Đánh giá kết quả thực hiện đề án xây dựng nông thôn mới tại xã Hải Phong, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định giai đoạn 2011 2015 - Pdf 36

LỜI CẢM ƠN

Qua quá trình học tập tại khoa Quản lý đất đai – Trường đại học Tài nguyên và
môi trường Hà Nội và sau thời gian thực tập tại UBND xã Hải Phong, huyện Hải Hậu,
tỉnh Nam Định , em đã học được rất nhiều kiến thức bổ ích và những kinh nghiệm từ
thực tiễn cuộc sống vô cùng quý báu. Vận dung những kiến thức có được em đã tiến
hành nghiên cứu đề tài : “ Đánh giá kết quả thực hiện đề án xây dựng nông thôn
mới tại xã Hải Phong, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định giai đoạn 2011- 2015”.
Trước tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới sự giúp đỡ nhiệt tình của
TS. Phạm Anh Tuấn đã dành thời gian quý báu của mình để tận tình hướng dẫn và
giúp đỡ cho em hoàn thành tốt đồ án. Tiếp đến em xin gửi lời cám ơn tới tập thể các
thầy cô giáo trong khoa Quản lý đất đai đã trang bị cho em những kiến thức hữu ích;
dãy dỗ, chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập tại trường.
Em cũng xin chân thành cám ơn toàn thể cán bộ trong UBND xã Hải Phong đã
tạo điều kiện, giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn cho em để em có thể hoàn thành tốt nhất đồ
án của mình.
Cuối cùng, em xin gửi lời cám ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè đã luôn bên
cạnh giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập tại trường cũng như thời gian
thực tập địa phương vừa qua.
Em xin chân thành cám ơn !
Nam Định, ngày 26 tháng 4 năm 2016
Sinh viên

Hoàng Thị Thu Hương

1


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT

xuyên

5

NTM

Nông thôn mới

6

THCS

Trung học cơ sở

7

THPT

Trung học phổ thông

8

UBND

Ủy ban nhân dân

9

XDNTM


triển đất nước. Địa bàn rộng lớn của nông thôn có vị trí hết sức quan trọng để phát
triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị và đảm bảo an ninh quốc phòng. Nhân thức
được tầm quan trọng đó, Đảng và nhà nước ta đã đã đề ra các chủ trương, chiến lược
phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn toàn diện theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, xây dựng nông thôn mới. Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho nông dân. Thực hiện xóa đói, giảm nghèo. Hệ thống chính trị ở nông
thôn được củng cố và tăng cường. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ
vững. Vị thế của người nông dân ngày càng được nâng cao.
Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều những vấn đề còn tồn đọng, xã hội phát triển đồng
nghĩa với tốc độ đô thị hóa quá nhanh, dẫn tới sự chênh lệch lớn giữa các vùng. Đời
sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn yếu kém, tỷ lệ hộ nghèo cao
nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, chênh lệch giàu nghèo giữa các
vùng còn lớn,các vấn đề xã hội phức tạp phát sinh… Nhận thức được vấn đề này, tại
hội nghị lần thứ 7 ban chấp hành trung ương đảng khóa X về “ Nông nghiệp, nông
dân, nông thôn” đã xác định: “ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.”, trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông
dân là chủ thể của quá trình phát triển. Thực hiện Nghị quyết 26- NQ/TW, ngày
05/08/2008, hội nghị lần thứ 7 ban chấp hành trung ương Đảng khóa X về “ Nông
nghiệp, nông dân, nông thôn”, thủ tướng đã phê duyệt “ Bộ tiêu chí Quốc gia về nông
thôn mới” ( quyết định số 491/QĐ – TTg ngày 16/04/2009) và “Chương trình mục tiêu
Quốc gia về xây dựng nông thôn mới” tại Quyết định số 800/QĐ – TTg ngày
06/04/2010 nhằm thống nhất chỉ đạo việc xây dựng nông thôn mới trên cả nước.
Góp phần thực hiện phong trào xây dựng nông thôn mới của cả nước, chính
quyền cũng như toàn thể nhân dân của xã Hải Phong, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
đã tiến hành thực hiện phương án quy hoạch xây dựng nông thôn mới dưới sự chỉ đạo
của Hội đồng nhân dân tỉnh Nam Định về Chương trình quy hoạch phát triển nông
thôn mới Tỉnh Nam Định. Sau 5 năm ( 2011- 2015) thực hiện đề án quy hoạch nông
thôn mới, đời sống tinh thần của người dân, cơ sở vật chất và diện mạo xã Hải Phong
đã có rất nhiều sự thay đổi đáng tự hào. Trình độ dân trí ngày một nâng cao, người dân

có thể đưa ra khái niệm tổng quát về vùng nông thôn như sau “Nông thôn là vùng
khác với đô thị là ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông thôn, làm nghề chính là
nông nghiệp, có mật độ dân cư thấp hơn; có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn; có
mật độ phúc lợi thua kém hơn; có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản
xuất hàng hóa thấp hơn”. Tuy nhiên khái niệm trên cần được đặt trong điều kiện thời
gian và không gian nhất định của nông thôn mỗi nước, mỗi vùng và cần phải tiếp tục
nghiên cứu để có khái niệm chính xác và hoàn chỉnh.
Ở Việt Nam theo Nghị định số: 41/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010.Về
chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn quy định “ Nông thôn
là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị, các thành phố, thị xã, thị trấn, được
quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”
b) Nông thôn mới là gì?
Nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất,văn hóa, tinh thần của
người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành
thị. Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị
vững vàng, đóng vai trò làm chủ Nông thôn mới.
Nông thôn mới có kinh tế phát tiển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây
dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp
với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc,
môi trường sinh thái được bảo vệ. Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao,
đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội.

7


c) Xây dựng nông thôn mới là như thế nào?
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng
dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch
đẹp, phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống
văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất,


+ Nhóm 5: Hệ thống chính trị

- 2 tiêu chí

Một xã đạt đủ 19 tiêu chí là đạt tiêu chuẩn nông thôn mới.
Căn cứ vào Bộ tiêu chí quốc gia, các Bộ ngành liên quan đều xây dựng quy
chuẩn của ngành, chủ yếu là các tiêu chuẩn kỹ thuật cho các công trình hạ tầng, để áp
dụng khi xây dựng nông thôn mới.
Ngày 20/2/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định 342/QĐ- TTg sửa
đổi 5 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban hành tại Quyết định số 491 QĐTTg. Theo đó, 5 tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, gồm: tiêu chí số

8


7 về chợ nông thôn, tiêu chí số 10 về thu nhập, tiêu chí số 12 về cơ cấu hạ tầng, tiêu
chí số 14 về giáo dục và tiêu chí số 15 về y tế.
Bảng 1.1. Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới.
T
T
1

Tên tiêu chí

Nội dung tiêu chí

Quy hoạch và thự Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển
hiện quy hoạch
sản xuất nông nghiệp, hàng hóa, công nghiệp, tiêu thủ công
nghiệp, dịch vụ


Điện

4.1 Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện
4.2 Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các
nguồn

5

Trường học

Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học,
THCS có cơ sử vật chất đạt chuẩn quốc gia

6

Cơ sở vật chất văn 6.1 Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ VHhóa
TT-DL.
6.2 Tỷ lệ thông có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy
định của Bộ VH-TT-DL

7

Chợ nông thôn

Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng

8

Bưu điện


Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông,
lâm, ngư nghiệp

13

Hình thức tổ chức Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả
sản xuất

14

Giáo dục

14.1 Phổ biến giáo dục trung học
14.2 Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học
trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề)
14.3 Tỷ lệ lao động qua đào tạo

15

Y tế

15.1 Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế
15.2 Y tế xã đạt chuẩn quốc gia

16

Văn hóa

Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn

( Nguồn: Quyết định 491/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ)

1.1.2) Đặc trưng, nguyên tắc xây dựng vai trò của nông thôn mới.

10


a) Đặc trưng nông thôn mới.
NTM thời kỳ CNH- HĐH, giai đoạn 2010-2020 bao gồm 5 đặc trưng cơ bản
sau:
Một: Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn
được nâng cao.
Hai: Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện
đại, môi trường sinh thái được bảo vệ.
Ba: Dân chí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy.
Bốn: An ninh tốt, quản lý dân chủ.
Năm: Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao.
b) Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
Nhiệm vụ XDNTM là một trong những nhiệm vụ quan trọng theo tinh thần Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa X về nông
nghiệp, nông dân, nông thôn.
Theo đó Chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM thực hiện theo 06 nguyên tắc
sau:
Một: Các nội dung, hoạt động của Chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM
phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban
hàng tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính
phủ (sau đây gọi là Bộ tiêu chí Quốc gia NTM).
Hai: Phát huy vai trò chủ thế của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà
nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ
trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện. Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng

trật tự được giữ vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bốn: Hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng
cường, XD giai cấp công nhân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức.
d) Vai trò của xây dựng nông thôn mới.
Xây dựng NTM nhằm đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn phát triển toàn
diện, có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là cơ sở và
lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, đảm
bảo an ninh, quốc phòng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi
trường sinh thái. Nâng cao đời sống, vật chất và vị thế của nông dân và nông dân là
chủ thể của quá trình phát triển; cơ cấu kinh tế được phát triển hợp lý, kết cấu hạ tầng
kinh tế xã hội từng bước được hoàn thiện; sản xuất nông lâm nghiệp phát triển toàn
diện, bền vững theo hướng tăng năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao.
1.2. Căn cứ pháp lý và tài liệu xây dựng đề án nông thôn mới.
Căn cứ pháp lý chung của đề án xây dựng nông thôn mới.

12


Căn cứ Nghị quyết 26/NQ-TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 hội nghị lần thứ 7 của
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn xác
định nhiệm vụ xây dựng: “ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.”
Căn cứ Nghị quyết 24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ
ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết hội nghị lần
thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Căn cứ Quyết định số: 800/QĐ-TTg ngày 4 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng
Chính phủ; phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về XDNTM giai đoạn 20102020.
Căn cứ Quyết định số: 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng
Chính phủ về việc: Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM.
Căn cứ Thông tư số: 32/2009/TT-BXD ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Bộ XD
về việc: Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia quy hoạch XD nông thôn.

Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm
2015, phương hướng nhiệm vụ 2016.
1.3. Cơ sở thực tiễn
1.3.1. Tình hình xây dựng mô hình nông thôn mới ở Việt Nam
a. Những kết quả bước đầu
Thực hiện nghị quyết trung ương 7 ( khóa X), thủ tướng chính phủ đã ban hành
bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới tại quyết định 491/QĐ- TTg, ngày 16/4/2009 và
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020 tại
Quyết định 800/QĐ- TTg, ngày 04/06/2010 để tiến hành xây dựng nông thôn mới.
Qua 5 năm thực hiện, phong trào xây dựng nông thôn mới đã diễn ra sôi nổi ở khắp
các địa phương trên cả nước, thu hút sự tham gia của toàn thể cộng đồng, phát huy
được sức mạnh của cả xã hội. Quá trình xây dựng nông thôn mới đã đạt được nhiều
kết quả quan trọng, tạo nên nhiều chuyển biến mới trong nông nghiệp, bộ mặt nông
thôn được đổi mới, đời sống nhân dân được nâng lên. Nông nghiệp giữ được mức tăng
trưởng ổn định, phát triển tương đối toàn diện; năng suất, chất lượng nhiều loại cây
trồng vật nuôi được nâng lên, sản xuất tăng thu nhập. Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội
cơ bản đảm bảo, tạo sự thuận lợi trong giao lưu, buôn bán và phát triển sản xuất. Dân
chủ cơ sở được phát huy; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; vị thế
của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao.
Xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào quần chúng sôi nổi và tương
đối đều khắp cả nước, bộ máy chỉ đạo thực hiện từ TW đến địa phương được tổ chức
thống nhất và đồng bộ. Các cơ chế, chính sách được ban hành kịp thời và đồng bộ,
đồng thời phổ biến tới người dân một cách rõ ràng, cụ thể.
Theo báo cáo tổng hợp của Ban chỉ đạo, tính đến hết tháng 11/2015, cả nước có
1.298 xã (14,5%) được công nhận đạt chuẩn NTM; số tiêu chí bình quân/xã là 12,9
tiêu chí (tăng 8,2 tiêu chí so với 2010); số xã khó khăn nhưng có nỗ lực vươn lên (xuất
phát điểm dưới 3 tiêu chí, nay đã đạt được 10 tiêu chí trở lên) là 183 xã.

14


trình mục tiêu quốc gia XDNTM chính là cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương 7, Khóa
X để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, trực tiếp góp phần quan
trọng vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do vậy, người đứng đầu
cấp ủy và chính quyền các cấp phải trực tiếp chỉ đạo việc triển khai thực hiện Chương
trình XDNTM với mục tiêu cuối cùng là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
người dân thông qua quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, phát triển công nghiệp và

15


dịch vụ ở nông thôn theo cơ chế thị trường, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, nhân lực và các nguồn vốn. XDNTM là yếu tố quyết định cho sự phát
triển nông nghiệp, nông thôn bền vững, đồng thời là nền tảng để đảm bảo sự phát triển
bền vững của đất nước.
- Về phương hướng, nhiệm vụ, cần chú trọng các nội dung
Một: Cần tập trung đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông
nghiệp để tăng năng suất, tăng sản lượng và giá trị để tăng sức cạnh tranh của các sản
phẩm nông nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao đời sống nông dân
trong điều kiện đất đai có hạn, dân số tăng lên. Hết sức chú trọng đến việc nghiên cứu
sử dụng giống cây, giống con; biện pháp tưới tiêu, canh tác mới, giảm tổn thất sau thu
hoạch ..., có cơ chế chính sách đặc thù để khuyến khích các nhà khoa học tạo ra những
đột phá trong nghiên cứu giống mới có giá trị cao.
Hai: XD quan hệ sản xuất mới phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất:
Thúc đẩy mạnh mẽ việc liên kết, hợp tác, hình thành các mô hình tổ chức phù hợp yêu
cầu điều kiện cụ thể. Tăng cường rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sản xuất nông
nghiệp phù hợp với yêu cầu tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển thị trường hàng hóa
nông nghiệp trong điều kiện hội nhập quốc tế. Quy hoạch NTM cần chú trọng tính liên
kết, bảo đảm thống nhất với quy hoạch XD liên vùng và các quy hoạch chuyên ngành
khác để có thể phát triển và khai thách đồng bộ kết cấu hạ tầng, đáp ứng sản xuất nông
nghiệp hàng hóa lớn.

- Về các giải pháp.
Một: Tăng cường nhận thức và quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp
và của cả hệ thống chính trị về ý nghĩa, tầm quan trọng của Chương trình XDNTM để
cùng chung sức tham gia, đóng góp.
Hai: Có các cơ chế, chính sách thích hợp và đủ mạnh để thực sự khuyến khích
việc ứng dụng khoa học - công nghệ, huy động nguồn lực, thu hút doanh nghiệp, đào
tạo nhân lực.
Ba: Tăng cường các biện pháp tổ chức, chỉ đạo thực hiện; khẩn trương kiện toàn
và nâng cao năng lực hoạt động của Ban Chỉ đạo các cấp, nghiên cứu mô hình tổ chức
điều phối giúp Ban Chỉ đạo các cấp ở địa phương theo hướng bố trí cán bộ chuyên
trách trong phạm vi tổng biên chế được giao; ở các cấp cần xây dựng chương trình, kế
hoạch hoạt động và phân công cán bộ cụ thể. Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc
sát sao; tổ chức định kỳ công tác sơ kết, tổng kết để đánh giá, khen thưởng và uốn
ănns kịp thười. Đẩy mạnh công tác thi đua, khen thưởng, phát hiện kịp thời những
cách làm hay, mô hình tốt để phổ biến ra diện rộng.
Bốn: Trong quá trình thực hiện Chương trình, lưu ý không áp đặt một cách xơ
cứng, máy móc các tiêu chí về NTM, mà cần điều chỉnh phù hợp thực tiễn nhằm đạt
được sớm nhất mục tiêu của Chương trình.
Năm: Về một số kiến nghị của các tỉnh: Về các kiến nghị của các địa phương
liên quan đến huy động và lồng ghép nguồn vốn; điều chỉnh tiêu chí đặc thù XDNTM;
mô hình tổ chức bộ máy chuyên trách giúp việc Ban Chỉ đạo các cấp; vay vốn cho
nông dân, tín dụng cho người nghèo; cơ chế lồng ghép đầu tư hạ tầng; cơ chế liên kết
nông dân và doanh nghiệp: Giao Thường trực Ban Chỉ đạo căn cứ Quyết định

17


639/QĐ-TTg ngày 5 tháng 5 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành Chương
trình công tác năm 2014 của Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia
XDNTM, tổng hợp, đôn đốc các Bộ, ngành liên quan khẩn trương ban hành theo thẩm

Ngoài ra, tổng thống còn ký mời 2 lãmh đạo ở cấp làng xã tham dự cuộc họp của Hội
đồng Chính phủ để trực tiếp lắng nghe ý kiền từ các đại diện. Nhằm tăng thu nhập cho

18


nông dân, Chính phủ Hàn Quốc áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc
nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông sản. Ngân hàng nông nghiệp cho doanh
nghiệp vay vốn đầu tư về nông nghiệp với lãi suất giảm 2% so với đầu vào các ngành
nghề khác.
Theo báo cáo của chuyên gia kinh tế Hàn Quốc, trong vòng 10 năm triển khai
“Saemaul Undong” từ 1971-1980, tổng kinh phí đầu tư cho các dự án là 3.425 tỷ won (
tương đương khoảng 3 tỷ USD). Trong số đó đóng góp của người dân chiếm phần lớn
49,4%; hỗ trợ của chính phủ chỉ 27,8%; phần còn lại là các khoản nông dân vay của
các tổ chức tín dụng. Nếu tính cả phần vốn vay, sự đóng góp của người dân là 72,2%.
Thực tế cho thấy sự hỗ trợ của chính phủ trong giai đoạn đầu là rất quan trọng, những
rõ ràng sự đóng góp của người dân mới quyết định thành công của các dự án.
Trong 10 năm, các dự án đã làm được 61.797 km đường vào thôn (đạt 126% kế
hoạch); 43.558 km đường trong thôn (166%); 79.516 cầu cống nhỏ (104%); 37.012
nhà văn hóa (104%); 15.559 km đường cống nước thải (179%); 2.777.500 hộ nông
thôn được cấp điện (98%); 717 xí nghiệp nông nghiệp (75%); 22.143 nhà kho (64%);
225.000 ngôi nhà được cải tạo (42%) và quy hoạch mới cho 2.747 ngôi làng ... Thành
tích này đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo nông thôn Hàn Quốc.
Năm 2005, Nhà nước ban hành đạo luật quy định mọi hoạt động các bộ, ngành,
chính quyền phải hướng về nông dân. Nhờ hiệu quả của phong trào Saemaul Undong
mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn , lạc hậu đã cất cánh trở thành nước
có nền kinh tế đứng thứ 12 trên thế giới, với thu nhập đầu người hiện nay vượt trên
20.000 USD.
b. Mô hình phát triển nông thôn ở Trung Quốc.
Từ năm 1978, Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách cải cách ở nông thôn.

phân loại theo 4 tiêu chí: Có thể xuất khẩu với giá thương hiệu, sản xuất liên tục và
nhất quán; Tiêu chuẩn hàng hóa, đặc biệt, mỗi sản phẩm đều có một câu chuyện riêng.
Các tiêu chí trên đã tạo thêm lợi thêm lợi thế cho du lịch Thái Lan vì du khách luôn
muốn tận mắt chứng kiến quá trình sản xuất sản phẩm, từ đó có thể hiểu biết thêm về
tập quán, lối sống của người dân địa phương.
d. Nông thôn ở Hà Lan: Sự kết hợp thành công giữa nông nghiệp và công
nghiệp
Hà Lan đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đặc biệt là nông nghiệp cây trồng
trong nhà kính và yếu tố thành công này chính là hạt nhân “nông thôn mới” ở đây. Tỷ
lệ sản xuất rau quả và hoa góp phần cung cấp nhu cầu khổng lồ trên toàn thế giới. Các
nhà quản lý và xây dựng hình tượng nông thôn mới ở Hà Lan đã rất xuất sắc trong việc
nắm bắt các thị trường khác về hoa, cây cảnh và các sản phẩm vườn ươm. Bên cạnh
hoa tulip là loại hoa làm cho Hà Lan trên thế giới, các loại hoa khác như hoa hồng, hoa
cúc, hoa cẩm chướng cũng là đặc sản mà Hà Lan sản xuất trong các “nhà máy kính”
chiếm tỷ lệ lớn sản xuất hoa của thế giới.
Hệ thống sản xuất và phân phối của nông dân Hà Lan được tổ chức rất tốt ở tất
cả các quy trình. Việc trồng cây trong nhà kính đại diện cho hình thức nông nghiệp
nhân tạo thành công. Đây là quá trình nỗ lực sử dụng các kỹ thuật như trong ống
nghiệm tăng trưởng, thủy văn, chế ngự khí hậu hoàn toàn chủ động. Đây là loại hình
sản xuất có sự kết hợp của các hoạt động công nghiệp và nông nghiệp.

20


21


CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.

quy định của pháp luật;
- Số liệu, tài liệu thu thập được phải trung thực, khách quan, chính xác.
- Những đề xuất phải có tính khả thi, phù hợp với thực trạng của địa phương.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Đánh giá kết quả thực hiện đề án xây dựng nông thôn mới tại xã Hải Phong,
huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định giai đoạn 2011- 2015.

22


2.4. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp điều tra thu thập số liệu.
- Thu thập số liệu thứ cấp: là phương pháp thu thập số liệu thông qua sách báo, tại liệu,
các niên giám thống kê, báo cáo tổng kết đã được công bố của xã Hải Phong. Từ đó sẽ nắm
được các tài liệu có liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường,... trên địa
bàn xã trong thời gian nghiên cứu.
- Thu thập số liệu sơ cấp:
+ Phương pháp quan sát: là pương pháp quan sát trực tiếp hay gián tiếp bằng các dụng
cụ để nắm được tổng quan về địa hình, địa vật trên địa bàn nghiên cứu.
+ Phương pháp chuyên gia: là phương pháp tham khảo ý kiến của các chuyện gia về
lĩnh vực nghiên cứu. Đồng thời sử dụng một số kết quả nghiên cứu có liên quan đến phạm trù
này một cách linh hoạt, hợp lý và cần thiết.
+ Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc: là ơhương pháp phỏng vấn dựa trân danh
mục các câu hỏi hoặc chủ đề đề cập đến. Tuy nhiên, thứ tự và cách đặt câu hỏi tùy thuộc vào
ngữ cảnh và tâm trạng của đối tượng phỏng vấn.
b. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu.
Đề tài được thực hiện tại địa điểm là xã Hải Phong , huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
c. Phương pháp xử lý số liệu.
Từ các nguồn số liệu điều tra thu thập thông tin về địa bàn nghiên cứu, tiến hành tổng
hợp, phân tích số liệu. Biểu diễn trên các bảng biểu.

-

3.1.1.2. Địa hình, địa mạo
Địa hình của xã Hải Phong tương đối bằng phẳng, đất đai phì nhiêu, có nhiều
sông ngòi, là nguồn cung cấp nước dồi dào cho tưới tiêu và sinh hoạt, tạo điều kiện
thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
Đường giao thông chính trong xã có cao độ trung bình +2,3 m ÷ +2,5 m.
Đồng ruộng có cao độ trung bình +0,7 m ÷ +0,8 m.
Nền nhà ở ven trục giao thông chính có cao độ trung bình +2,5m ÷ +2,6m, khu dân cư

-

làng xóm có cao độ từ +1,9 m ÷ + 2,5m.
Các dòng chảy chảy theo hướng Bắc - Nam đổ ra biển. Các ao hồ có cao độ đáy +0,3
m.
3.1.1.3. Khí hậu
Xã Hải Phong thuộc đồng bằng Bắc Bộ và nằm gần biển nên mang khí hậu đặc
trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa, trong đó có mùa xuân và mùa thu
là 2 mùa chuyển tiếp, mùa hạ và mùa đông có khí hậu trái ngược nhau. Mùa nóng mưa
nhiều từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh và khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4
năm sau.
*Nhiệt độ không khí:
- Nhiệt độ trung bình trong năm: 23 – 24

24


- Nhiệt độ trung bình mùa hạ: 27
- Nhiệt độ trung bình mùa đông: 18,90
- Nhiệt độ trung bình cao nhất: 24


trung bình 1,9 – 2,2 m/s . Tốc độ gió cựa đại ( khi có bão ) là 40m/s , đầu mùa hạ
thường xuất hiện những đợt gió tây khô nóng gây tác động xấu đến cây trồng .
Bão : do nằm trong vùng Vịnh Bắc Bộ nên hằng năm thường chịu ảnh hưởng của gió
bão hoặc áp thấp nhiệt đới , bình quân từ 4 – 6 cơn bão một năm .
Nhìn chung , khí hậu của xã Hải Phong rất thuận lợi cho sự phát triển của hệ
sinh thái động , thực vật , phát triển sản xuất nông nghiệp , đặc biệt là nviệc gieo trồng
có thể tiến hành quanh năm , đồng ruộng mỗi năm canh tác trung bình được hai vụ
lúa . Tuy nhiên còn có sự khó khan do lượng mưa phân bố không đồng đều nên thường
xảy ra úng vào vụ mùa . Mùa xuân độ ẩm cao, số giờ nắng thấp , tạo điều kiện cho sâu
bệnh phát triển , ảnh hưởng lớn đến năng xuất , chất lượng cây trồng .
3.1.1.4 . Địa chất – Thủy văn .

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status