Đánh giá kết quả thực hiện đề án xây dựng nông thôn mới tại xã đồng tháp, huyện đan phượng, thành phố hà nội - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp đại học,
ngoài sự cố gắng của bản thân, em còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các cá
Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo
trong trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội nói chung và các thầy cô
giáo trong khoa Quản lý đất đai nói riêng đã dẫn dắt, dạy dỗ em trong quá trình học
tập tại trường. Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô
giáo – ThS. Nguyễn Thị Nga, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt
thời gian hoàn thành khoá luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn UBND xã Đồng Tháp – huyện Đan Phượng - tp. Hà Nội,
các cán bộ và nhân
dân tại xã đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu làm đề
Em xin chân thành cảm ơn tới các cá nhân, tập thể và cơ quan nêu trên đã
giúp đỡ, khích lệ và tạo những điều kiện tốt nhất cho em trong quá trình thực hiện.
Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn tài liệu và khả năng nghiên cứu
của bản thân cho nên báo cáo này không tránh khỏi các thiếu sót và
những khiếm khuyết cần được góp ý, sửa chữa. Kính mong được sự
góp ý của quý thầy cô để báo cáo này hoàn thiện hơn.
Một lần nữa em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2016
Sinh viên thực hiện:
Lưu Quang Hiệp


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu làm việc trong
lĩnh vực nông nghiệp. Nước ta hiện nay vẫn là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân
cư đang sống ở nông thôn. Phát triển nông nghiệp nông thôn đã, đang và sẽ còn là mối
quan tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc ổn định kinh tế xã hội đất nước.
Xã Đồng Tháp là một trong 16 xã đang trên đà phát triển của Huyện Đan Phượng, Tp.

- Điều tra đánh giá thực trạng nông thôn trước, trong và sau quá trình thực hiện đề án
tại xã Đồng tháp, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội theo bộ tiêu chí quốc gia về
nông thôn mới
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của đề án tại địa phương.
2.2 Yêu cầu
- Đề tài đồ án phải tuân thủ theo quy định của nhà trường.
- Tài liệu, số liệu thu thâp được phải trung thực, chính xác và khách quan.


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1

Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới

1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm nông thôn.
Khái niệm nông thôn có nhiều cách tiếp cận và giải thích khác nhau:
Từ điển Oxford Advanced Learner`s Dictionary, nhà xuất bản Oxford,
năm 1995, Rural (nông thôn), xét nghĩa tính từ: (1) thuộc miền quê hoặc
thuộc về nông nghiệp; (2) ở miền quê, ở nông thôn; (3) liên quan đến thôn
quê, hoặc nông nghiệp
Từ điển Webster`s New World Dictionary, nhà xuất bản Macmillan,
năm 1996, Rural (nông thôn) xét nghĩa tính từ: (1) có tính miền quê, cuộc
sống thôn quê, người thôn quê; (2) sống ở quê, nông thôn; (3) việc đồng
án.
V. Staroverov - nhà xã hội học người Nga đã đưa ra một định nghĩa
khá bao quát về nông thôn, khi ông cho rằng: “Nông thôn với tư cách là
khách thể nghiên cứu xã hội học về một phân hệ xã hội có lãnh thổ xác định
đã định hình từ lâu trong lịch sử. Đặc trưng của phân hệ xã hội này là sự
thống nhất đặc biệt của môi trường nhân tạo với các điều kiện địa lý - tự



và gia đình họ, ngoài ra cũng có một số người làm việc ở nông thôn nhưng
sống ở đô thị và ngược lại có những người ở thành thị nhưng lại làm việc ở
nông thôn.
- Về văn hóa, nông thôn thường là nơi bảo tồn và lưu giữ được nhiều
di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc như các phong tục, tập
quán cổ truyền về đời sống, những lễ hội, làng nghề cổ truyền, các di tích
văn hóa, lịch sử, danh lam thắng cảnh… nông thôn là kho tàng văn hóa dân
tộc. Nếu biết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, nông thôn có một sức
hút hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.
1.1.1.2 Khái niệm nông thôn mới.
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để
cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của
mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp,
công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông
thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân
được nâng cao.
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng,
toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh
tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp. Xây dựng nông thôn
mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết
giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.
Mô hình nông thôn mới là tổng thể đặc điểm, cấu trúc tạo thành một
kiểu nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng các nhu cầu đề ra cho nông thôn
trong điều kiện hiện nay, dựa trên mô hình nông thôn cũ (nông thôn truyền


thống) nhưng có những tiên tiến, văn minh và phát triển hơn về nhiều mặt.
1.1.2. Vì sao phải xây dựng nông thôn mới ?

cao, cơ hội có việc làm mới tại địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông
lâm nghiệp qua đào tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao.
Do đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hoá
truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang phục...);
nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát. Hiện nay, kinh tế xã hội khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch.
Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước,
cần 3 yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật. Qua việc xây dựng
nông thôn mới sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa.
Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp. Vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp,
nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó. Vì vậy cần phải tiến hành xây dựng
nông thôn mới.
1.1.3 Những đặc điểm xây dựng nông thôn mới.
Theo “Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới” của Nhà xuất bản
Lao động phát hành năm 2010, Nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 bao
gồm các đặc trưng sau:


- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông
thôn được nâng cao;
- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;
- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và
phát huy;
- An ninh tốt, quản lý dân chủ;
- Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao.
1.1.4 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới.
Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng nông thôn mới
phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí xây dựng

lịch; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; từng bước thực
hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn;
- Xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa
dân tộc; trình độ dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ;
- Hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh; an ninh trật tự được giữ vững;
đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện
và nâng cao.
Mục tiêu cụ thể: Đến năm 2020, 100% xã đạt chuẩn nông thôn mới.


1.1.6 Cơ sở pháp lý, các văn bản hiện hành xây dựng nông thôn mới
1.1.6.1 Các văn bản pháp lý hiện hành.
- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 Hội nghị lần thứ 7 BCHTW
Đảng Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn xác định nhiệm vụ xây
dựng: “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới”;
- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban
hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện NQ số 26-NQ/TW
ngày 05/08/2008 Hội nghị lần thứ 7 BCHTW Đảng Khóa X về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn.
- Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng
Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới;
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới;
-Thông tư 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/08/2009 của Bộ NN&PTNN
hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
- Công văn số 2543/BNN-KTHT ngày 21/08/2009 của Bộ NN&PTNN
hướng dẫn đánh giá và lập báo cáo xây dựng nông thôn mới cấp xã giai
đoạn 2010-2020, định hướng đến năm 2030.
- Quyết định số 22-QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Phát triển
văn hóa nông thôn đến năm 2015, định hướng đến năm 2020”;


3

Thủy lợi

4

Điện

Nội dung tiêu chí
1.1 Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho
phát triển sản xuất nông nghiệp, hàng hóa, công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
1.2 Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi
trường theo chuẩn mới
1.3 Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và
chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn
minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp
2.1 Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa
hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ
GTVT
2.2 Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa
đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT
2.3 Tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội
vào mùa mưa
2.4 Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng
hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện
3.1 Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản
xuất và dân sinh
3.2 Tỷ lệ km kênh mương do xã quản lý được kiên cố

Cơ sở vật
6.1 Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ
chất văn
VH-TT-DL
hóa
6.2 Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn
đạt quy định của Bộ VH-TT-DL
Chợ nông thôn Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng
Bưu điện
8.1 Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông
8.2 Có Internet đến thôn
Nhà ở dân
9.1 Nhà tạm, dột nát

9.2 Tỷ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây
dựng
Thu nhập
Thu nhập bình quân đầu người /năm so với mức bình
quân chung của tỉnh
Hộ nghèo
Tỷ lệ hộ nghèo
Cơ cấu lao
Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực
độn
nông, lâm, ngư nghệp
Hình thức
Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả
tổ chức
sản xuất
Giáo dục


An ninh,
trật tự xã
hội được
giữ vững

18.2 Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ
sở theo quy định
18.3 Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn "trong
sạch, vững mạnh"
18.4 Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt
danh hiệu tiên tiến trở lên
An ninh, trật tự xã hội được giữ vững

(Nguồn: QĐ 491/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ)
1.2 Mô hình nông thôn mới của các quốc gia khác trên thế giới
1.2.1 Mô hình Nông thôn mới ở Thái Lan.
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông
thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước. Để thúc đẩy sự phát triển bền
vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng
cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân
và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong
lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội
cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi
ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân.
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức
cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông
nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên
một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai

nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được
nhiều ngoại tệ cho đất nước. Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông
sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm và
chương trình Quỹ làng.
Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái
Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực
phẩm. Năm 2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực
phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới”. Mục đích chương trình này là
khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất
lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng trong
nước và xuất khẩu. Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho
doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Do đó, ngày
nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị
trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận.
Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến
đầu tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các
nhà sản xuất trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực
phẩm, thông qua việc mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư
kinh doanh. Trong tiếp cận thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là
người đại diện thương lượng với chính phủ các nước để các doanh nghiệp
đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến. Bên cạnh
đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy
chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn
đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và


phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm
chính của Cục Xúc tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng việc xúc
tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều cơ
quan cùng thực hiện. Chẳng hạn, trong Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã,

nghiệp và nông thôn.
Chương trình đốm lửa: Trang bị cho hàng triệu nông dân các tư
tưởng tiến bộ khoa học, bồi dưỡng nhân tài đốm lửa, nâng cao tố chất nông
dân. Sau 15 năm thực hiện, chương trình đã bồi dưỡng được 60 triệu thanh
niên nông thôn thành một đội ngũ cán bộ khoa học cốt cán, tạo động lực
thúc đẩy nông thôn phát triển, theo kịp so với thành thị.
Chương trình được mùa: Chương trình này giúp đại bộ phận nông
dân áp dụng khoa học tiên tiến, phương thức quản lý hiện đại để phát triển
nông nghiệp, nông thôn. Sau 15 năm, sản lượng lương thực của Trung
Quốc đã tăng lên 3 lần so với những năm đầu 70. Mục tiêu phát triển nông
nghiệp là sản xuất các nông sản chuyên dụng, nâng cao chất lượng, tăng
cường chế biến nông sản.
Chương trình giúp đỡ vùng nghèo: Mục tiêu là nâng cao sức sống
của các vùng nghèo, vùng miền núi, dân tộc ít người, mở rộng ứng dụng
thành tựu khoa học tiên tiến, phổ cập tri thức khoa học công nghệ và bồi
dưỡng khoa học cho cán bộ thôn, tăng sản lượng lương thực và thu nhập


nông dân. Sau khi chương trình được thực hiện, số dân nghèo đã giảm từ
1,6 triệu người còn 5 vạn người, diện nghèo khó giảm tử 47% xuống còn
1,5%.
Xây dựng nông thôn mới Trung Quốc tạo nên một hình ảnh mới đầy
ấn tượng về một “nông thôn Trung Quốc” đẹp tráng lệ. Tuy vậy, dù với rất
nhiều cố gắng, phát triển nông thôn cấp cơ sở và nông thôn mới tại Trung
Quốc cũng chưa đạt được các mục tiêu đề ra hoàn toàn.
Theo các đánh giá khách quan mô hình nông thôn mới của Trung
Quốc chưa được coi là thành công khi hiện nay khoảng cách giữa khu vực
thành thị và nông thôn vẫn đang ngày càng rộng ra, làn song người dân rời
bỏ khu vực nông nghiệp, nông thôn diễn ra ngày càng mạnh.
Vấn đề ô nhiễm môi trường xảy ra ở đại đa số các vùng nông thôn

khoảng 3 lần từ 1000USD/người/năm tăng lên 3000USD/người/năm vào
năm 1978. Toàn bộ nhà ở nông thôn đã được ngói hóa và hệ thống giao
thông nông thôn đã được xây dựng hoàn chỉnh.
Mô hình nông thôn mới đã đem lại cho Hàn Quốc sự cải thiện rõ rệt.
Hạ tầng cơ sở nông thôn cải thiện, thu nhỏ khoảng cách giữa nông thôn và
thành thị, trình độ tổ chức nông dân được nâng cao. Đặc biệt xây dựng
được niềm tin của người nông dân, ý chí sản xuất phát triển kinh tế, tinh
thần người dân mạnh mẽ. Đến đầu những năm 80, quá trình hiện đại hóa


nông thôn đã hoàn thành, Hàn Quốc chuyển chiến lược phát triển sang một
giai đoạn mới.
Phong trào “Làng mới” của Hàn Quốc là một trong các phong trào
điển hình thực hiện phát triển nông thôn cấp cơ sở. Việc thực hiện phong
trào được đánh giá là rất thành công khi có đóng góp đáng kể vào sự phát
triển của Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu trong
những năm 1960 trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào những năm
1990 trở lại đây. Tuy nhiên, phát triển nông thôn tại Hàn Quốc, sau quá
trình thực hiện phong trào Làng mới thực hiện thành công đến đầu những
năm 1990, khu vực nông nghiệp, nông thôn có dấu hiệu phát triển chững
lại. Trong khi đó khu vực thành thị và các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ có
sự phát triển vượt bậc tạo ra nguồn thu lớn có thể hỗ trợ trở lại cho khu vực
nông nghiệp, nông thôn.
Để duy trì và hỗ trợ khu vực nông thôn, Chính phủ đã xây dựng mô
hình phát triển nông thôn toàn diện tại 112 điểm trên phạm vi toàn quốc.
Chính phủ thực hiện đầu tư toàn bộ công trình cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã
hội đồng bộ và đạt tiêu chuẩn hiện đại tại từng điểm.
Tuy nhiên vì không duy trì được sự phát triển có tính bền vững của
mô hình thí điểm nên chương trình đã không được triển khai nhân rộng bắt
nguồn từ các nguyên nhân do công việc vất vả thu nhập thấp, còn do các

buộc ở “5 khâu” do tập thể đảm nhiệm.
Trong giai đoạn này, mục tiêu sản xuât vẫn bị áp đặt bởi kế hoạch từ trên xuống,
nông dân vẫn chưa có quyền làm chủ thực sự.
+ Giai đoạn 1985-1987: Nền kinh tế cả nước lâm vào khủng hoảng trầm trọng, nền
nông nghiệp bị sa sút. Mặc khác mô hình chỉ tập trung vào khoán sản phẩm đến nhóm và
người lao động chứ chưa quan tâm tới khoán hộ, do đó hiệu quả đầu tư giảm dần, thu
nhập nông hộ giảm.
- Năm 1988-1991: Khoán cho nhóm và người lao động.


+ Nghị quyết 10 NQ/TW (5/4/1988) của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông
nghiệp. Nghị quyết khẳng định hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ động ở nông
thôn có ỹ nghĩa quan trọng với sự phát triển của kinh tế nông hộ.
+ Nghị quyết tạm giao trong 5 năm (1988-1993) chủ trương giao quyền sử dụng
ruộng đất cho hộ. Xóa bỏ chính sách thu mua lương thực theo nghĩa vụ cho nông hộ phát
triển sản xuất, làm cho người lao động quan tâm đến sản phẩm cuối cùng.
+ Các thành phần kinh tế và kinh tế hộ nông dân phát triển dẫn đến hiệu quả cao
trong sản xuất và không ngừng nâng cao mức sống của nông dân.
- Mô hình sản xuất nông nghiệp bằng việc giao dất cho nông hộ:
+ Từ năm 1993 đến nay, đất đai được giao quyền sử dụng lâu dài cho các nông hộ,
người nông dân được chủ động sản xuất trên mảnh đất được giao.
+ Từ Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, VII và VIII đã đưa ra những chủ trương về
phát triển 5 thành phần kinh tế và 3 chương trình kinh tế lớn của nhà nước. Hộ nông dân
là chủ thể sản xuất ban hành giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mở rộng
vay vốn, tín dụng, thực hiện xóa đói giảm nghèo… mở rộng quyền tự chỉ kinh doanh cho
nông hộ, kinh tế nông hộ thay đổi lớn.
Giai đoạn này, nông hộ là đơn vị sản xuất cơ bản. Người nông dân đã chú trọng đầu
tư cơ sở hạ tầng, làm cho bộ mặt nông thôn có những thay đổi đáng kể.
Mô hình này có tác dụng làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn dịch chuyển mạnh theo
hướng tích cực. Đời sống của người dân nông thôn đã ngày càng nâng cao, đẩy mạnh tiến

năm; bản đồ hiện trạng sử dụng đất của huyện.
- Công tác điều tra nội nghiệp: Khảo sát thực địa về tình hình sử dụng
và phân bố đất đai, đối chiếu với kết quả nghiên cứu đồng thời xử lý các sai
lệch trong quá trình nghiên cứu nhằm nâng cao độ chính xác của các số
liệu thu được.
2.4.2 Phương pháp thống kê
Sử dụng phương pháp này để tổng hợp, phân nhóm các số liệu điều tra để xử lý; đánh


giá hiện trạng sử dụng đất các loại, thống kê các số liệu có liên quan đến tình hình biến
động đất đai; thống kê toàn bộ diện tích đất đai của huyện theo sự hướng dẫn thống nhất
của Bộ Tài nguyên & Môi trường.
2.4.3 Phương pháp minh họa bản đồ
Các thông tin cần thiết được biểu diễn trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất của huyện,
các biểu đồ, sơ đồ đất đai.
2.4.4 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Trên cơ sở những tài liệu, số liệu thu thập được tiến hành chọn lọc, sắp xếp, lựa chọn
những thông tin phù hợp với chuyên đề. Sử dụng phần mềm Excel để phân tích, tổ hợp

xử lý số liệu điều tra thu thập được.
2.4.5 Phương pháp so sánh
So sánh trước và sau khi thực hiện đề án xây dựng nông thôn mới tại xã Đồng Tháp
để từ đó thấy được những hiệu quả đạt được về các mặt kinh tế, xã hội, môi trường.

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại địa phương
3.1.1. Điều kiện tự nhiên.
3.1.1.1. Vị trí địa lý.
Xã Đồng Tháp nằm ở phía tây nam huyện Đan Phượng, cách Thủ đô
Hà Nội 20km. Tổng diện tích đất tự nhiên là 276 ha bao gồm 5 thôn: Bãi Thụy,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status