ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ HẢI PHONG, HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2011 2015 - Pdf 36

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI TẠI XÃ HẢI PHONG, HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM
ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2011- 2015.
Địa điểm thực tập: UBND xã Hải Phong
Giáo viên hướng dẫn: TS. Phạm Anh Tuấn
Sinh viên thực hiện: Hoàng Thị Thu Hương
Mã sinh viên: DC00204652
Nam Định, tháng 4, năm 2016


TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI TẠI XÃ HẢI PHONG, HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM
ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2010 - 2015
Địa điểm thực tập: UBND xã Hải Phong.
Giáo viên hướng dẫn: TS. Phạm Anh Tuấn.
Người hướng dẫn sinh viên thực tập
(Ký, ghi rõ họ tên)

(Ký, ghi rõ họ tên)

Nam Định, tháng 4, năm 2016



DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4

Chữ viết tắt
ANTT
HDND
HTX
GDTX

5
6
7
8
9

NTM
THCS
THPT
UBND
XDNTM

10

VH- TT- DL

Dịch nghĩa

xuyên.
Bảng 3.13. Đánh giá mức độ đạt được của tiêu chí Hình thức tổ chức sản xuất.
Bảng 3.14. Đánh giá mức độ đạt được của tiêu chí Giáo dục.
Bảng 3.15. Đánh giá mức độ đạt được của tiêu chí Y tế.
Bảng 3.16. Đánh giá mức độ đạt được của tiêu chí Văn hóa.
Bảng 3.17. Đánh giá mức độ đạt được của tiêu chí Môi trường.
Bảng 3.18. Đánh giá mức độ đạt được của tiêu chí Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững
mạnh.
Bảng 3.19. Đánh giá mức độ đạt được của tiêu chí An ninh, trật tự xã hội.


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Từ xưa tới nay, Việt Nam là một đất nước thuần nông với khoảng 70% dân số là
nông dân, chính vì vậy nông dân được coi là lực lượng nòng cốt trong quá trình phát triển
đất nước. Địa bàn rộng lớn của nông thôn có vị trí hết sức quan trọng để phát triển kinh
tế, giữ vững ổn định chính trị và đảm bảo an ninh quốc phòng. Nhân thức được tầm quan
trọng đó, Đảng và nhà nước ta đã đã đề ra các chủ trương, chiến lược phát triển nông
nghiệp, nông dân, nông thôn toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây
dựng nông thôn mới. Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân.
Thực hiện xóa đói, giảm nghèo. Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng
cường. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Vị thế của người nông dân
ngày càng được nâng cao.
Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều những vấn đề còn tồn đọng, xã hội phát triển đồng
nghĩa với tốc độ đô thị hóa quá nhanh, dẫn tới sự chênh lệch lớn giữa các vùng. Đời sống
vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn yếu kém, tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là ở
các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng còn
lớn,các vấn đề xã hội phức tạp phát sinh… Nhận thức được vấn đề này, tại hội nghị lần
thứ 7 ban chấp hành trung ương đảng khóa X về “ Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” đã
xác định: “ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ quan

1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
a) Nông dân &Nông thôn
Theo từ điển bách khoa toàn thư: “ Nông dân là những người lao động cư trú ở vùng
nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp. Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau
đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai. Tùy từng quốc gia, tưng thời
kì lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất. Họ hình thành nên
giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội.”
Hiện nay chưa có một định nghĩa chuẩn xác được chấp nhận một cách rộng rãi về nông
thôn. Tuy nhiên khi tổng hợp các ý kiến của các nhà xã hội học, kinh tế học có thể đưa ra
khái niệm tổng quát về vùng nông thôn như sau “Nông thôn là vùng khác với đô thị là ở
đó có một cộng đồng chủ yếu là nông thôn, làm nghề chính là nông nghiệp, có mật độ
dân cư thấp hơn; có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn; có mật độ phúc lợi thua kém
hơn; có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn”.
Tuy nhiên khái niệm trên cần được đặt trong điều kiện thời gian và không gian nhất định


của nông thôn mỗi nước, mỗi vùng và cần phải tiếp tục nghiên cứu để có khái niệm chính
xác và hoàn chỉnh.
Ở Việt Nam theo Nghị định số: 41/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010.Về chính
sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn quy định “ Nông thôn là phần
lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị, các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi
cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”
b) Nông thôn mới là gì?
Nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất,văn hóa, tinh thần của người dân
không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Nông
dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng,
đóng vai trò làm chủ Nông thôn mới.
Nông thôn mới có kinh tế phát tiển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng
đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công
nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường


+ Nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất

- 4 tiêu chí

+ Nhóm 4: Văn hóa - xã hội - môi trường

- 4 tiêu chí

+ Nhóm 5: Hệ thống chính trị

- 2 tiêu chí

Một xã đạt đủ 19 tiêu chí là đạt tiêu chuẩn nông thôn mới.
Căn cứ vào Bộ tiêu chí quốc gia, các Bộ ngành liên quan đều xây dựng quy chuẩn của
ngành, chủ yếu là các tiêu chuẩn kỹ thuật cho các công trình hạ tầng, để áp dụng khi xây
dựng nông thôn mới.
Ngày 20/2/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định 342/QĐ- TTg sửa đổi 5
tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban hành tại Quyết định số 491 QĐ- TTg. Theo
đó, 5 tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, gồm: tiêu chí số 7 về chợ
nông thôn, tiêu chí số 10 về thu nhập, tiêu chí số 12 về cơ cấu hạ tầng, tiêu chí số 14 về
giáo dục và tiêu chí số 15 về y tế.
Bảng 1.1. Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới.
T
T
1

Tên tiêu chí

2


Thủy lợi

4

Điện

5

Trường học

6

Cơ sở vật chất văn
hóa

7
8

Chợ nông thôn
Bưu điện

9

Nhà ở dân cư

10

Thu nhập


4.2 Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các
nguồn
Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học,
THCS có cơ sử vật chất đạt chuẩn quốc gia
6.1 Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ VHTT-DL.
6.2 Tỷ lệ thông có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy
định của Bộ VH-TT-DL
Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng
8.1 Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông
8.2 Có Internet dến thôn
9.1 Nhà tạm, dột nát
9.2 Tỷ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng
Thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức bình quân
chung của tỉnh
Tỷ lệ hộ nghèo
Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông,
lâm, ngư nghiệp
Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả
14.1 Phổ biến giáo dục trung học
14.2 Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung
học (phổ thông, bổ túc, học nghề)
14.3 Tỷ lệ lao động qua đào tạo
15.1 Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế
15.2 Y tế xã đạt chuẩn quốc gia
Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn
hóa theo quy định của Bộ VH-TT-DL
17.1 Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy
chuẩn Quốc gia
17.2 Các cơ sở SX-KD đạt tiêu chuẩn về môi trường
17.3 Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường và

Một: Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng
cao.
Hai: Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại, môi
trường sinh thái được bảo vệ.
Ba: Dân chí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy.
Bốn: An ninh tốt, quản lý dân chủ.
Năm: Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao.
b) Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
Nhiệm vụ XDNTM là một trong những nhiệm vụ quan trọng theo tinh thần Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa X về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn.
Theo đó Chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM thực hiện theo 06 nguyên tắc sau:
Một: Các nội dung, hoạt động của Chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM phải hướng
tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban hàng tại Quyết
định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi là
Bộ tiêu chí Quốc gia NTM).
Hai: Phát huy vai trò chủ thế của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng
vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo
cán bộ và hướng dẫn thực hiện. Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở
thôn,xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện.


Ba: Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có
mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn.
Bốn: Thực hiện Chương trình XDNTM phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các QHXDNTM đã được cấp
có thẩm quyền phê duyệt.
Năm: Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp,
trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án của Chương
trình XDNTM; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ

Căn cứ pháp lý chung của đề án xây dựng nông thôn mới.
Căn cứ Nghị quyết 26/NQ-TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 hội nghị lần thứ 7 của
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn xác định
nhiệm vụ xây dựng: “ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.”
Căn cứ Nghị quyết 24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ
ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 7
của Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Căn cứ Quyết định số: 800/QĐ-TTg ngày 4 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng
Chính phủ; phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về XDNTM giai đoạn 2010-2020.
Căn cứ Quyết định số: 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng
Chính phủ về việc: Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM.
Căn cứ Thông tư số: 32/2009/TT-BXD ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Bộ XD về
việc: Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia quy hoạch XD nông thôn.
Căn cứ Thông tư số: 31/2009/TT-BXD ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Bộ XD về
việc: Ban hành Tiêu chuẩn quy hoạch XD nông thôn.
Căn cứ Thông tư 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/08/2009 của Bộ NN&PTNN
hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
Căn cứ Công văn số 2543/BNN – KTHT ngày 21/08/2009 của bộ NN&PTNN
hướng dẫn đánh giá và lập báo cáo xây dựng nông thôn mới cấp xã giai đoạn 2010- 2020,
định hướng đến năm 2030.
Căn cứ Quyết định số 22- QĐ/ TTg của Thủ tướng Chính phủ về “ Phát triển văn
hóa nông thôn tới năm 2015, định hướng tới năm 2020.”
Căn cứ nghị định số 41/2010/ NĐ- CP của Chính phủ về “ Chính sách tín dụng
phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn” để chỉ đạo các chi nhánh, ngân hàng thương
mại các tỉnh, thành phố bảo đảm tăng cường nguồn vốn tín dụng xây dựng NTM tại các
xã.
Căn cứ pháp lý xây dựng NTM ( Nông thôn mới) xã Hải Phong.
Căn cứ Quyết định số 491/QĐ – TTg ngày 16/04/2009 của thử tướng chính phủ
ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia Nông thôn mới,Quyết định số 800/QĐ – TTg ngày
04/6/2010 về việc phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới

được nâng cao.
Xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào quần chúng sôi nổi và tương đối đều
khắp cả nước, bộ máy chỉ đạo thực hiện từ TW đến địa phương được tổ chức thống nhất
và đồng bộ. Các cơ chế, chính sách được ban hành kịp thời và đồng bộ, đồng thời phổ
biến tới người dân một cách rõ ràng, cụ thể.
Theo báo cáo tổng hợp của Ban chỉ đạo, tính đến hết tháng 11/2015, cả nước có 1.298 xã
(14,5%) được công nhận đạt chuẩn NTM; số tiêu chí bình quân/xã là 12,9 tiêu chí (tăng


8,2 tiêu chí so với 2010); số xã khó khăn nhưng có nỗ lực vươn lên (xuất phát điểm dưới
3 tiêu chí, nay đã đạt được 10 tiêu chí trở lên) là 183 xã.
Ở cấp huyện, đã có 11 đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
công nhận đạt chuẩn NTM là: Huyện Xuân Lộc, Thống Nhất, thị xã Long Khánh (Đồng
Nai), Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè (TPHCM), Đông Triều (Quảng Ninh), Hải Hậu (Nam
Định), Đơn Dương (Lâm Đồng), Đan Phượng (TP. Hà Nội), thị xã Ngã Bảy (Hậu Giang).
Mức thu nhập bình quân đầu người vùng nông thôn đã đạt 24,4 triệu đồng/năm (tăng
khoảng 1,9 lần so với năm 2010).
Trong quá trình triển khai thực hiện xây dựng NTM, đã xuất hiện nhiều mô hình, cách
làm hay, kinh nghiệm tốt. Cụ thể có tới 22.000 mô hình sản xuất nông lâm nghiệp tiên
tiến, hiệu quả. Đây là cơ sở để chúng ta nhân rộng, nâng cao thu nhập, đời sống cho
người dân.
b. Những hạn chế và bất cập
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại và hạn chế
như sau: tiến độ triển khai còn chậm so với mục tiêu đề ra; yêu cầu , nhận thức của một
số cán bộ, Đảng viên và người dân về những nội dung thiết yếu của chương trình chưa
đầy đủ, việc quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền ở một số nơi chưa thường xuyên,
sâu sát; công tác sơ kết, nhân rộng mô hình chưa được thường xuyện, kịp thời; việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới và phương thức tổ chức mô hình sản xuất trong nông
nghiệp còn chưa đáp ứng yêu cầu; sản xuất nông nghiệp chậm phát triển thoe hướng hiện
đại, thiếu tính bền vững; quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh múnm chưa gắn

kiện cụ thể. Tăng cường rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sản xuất nông nghiệp phù
hợp với yêu cầu tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển thị trường hàng hóa nông nghiệp trong
điều kiện hội nhập quốc tế. Quy hoạch NTM cần chú trọng tính liên kết, bảo đảm thống
nhất với quy hoạch XD liên vùng và các quy hoạch chuyên ngành khác để có thể phát
triển và khai thách đồng bộ kết cấu hạ tầng, đáp ứng sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn.
Ba: Có chính sách đủ mạnh, đủ khả năng thu hút doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn nông
thôn, phát triển sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; chú trọng
công nghiệp chế biến nông sản và công nghiệp thu dụng nhiều lao động nhằm chuyển
dịch cơ cấu lao động và kinh tế nông thôn.
Bốn: Huy động các nguồn vốn, tập trung XD kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn.
Nâng cấp các công trình hiện có, sớm đầu tư hàon chỉnh chỉnh hạ tầng thiết yếu (giao
thông, thủy lợi, điện nước, viễn thông ...) trên địa bàn các xã; việc đầu tư XD nhà văn
hóa, chợ nông thôn, nghĩa trang ... cần xem xét kỹ lưỡng về tính thiết thực, hiệu quả,
tránh hình thức, lãng phí. Trong quá trình thực hiền cần hết sức lưu ý việc huy động đóng
góp tự nguyện của nhân dân phải cân nhắc, đảm bảo vừa sức dân; tuyệt đối không được
yêu cầu dân đóng góp bắt buộc.
Năm: Chú trọng tạo việc làm cho lao động nông thôn theo cả 2 hướng: Ưu tiên đào tạo tại
chỗ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng để nâng cao năng suất chất lượng công việc của người
lao động đang làm và đào tạo ngành nghề mới để người lao động có thể chuyển sang
ngành nghề khác. Có chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc
chủ động đào tạo, nâng cao tay nghề cho lao động làm việc cho doanh nghiệp.
Sáu: Tiếp tục tập trung làm tốt công tác giảm nghèo, chú trọng nhất là các vùng sâu, vùng
xa, vùng đồng bào dân tộc, gắn với việc thực hiện chủ trương tái cơ cấu nông nghiệp theo
hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững trên địa bàn.


Bảy: Chú trọng quan tâm tổ chức, hướng dẫn, hỗ trợ nhân dân thực hiện các nội dung về
phát triển y tế, văn hóa, xã hội, môi trường, đảm bảo an ninh trật tự ở nông thôn; cải tạo
cảnh quan môi trường nông thôn xanh - sạch - đẹp, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
và truyền thống, tập quán tốt đẹp của làng quê Việt Nam; đảm bảo trật tự an toàn xã hội,



Trải qua thời kỳ chiến tranh khó khăn, nền kinh tế của Việt Nam đã bị thụt lùi rất nhiều
so với các nước trên thế giới. Và ngày nay, đứng trước bối cảnh nền kinh tế khu vực và
trên thế giới phát triển như vũ bão, để cho nền kinh tế, nông nghiệp nông dân, nông thôn
Việt Nam có thể sánh bước cùng với các nước trên thế giới thì Việt Nam không những
cần phải luôn nỗ lực cố gắng mà còn phải tìm hiểu, học hỏi những kinh nghiệm phát triển
nông nghiệp, nông thôn của các nước trên thế giới.
Cho tới thời điểm hiện tại, số lượng các mô hình phát triển trong và ngoài nước, đặc biệt
là các nước châu Á tương đối nhiều, ví dụ như chương trình lang mới Saemaul Undong
của Hàn Quốc, mô hình nông thôn mới ở Trung Quốc, mô hình OVOP ở Thái Lan… hay
xa hơn nữa là ở các nước Châu Âu như nông thôn Pháp: trồng nho làm rượu vang, nông
thôn Hà Lan: Sự kết hợp thành công giữa nông nghiệp và công nghiệp …
a) Phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc
Hàn Quốc vào đầu thập kỷ XIX là một nước nghèo sau chiến tranh, GDP bình quân đầu
người chỉ có 850 USD, không đủ lương thực và phần lớn người dân không đủ ăn. Nền
kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp nhưng hạn hán và lũ lụt thường xuyên xảy ra khắp
đất nước. Đến năm 1970 vẫn còn 70% dân số sống ở nông thôn, trong số đó 80% sống
trong điều kiện khó khăn. Sau trận lụt lớn năm 1969, trong khi đi thị sát tình hình dân
chúng, Tổng thống Hàn Quốc Pask Chung Hy nhận ra rằng viện trợ của Chính phủ cũng
là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách làm tự cứu lấy mình. Những ý tưởng này là
nền tảng của phong trào “Saemaul Undong”. Chính phủ vừa tăng đầu tư vào nông thôn
vừa đặt mục tiêu thay suy nghĩ ỷ lại, thụ động vốn tồn tại trong đại bộ phận dân cư nông
thôn. Điểm đặc biệt của phong trào NTM của Hàn Quốc là nhà nước chỉ hỗ trợ một phần
nguyên, vật liệu còn nông dân chính là đối tượng ra quyết định và thực thi mọi việc.
Saemaul Undong cũng rất chú trọng đến phát huy dân chủ trong XDNTM với việc đưa ra
một nam và một nữ lãnh đạo phong trào. Ngoài ra, tổng thống còn ký mời 2 lãmh đạo ở
cấp làng xã tham dự cuộc họp của Hội đồng Chính phủ để trực tiếp lắng nghe ý kiền từ
các đại diện. Nhằm tăng thu nhập cho nông dân, Chính phủ Hàn Quốc áp dụng chính
sách miễn thuế xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông sản. Ngân

đặc điểm tự nhiên, xã hội, để đưa ra chính sách, biện pháp thích hợp. Ngân sách nhà nước
chủ yếu làm đường, công trình thủy lợi... một phần dùng để xây nhà ở cho dân. Đối với
nhà ở nông thôn, nếu địa phương nào ngân sách lớn, nông dân chỉ bỏ ra một phần, còn lại
là tiền của ngân sách.
Công cuộc cải cách ở nông thôn của Trung Quốc qua nhiều dấu mốc. Trong đó, những
mốc quan trọng là xóa bỏ công xã nhân dân; xác lập thể chế kinh doanh hai tầng kết hợp,
lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở cửa toàn diệnh thị trường nông sản, xóa
bỏ thuế nông nghiệp, và thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân. Trung Quốc thực hiện
nội dung hai mở, một điều chỉnh, là mở cửa giá thu mua, thị trường mua bán lương thực,
một điều chỉnh là chuyển trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông
dân trồng lương thực.
Trung Quốc thực hiện hạn chế lấy đất nông nghiệp. Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp của
nước này được quy định ngặt nghèo. Nếu chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phải đúng
với chiến lược lâu dài của vùng đó và phải nằm trong chỉ giới đỏ, đảm bảo cả nước luôn
duy trì 1,8 tỉ mẫu đất nông nghiệp trở nên.
c. Mô hình OVOP ở Thái Lan
Thông qua mô hình OVOP, chính phủ đã XD dự án cấp quốc gia “mỗi xã, một sản phẩm”
(Tambon one Product - OTOP) nhằm tạo ra sản phẩm mang tính đặc thù của địa phương


có chất lượng đảm bảo, bán được trên toàn cầu. Sản phẩm của OTOP phân loại theo 4
tiêu chí: Có thể xuất khẩu với giá thương hiệu, sản xuất liên tục và nhất quán; Tiêu chuẩn
hàng hóa, đặc biệt, mỗi sản phẩm đều có một câu chuyện riêng. Các tiêu chí trên đã tạo
thêm lợi thêm lợi thế cho du lịch Thái Lan vì du khách luôn muốn tận mắt chứng kiến
quá trình sản xuất sản phẩm, từ đó có thể hiểu biết thêm về tập quán, lối sống của người
dân địa phương.
d. Nông thôn ở Hà Lan: Sự kết hợp thành công giữa nông nghiệp và công nghiệp
Hà Lan đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đặc biệt là nông nghiệp cây trồng trong nhà
kính và yếu tố thành công này chính là hạt nhân “nông thôn mới” ở đây. Tỷ lệ sản xuất
rau quả và hoa góp phần cung cấp nhu cầu khổng lồ trên toàn thế giới. Các nhà quản lý

Thời gian thực hiện chuyên đề: từ tháng 07/3/2016 đến 28/4/2016.
2.2. Mục đích, yêu cầu nghiên cứu

a) Mục đích nghiên cứu


- Đánh giá kết quả thực hiện đề án nông thôn mới tại xã Hải Phong theo bộ
tiêu chí của quốc gia về nông thôn mới, và hiệu quả mà đề án mang lại.
- Đề xuất một số ý kiến để tiếp tục xây dựng xã NTM bền vững.
b) Yêu cầu nghiên cứu
- Nội dung đề tài bám sát Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, tuân thủ theo
quy định của pháp luật;
- Số liệu, tài liệu thu thập được phải trung thực, khách quan, chính xác.
- Những đề xuất phải có tính khả thi, phù hợp với thực trạng của địa phương.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Đánh giá kết quả thực hiện đề án xây dựng nông thôn mới tại xã Hải Phong, huyện
Hải Hậu, tỉnh Nam Định giai đoạn 2011- 2015.

2.4. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp điều tra thu thập số liệu.
- Thu thập số liệu thứ cấp: là phương pháp thu thập số liệu thông qua sách báo, tại liệu,
các niên giám thống kê, báo cáo tổng kết đã được công bố của xã Hải Phong. Từ đó sẽ nắm
được các tài liệu có liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường,... trên địa bàn
xã trong thời gian nghiên cứu.
- Thu thập số liệu sơ cấp:
+ Phương pháp quan sát: là pương pháp quan sát trực tiếp hay gián tiếp bằng các dụng
cụ để nắm được tổng quan về địa hình, địa vật trên địa bàn nghiên cứu.
+ Phương pháp chuyên gia: là phương pháp tham khảo ý kiến của các chuyện gia về
lĩnh vực nghiên cứu. Đồng thời sử dụng một số kết quả nghiên cứu có liên quan đến phạm trù
này một cách linh hoạt, hợp lý và cần thiết.

- Phía Đông giáp xã Hải Phú.
Với hệ thống giao thông của xã khá hoàn chỉnh, Hải Phong rất có điều kiện để
giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội.
3.1.1.2. Địa hình, địa mạo
Địa hình của xã Hải Phong tương đối bằng phẳng, đất đai phì nhiêu, có nhiều
sông ngòi, là nguồn cung cấp nước dồi dào cho tưới tiêu và sinh hoạt, tạo điều
kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
- Đường giao thông chính trong xã có cao độ trung bình +2,3 m ÷ +2,5 m.
- Đồng ruộng có cao độ trung bình +0,7 m ÷ +0,8 m.
- Nền nhà ở ven trục giao thông chính có cao độ trung bình +2,5m ÷ +2,6m, khu
dân cư làng xóm có cao độ từ +1,9 m ÷ + 2,5m.
- Các dòng chảy chảy theo hướng Bắc - Nam đổ ra biển. Các ao hồ có cao độ
đáy +0,3 m.
3.1.1.3. Khí hậu
Xã Hải Phong thuộc đồng bằng Bắc Bộ và nằm gần biển nên mang khí hậu
đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa, trong đó có mùa xuân và
mùa thu là 2 mùa chuyển tiếp, mùa hạ và mùa đông có khí hậu trái ngược nhau.
Mùa nóng mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh và khô từ tháng 11 năm
trước đến tháng 4 năm sau.
*Nhiệt độ không khí:
- Nhiệt độ trung bình trong năm: 23 – 24
- Nhiệt độ trung bình mùa hạ: 27
- Nhiệt độ trung bình mùa đông: 18,90
- Nhiệt độ trung bình cao nhất: 24
- Nhiệt độ trung bình thấp nhất: 13
*Lượng mưa:
- Lượng mưa phân bố không đều trong năm, ảnh hưởng đến vụ gieo trồng cây vụ
đông và sớm ảnh hưởng đến thu hoạch vụ chiêm xuân.
- Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.700 – 1.800 mm.
- Mùa mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm 80% lượng mưa cả năm, đặc biệt


- Qua các kết quả nghiên cứu địa chất công trình trong khu vực cho thấy có đủ
điều kiện để xây dựng công trình 2 ,3 tầng không phải xử lí nền mống phức tạp (R n = 0,7 ;
0,9 kg /cm2 , đất sét ) .
Nói chung song ngòi kênh mương ở đây rất thuận lợi choviệc tưới tiêu , dẫn nước
vào đồng ruộng và cũng thuận lợi cho lĩnh vực vận tải đường thủy , giao lưu với các xã
trong khu vực .

- Mực nước ngầm ở độ cao trung bình phụ thuộc vào mực nước mặt .
- Trên địa bàn xã mật độ song ngòi khá dày , chế độ thủy văn phụ thuộc chặt chẽ
vào chế độthủy văn của hai con song chính là sông Cau và sông Mỹ Ninh. Tuy
nhiên vào mùa mưa khi cường độ mưa lớn và tập trung , khả năng tiêu úng
chậm đã gây ra ngập úng cục bộ cho các vùng thấp , trũng , gây ảnh hưởng trực
tiếp đến sinh hoạt của nhân dân .
3.1.2. Các nguồn tài nguyên .


3.1.2.1 . Tài nguyên đất .
Đất đai của xã hình thành từ lâu đời có nguồn gốc từ đất phù sa của lưu vực sông
Hồng, không được bồi đắp hằng năm. Đất đai của xã có đặc điểm cơ bản sau:

- Đất nông nghiệp khá dày ( từ 40 – 60 cm), tầng canh tác từ (20- 30 cm)
- Tính chất hóa học của đất: trung tính ít chua, độ pH( KCL) từ 4,5 – 5,5; các
-

yếu tố dinh dưỡng khác đều ở mức trung bình và khá.
Thành phần cơ giới của đất: cơ bản là đất cát pha, đất thịt nhẹ đến đất thị nặng.

Nhìn chung đất đai Hải Phong tương đối màu mỡ, ít bị ảnh hưởng chua mặn. Đất
đai bằng phẳng chạy dài theo hương Bắc Nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status