khóa luận đánh giá kết quả xây dựng nông thôn mới tại xã trực đại, huyện trực ninh, tỉnh nam định - Pdf 26

LỜI CẢM ƠN
Để nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn
nhận được sự giúp đỡ từ các cá nhân, tổ chức từ trong và ngoài trường.
Vậy qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể thầy cô giáo trong Trường Đại
học Lâm Nghiệp, đặc biệt là thầy cô thuộc khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh đã dạy dỗ, dìu
dắt tôi trong suốt thời gian tôi học tại trường giúp tôi có kiến thức chuyên sâu về kinh tế.
Tôi xin cảm ơn cán bộ và nhân dân xã Trực Đại, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã giúp
đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu thu thập số liệu và khảo sát thực
tế tại địa phương.
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, chăm sóc, động viên tôi trong quá trình học
tập, tích lũy kiến thức.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Đặng Thị Hoa, người đã giảng dạy, tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Trong thời gian thực tập tôi đã cố gắng để hoàn thành báo cáo của mình, tuy nhiên khó
tránh khỏi thiếu xót. Vì vậy mong nhận được sự nhận xét, bổ sung của thầy cô.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Lưu Văn Hiền
DANH MỤC VIẾT TẮT
CNH-HDH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
NTM : Nông thôn mới
UBND : Uỷ ban nhân dân
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
CTXH : Chính trị xã hội
QHXD : Quy hoạch xây dựng
HD-ND : Hội đồng nhân dân
KT-XH : Kinh tế xã hội
HTX : Hợp tác xã
ĐẶT VẤN ĐỀ

Ninh, Tỉnh Nam Định”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng xây dựng nông thôn mới tại xã Trực Đại và trên cơ sở đó đưa ra giải
pháp nhằm đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã Trực Đại, Trực Ninh, Nam Định.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng mô hình nông thôn mới.
- Đánh giá kết quả xây dựng mô hình nông thôn mới tại xã Trực Đại.
- Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới tại
xã.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kết quả xây dựng nông thôn mới đang được triển khai
tại địa phương.
Nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về xây dựng mô hình nông thôn mới.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Tại xã Trực Đại, huyện Trực Ninh, Tỉnh Nam Định.
- Về thời gian:+ Số liệu được lấy trong 4 năm 2011-2014.
+ Thời gian thực hiện đề tài từ 01/2015-05/2015
1.4. Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm cơ bản của xã Trực Đại
- Thực trạng xây dựng nông thôn mới của xã Trực Đại.
- Những thuận lợi và khó khăn trong việc xây dựng nông thôn mới xã.
- Các giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác triển khai chương trình nông thôn
mới xã Trực Đại.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
1.5.1. Điều tra thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp: thông qua tài liệu, báo cáo tổng hợp, số liệu thống kê của xã với
các tài liệu như điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế xã hội, văn hóa đời sống của xã.

Nam chúng ta có thể hiểu: “ Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều
nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường
trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”.
Nông nghiệp là quá trình sản xuất ra lương thực, thực phẩm cung cấp cho con người và tạo
ra của cải cho xã hội.
Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp,
sống chủ yếu bằng ruộng vườn sau đó đến ngành nghề khác và tư liệu chính là đất đai.
- Nông thôn mới:
Trước tiên, nông thôn mới phải là nông thôn, chứ không phả là thị xã, thị trấn hay thành
phố, nông thôn mới khác với nông thôn truyền thống. Mô hình nông thôn mới là tổng thể , những
đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới đáp ứng yêu cầu mới
đặt ra trong nông thôn hiện nay. Nhìn chung mô hình nông thôn mới là mô hình cấp xã, thôn
được phát triển toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ và văn minh. Mô
hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển, có sự đổi mới về
tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế,
chính trị, văn hóa xã hội. Tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể
phổ biến và vận dụng trên toàn lãnh thổ.
Xây dựng mô hình nông thôn mới là việc đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của người
dân, tạo động lực cho mọi người phát triển kinh tế, xã hội góp phần thực hiện chính sách vì nông
nghiệp, nông dân, nông thôn. Thay đổi cơ sở vật chất, diện mạo đời sống, văn hóa qua đó thu hẹp
khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Đây là quá trình lâu dài và liên tục, là một trong những
nội dung quan trọng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trong đường lối, chủ trương phát triển đất
nước và các địa phương.
Nghị quyết 26/TQ – TW của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã đề ra chủ trương
xây dựng nông thôn mới phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân, phát triển
nông nghiệp và nông thôn nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cư dân ở nông thôn. Nghị
quyết đã xác định rõ mực tiêu: “ Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện
đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh
công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc dân tộc, dân
trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ, hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh

nông thôn và thành thị ngày càng lớn.
Về văn hóa - môi trường - y tế - giáo dục. Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp. Mức hưởng
thụ về văn hóa của người dân còn thấp, phát sinh nhiều vấn đề bức xúc, bản sắc văn hóa dân tộc
dần bị mai một, tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng. Hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển. Môi
trường sống bị ô nhiễm. Số trạm y tế đạt tiêu chuẩn thấp, y tế dự phòng của xã còn hạn chế.
Hệ thống chính trị tại cấp xã còn yếu về trình độ và năng lực điều hành. Nhiều cán bộ xã
chưa qua đào tạo, trình độ đại học chỉ khoảng 10%.
Vậy xây dựng nông thôn mới là một mô hình phát triển cả nông nghiệp và nông thôn, đi
sâu giải quyết nhiều lĩnh vực, có sự liên kết giữa các lĩnh vực với nhau tạo nên khối thống nhất
vững mạnh.
2.1.3. Vai trò của xây dựng mô hình nông thôn mới
Về kinh tế: Hướng đến nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, thị trường hội nhập. Thúc
đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi người tham gia vào thị trường,
hạn chế rủi ro cho nông dân, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo và khoảng cách mức sống giữa
nông thôn và thành thị. Xây dựng các hợp tác xã theo mô hình kinh doanh đa ngành. Hỗ trợ ứng
dụng khoa học kĩ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề ở
nông thôn. Sản xuất hàng hóa có chất lượng cao, mang nét đặc trưng của từng địa phương. Chú ý
đến các ngành chăm sóc cây trồng vật nuôi, trang thiết bị sản xuất, thu hoạch, chế biến và bảo
quản nông sản.
Về chính trị: Phát huy tinh thần dân chủ trên cơ sở chấp hành luật pháp, tôn trọng đạo lý
bản sắc địa phương. Tôn trọng hoạt động của đoàn thể, các tổ chức, hiệp hội vì cộng đồng, đoàn
kết xây dựng nông thôn mới.
Về văn hóa – xã hội: Chung tay xây dựng văn hóa đời sống dân cư, các làng xã văn minh,
văn hóa.
Về con người: Xây dựng hình tượng người nông dân tiêu biểu, gương mẫu. Tích cực sản
xuất, chấp hành kỉ cương, ham học hỏi, giỏi làm kinh tế và sẵn sàng giúp đỡ mọi người.
Về môi trường nông thôn: Xây dựng môi trường nông thôn trong lành, đảm bảo môi
trường nước trong sạch. Các khu rừng đầu nguồn được bảo vệ nghiêm ngặt. Chất thải phải được
xử lý trước khi vào môi trường. Phát huy tinh thần tự nguyện và chấp hành luật pháp của mỗi
người dân.

văn minh.
2.1.5. Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Căn cứ quyết định số 491/QĐ – TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính Phủ về việc
ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới.
• Các tiêu chí gồm 5 nhóm:
- Nhóm 1: Quy hoạch (1 tiêu chí)
- Nhóm 2: Hạ tầng kinh tế - xã hội (8 tiêu chí)
- Nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất (4 tiêu chí)
- Nhóm 4: Văn hóa – Xã hội – Môi trường (4 tiêu chí)
- Nhóm 5: Hệ thống chính trị ( 2 tiêu chí)
• Cụ thể 19 tiêu chí về nông thôn mới vùng Đồng bằng sông Hồng.
+ Tiêu chí thứ 1: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch
Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp hàng
hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ. Đạt.
Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo tiêu chuẩn mới. Đạt.
Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới theo hướng văn minh và bảo tồn bản sắc dân tộc.
Đạt.
+ Tiêu chí thứ 2: Giao thông nông thôn
Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được bê tông hóa hoặc nhựa hóa đạt chuẩn theo cấp kĩ
thuật của Bộ GTVT. Đạt 100%.
Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa chuẩn theo cấp kĩ thuật của Bộ GTVT. Đạt
100%.
Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện. Đạt 100%.
+ Tiêu chí 3: Thủy lợi
Hệ thống thủy lợi đáp ứng cơ bản yêu cầu sản xuất, sinh hoạt. Đạt.
Tỷ lệ kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa. Đạt 85% trở lên.
+ Tiêu chí 4: Điện nông thôn
Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kĩ thuật. Đạt.
Tỷ lệ hộ sử dụng điện, an toàn nguồn điện. Đạt 99% trở lên.
+ Tiêu chí 5: Trường học

+ Tiêu chí 17: Môi trường
Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn quốc gia. Đạt 90% trở lên. Các cơ sở
sản xuất, kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường.
Hạn chế tối đa các hoạt động suy giảm môi trường, tích cực phát triển môi trường xanh,
sạch đẹp.
Nghĩa trang được xây dựng đúng quy định.
Nước thải, chất thải được thu gom và xử lý theo quy định.
+ Tiêu chí 18: Hệ thống tổ chức chính trị
Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”. Các tổ chức đoàn thể
trong xã đạt danh hiệu tiên tiến trở nên. Hệ thống chính trị xã đầy đủ các tổ chức. Cán bộ xã đạt
tiêu chuẩn.
+ Tiêu chí 19: An ninh trật tự xã hội
An ninh địa phương phải được đảm bảo giữ vững.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Mô hình nông thôn mới của một số nước trên thế giới
2.2.1.1. Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
Những năm đầu 60 đất nước hàn quốc còn phát triển chậm, chủ yếu là sản xuất nông
nghiệp, dân số trong khu vực nông thôn chiếm đến 2/3 dân số cả nước. trước tình hình đó Hàn
Quốc đã đưa ra nhiều chính sách mới nhằm phát triển nông thôn. Qua đó xây dựng niềm tin của
người nông dân, tích cực sản xuất phát triển, làm việc chăm chỉ, độc lập và có tính cộng đồng
cao. Trọng tâm là phong trào xây dựng “làng mới” (Seamoul Undong).
Nguyên tắc cơ bản của làng mới là: nhà nước hỗ trợ vật tư cùng với sự đóng góp của nhân
dân. Nhân dân quyết định các dự án thi công, nghiệm thu và chỉ đạo các công trình. Nhà nước
hàn Quốc chú trọng tới nhân tố con người trong việc xây dựng nông thôn mới. do trình độ của
người nông dân còn thấp, việc thực hiện các chính sách gặp phải khó khăn, vì thế chú trọng đào
tạo các cán bộ cấp làng, địa phương. Tại các lớp tập huấn, sẽ thảo luận với chủ đề: “ làm thế nào
để người dân hiểu và thực hiện chính sách nhà nước”, sau đó các lãnh đạo làng sẽ cũng đưa ra ý
kiến và tìm giải pháp tối ưu phù hợp với hoàn cảnh địa phương.
Nội dung thực hiện dự án nông thôn mới của Hàn Quốc gồm có: phát huy nội lực của nhân
dân để xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn. Cải thiện cơ sở hạ tầng cho từng hộ dân và hỗ trợ

tiên tiến, phương thức quản lý hiện đại để phát triển nông nghiệp, nông thôn. Trong 15 năm sản
lượng lương thực của Trung Quốc đã tăng lên 3 lần so với những năm đầu 70. Mục tiêu phát triển
nông nghiệp là sản xuất các nông sản chuyên dụng, phát triển chất lượng tăng cường chế biến
nông sản.
Chương trình giúp đỡ vùng nghèo: Mục tiêu là nâng cao sức sống của các vùng nghèo,
vùng miền núi, dân tộc ít người, mở rộng ứng dụng thành tựu khoa học tiên tiến, phổ cập tri thức
khoa học công nghệ và bồi dưỡng khoa học cho cán bộ thôn, tăng sản lượng lương thực và thu
nhập nông dân. Sau khi chương trình được thực hiện, số dân nghèo đã giảm từ 1,6 triệu người
còn 5 vạn người, diện nghèo khó giảm tử 47% xuống còn 1,5%.
Rút bài học từ các nước phát triển, Việt Nam cần tập trung đầu tư vào nông thôn, nhằm
thay đổi diện mạo của nông thôn, làm nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại hóa.
2.2.2. Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Phong trào xây dựng nông thôn mới đã có bước phát triển mới, đã trở thành phong trào
chung và sâu rộng đến tất cả các địa phương trong cả nước kể từ khi Chính phủ tổ chức hội nghị
toàn quốc về xây dựng nông thôn mới và chính thức phát động phong trào thi đua "Cả nước
chung sức xây dựng nông thôn mới".
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008.Thủ tướng Chính
phủ đã ra quyết định số 193/QĐ-TTg "Phê duyệt công trình, rà soát quy hoạch xây dựng nông
thôn mới", Quyết định số 800/QĐ-TTg "phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020". Các bộ ngành như: Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn,
Xây dựng, Tài nguyên Môi trường, Giao thông vận tải và các Bộ khác đã ban hành nhiều thông
tư liên hộ, thông tư hướng dẫn để triển khai thực hiện. Đặc biệt đã ban hành bộ tiêu chí gồm 19
tiêu chí cụ thể về nông thôn mới, hướng dẫn chi tiết cho các địa phương thực hiện. Thông tư liên
tịch quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới.
Trung ương đã chỉ đạo làm điểm ở một số tỉnh, rút kinh nghiệm chỉ đạo ra diện rộng. Tập
trung đầu tư ngân sách cho các địa phương nhất là những nơi làm điểm, những địa phương có
nhiều khó khăn. Trên cơ sở đó đã tạo được lòng tin của nhân dân đối với chủ trương của Trung
ương, xây dựng quyết tâm thực hiện. Ở các địa phương đã làm tốt công tác tổ chức học tập quán
triệt Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương lần thứ VII (Khóa X) về nông nghiệp, nông dân,
nông thôn, các văn bản của Chính phủ, hướng dẫn của các bộ ngành đã nâng cao nhận thức đối

Nam, Đảng và Nhà nước đã chủ trương đẩy mạnh CNH-HDH nông nghiệp, nông thôn nhằm mục
tiêu phát triển nông thôn theo hướng hiện đại, đảm bảo phát triển về cả kinh tế và đời sống xã
hội. Nghị quyết X của Đảng đã đề ra nhiệm vụ thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới.
xây dựng các làng xã cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường lành mạnh.
Để xây dựng mô hình nông thôn mới thành công phải là một phong trào quần chúng rộng
lớn, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, có sự tham gia chủ động, tích cực của mỗi
người dân, cộng đồng dân cư, hệ thống chính trị cơ sở, sự hỗ trợ, giúp đỡ của Nhà nước, chính
quyền cấp cao.
2.2.4. Cơ sở pháp lý xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
- Nghị Quyết số 26/TW ngày 05/8/2008 của BCH Trung ương Đảng (Khóa X) về “Nông
nghiệp, nông dân, nông thôn ”.
- Quyết định số 491/TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành bộ tiêu chí
Quốc gia về nông thôn mới.
- Thông tư số 54/2009/TT – BNNN&PTNT ngày 21/8/2009 của Bộ NN&PTNT hướng dẫn
thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới.
- Quyết định số 800/ QĐ – TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-20120.
- Quyết định số 22-QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Phát triển văn hóa nông thôn
đến năm 2015, định hướng đến năm 2020”;
- Nghị định số 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ về “Chính sách tín dụng phục vụ phát triển
nông nghiệp, nông thôn” để chỉ đạo các chi nhánh, ngân hàng thương mại các tỉnh, thành phố bảo
đảm tang cường nguồn vốn tín dụng xây dựng NTM tại các xã.
- Nghị định 61/2010/NĐ-CP về khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông
thôn.
Phần III. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1. Vị trí địa lý và địa hình
- Vị trí địa lý:
Xã Trực Đại nằm cách xa trung tâm huyện, phía Bắc giáp sông Ninh Cơ, phía Nam giáp xã
Trực Thắng, Phía Đông giáp huyện Hải Hậu, phía Tây giáp xã Trực Thái, Trực Cường. Xã có 21

3.1.3. Nguồn nước và đất đai
- Nguồn nước:
Hệ thống sông cấp 1 dài 9,7km, nước tưới tiêu cho nông nghiệp chủ yếu là tự chảy, bề
rộng mặt nước khoảng 20-25m thuận lợi cho việc vận chuyển bằng phương tiện đường thủy.
- Đất đai:
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất của xã Trực Đại năm 2013
Stt Mục đích sử dụng Diện tích ( ha ) Tỷ lệ ( % )
Tổng diện tích đất 930,61 100
1 Đất nông nghiệp 659,19 70,83
Đất trồng cây hằng năm 510,85 54.90
Đất trồng cây lâu năm 80,45 8,63
Đất nuôi trồng thủy sản 67,89 7,30
2 Đất phi nông nghiệp 268,79 28,88
Đất ở 72,29 7,77
Đất chuyên dùng 143,66 15,44
Đất tôn giáo tín ngưỡng 4,08 0,04
Đất nghĩa trang 10,30 1,11
Đất sông và mặt nước 38,01 4,08
Đất phi nông nghiệp khác 0,45 0,004
3 Đất chưa sử dụng 2,63 0,28
Nguồn: Ban quản lý dự án xây dựng NTM xã Trực Đại
Xã Trực Đại thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ là khu vực đất đai màu mỡ có điều kiện tốt cho
phát triển nông nghiệp. Diện tích đất của xã chủ yếu là đất nông nghiệp chiếm đến 70% tổng số
diện tích đất.
3.2. Điều kiện về kinh tế - xã hội
3.2.1. Dân số và lao động của xã
Năm 2013, dân số toàn xã là 13.677 người với 4.131 hộ. Có 287 hộ tương ứng 957 khẩu
theo đạo thiên chúa. Mật độ dân số 1.470 người/km
2
, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,9%. Tổng số lao

sự phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống. Việc quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng
nhằm thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, từng bước thay đổi cơ cấu
kinh tế nông thôn, xóa đói giảm nghèo và giảm dần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.
- Về giao thông:
Đường bộ: Nhìn chung giao thông xã Trực Đại tương đối phát triển, xã có vị trí địa lý
thuận lợi, có tỉnh lộ 56 dài 1,7km, huyện lộ Nam Ninh Hải chạy qua góp phần mở rộng giao lưu
hàng hóa với các huyện lân cận, thúc đẩy phát triển kinh tế, sản xuất, nâng cao đời sống nhân
dân. Hệ thống đường giao thông nông thôn có chiều dài 95,2km, gồm đường trục xã 4km, đường
liên thôn 11,2km, đường dong xóm 56,9km, đường giao thông nội đồng 8,7km. Phần lớn đã được
rải nhựa và bê tông hóa. Hệ thống giao thông nội đồng chưa hoàn chỉnh còn nhỏ hẹp. Để đáp ứng
nhu cầu phát triển kinh tế xã hội yêu cầu cấp thiết làm mới một số tuyến đường, mở rộng và nâng
cấp những tuyến đường đã có.
Đường thủy: Địa bàn xã có sông Ninh Cơ, sông Thốp, dài 9,7km, bề rộng mặt nước trung
bình 20-25m tạo thuận lợi cho việc vận chuyển bằng đường thủy.
- Về thủy lợi:
Hệ thống tưới tiêu chủ yếu là tự chảy, phần lớn diện tích được tưới tiêu chủ động. Hệ thống
sông cấp 1 dài 9,7km. Hàng năm chưa được nạo vét thường xuyên, chủ yêu giải tỏa vật cản. Cống
tưới tiêu có 264 chiếc gồm 23 cống đầu kênh cấp 2 và 241 cống đầu kênh cấp 3. Hệ thống đầu
mối hầu hết đã xuống cấp.
- Hệ thống điện:
Hiện tại xã có 7 trạm biến áp, tổng công suất 1.470kv; đường dây trục hạ thế 10kv dài
6,6km, đường dây trục 0,4kv dài 36,4km. Tỷ lệ hộ dùng điện đạt 100%. Hệ thống điện được xây
từ năm 1986. Tuy đã được sửa chữa, nâng cấp nhiều lần nhưng do được xây dựng từ lâu nên hiện
tại đường dây nhiều loại kích cỡ, tiết diện nhỏ gây tổn thất điện năng, không đảm bảo an toàn.
- Trường học:
Trường mầm non gồm 2 trường với 16 phòng học, diện tích 676m
2
diện tích sân chơi
4.464m
2

cách mạng, được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng
chiến chống Pháp. Đảng bộ, chính quyền địa phương nhiều năm được công nhận là trong sạch,
vững mạnh, đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị địa
phương. Tình hình ăn ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương ổn định, không có khiếu kiện
vượt cấp.
3.2.5. Hệ thống thông tin liên lạc
Xã hội ngày càng phát triển, hệ thống thông tin liên lạc là một phần không thể thiếu được
của bà con nhân dân trong xã. Nhờ hệ thống thông tin thông suốt từ xã đến thôn đã thực hiện
tuyên truyền những đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và những quy định
của địa phương đến người dân. Góp phần nâng cao dân chí và phục vụ kịp thời cho các sự kiện
chính trị, vận động học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tổ chức xét nhận gia đình văn
hóa…
3.2.6. Thực trạng kinh tế
- Kinh tế: Trực Đại là một xã sản xuất nông nghiệp chủ yếu, có 2.442 lao động sản xuất
trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 17,7% dân số, chủ yếu là trồng lúa, rau màu, cây ăn quả, chăn
nuôi và nuôi trồng thủy sản. Chăn nuôi tuy phát triển nhưng chủ yếu là chăn nuôi hộ gia đình quy
mô nhỏ, số gia trại, trang trại chưa nhiều. Ngành nghề nông thôn có: nghề mộc, may mặc, xây
dựng dân dụng, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông sản… nhìn chung ngành nghề phát
triển, tỷ trọng khá tuy nhiên quy mô nhỏ lẻ, phân tán.
- Giá trị sản xuất năm 2013 đạt 304.369 triệu đồng trong đó:
Nông nghiệp thủy sản: 111.318 triệu đồng ( 36,57% )
Tiểu thủ công nghiệp, xây dựng: 88.711 triệu đồng ( 29,15%)
Dịch vụ: 104.340 triệu đồng ( 34,28%)
Thu nhập bình quân là 12,67 triệu đồng/người/năm
Tỷ lệ hộ nghèo là 11,6%
3.3. Thuận lợi và khó khăn của xã trong phát triển kinh tế xã
3.3.1. Thuận lợi
Trực Đại là xã có quy mô dân số, lao động, đất đai trung bình của huyện Trực Ninh. Xã có
đường tỉnh lộ 56 chạy qua rất thuận lợi cho phát triển thương mại, và dịch vụ. Xã có nghề tiểu thủ
công nghiệp và xây dựng phát triển. (nghề may, mộc…)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status