)
Tổng 6.332 100 6.392 100 6.432 100
1 Nông nghiệp–Thủy sản 2.422 38,3 2.343 37 2.059 32
2 Công nghiệp – XD 1.180 18,6 1.212 19 1.437 22
3 Dịch vụ 2.730 43,1 2.837 44 2.936 46
Nguồn: Ban quản lý dự án xây dựng NTM xã Trực Đại
3.2.2. Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là hệ thống các công trình làm nền tảng cung cấp những
yếu tố cần thiết cho sự phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Việc quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm thực hiện công nghiệp hóa hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn, từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn,
xóa đói giảm nghèo và giảm dần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.
- Về giao thông:
Đường bộ: Nhìn chung giao thông xã Trực Đại tương đối phát triển,
, tổng số 787 học sinh. Trường tiểu học gồm 2 trường
với diện tích 3.028m
2
, có 966 học sinh. Để đạt tiêu chuẩn cần xây mới phòng
chức năng và phòng đa năng, nâng cấp sân chơi của 2 trường. Trường trung
học cơ sở có 1 trường với 914 học sinh, 23 lớp học. cần xây thêm 18 phòng
học và phòng chức năng để đáp ứng yêu cầu dạy và học. Trung tâm giáo dục
thường xuyên thành lập 2002, hiện tại đang tận dụng cơ sở của hợp tác xã
nông nghiệp. Nhìn chung các trường học của xã Trực Đại đều có vị trí hợp lý,
đảm bảo yêu cầu hiện tại và phát triển trong tương lai. Tuy nhiên còn thiếu
phòng chức năng, phòng học, phòng thi đấu đa năng, chưa đạt chuẩn cần xây
mới, mở rộng và nâng cấp trang thiết bị cho công tác dạy và học.
3.2.3. Văn hóa, xã hội và môi trường
- Văn hóa: Hiện tại xã có 2 xóm đạt tiêu chuẩn làng văn hóa theo tiêu
chí của tỉnh, đạt 9,5%.
- Về giáo dục: tổng số giáo viên là 162 trong đó:
Phân theo trường: THCS có 56 giáo viên, Tiểu học có 55 giáo viên,
mầm non là 51 giáo viên.
Phân theo trình độ: Đại học 68 giáo viên, Cao Đẳng 46 giáo viên,
Trung Cấp 48 giáo viên.
Độ tuổi trung bình là 35 tuổi. So với tiêu chuẩn giáo viên đều đạt và
vượt quy định của Bộ. Phổ cập giáo dục trung học đật 100%. Tỷ lệ học sinh
tốt nghiệp THCS tiếp tục học trung học là 78%.
- Về y tế: Trạm y tế xã đã đạt chuẩn giai đoạn 1. Số người tham gia các
hình thức bảo hiểm y tế là 3.144 người, đạt 23% dân số xã.
- Môi trường và nước sạch: xã chưa có hệ thống cấp nước sinh hoạt tập
trung. Nguồn nước mặt chịu ảnh hưởng của thủy triều, mạch nước ngầm sâu
hơn 100m. Nhân dân chủ yếu dùng nước ngầm qua giếng khoan. Tỷ lệ dùng
nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 90%. Tỷ lệ hộ có cơ sở chăn nuôi hợp vệ sinh
42%. Tỷ lệ cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn môi trường là 30%. Xã có 7 điểm
Thu nhập bình quân là 12,67 triệu đồng/người/năm
Tỷ lệ hộ nghèo là 11,6%
3.3. Thuận lợi và khó khăn của xã trong phát triển kinh tế xã
3.3.1. Thuận lợi
Trực Đại là xã có quy mô dân số, lao động, đất đai trung bình của
huyện Trực Ninh. Xã có đường tỉnh lộ 56 chạy qua rất thuận lợi cho phát triển
thương mại, và dịch vụ. Xã có nghề tiểu thủ công nghiệp và xây dựng phát
triển. (nghề may, mộc…)