Đánh giá kết quả thực hiện đề án xây dựng nông thôn mới tại xã Hải Phong, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định giai đoạn 2011 2015 - Pdf 38

LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình học tập tại khoa Quản lý đất đai – Trường đại học Tài nguyên và
môi trường Hà Nội và sau thời gian thực tập tại UBND xã Hải Phong, huyện Hải Hậu,
tỉnh Nam Định , em đã học được rất nhiều kiến thức bổ ích và những kinh nghiệm từ
thực tiễn cuộc sống vô cùng quý báu. Vận dung những kiến thức có được em đã tiến
hành nghiên cứu đề tài : “ Đánh giá kết quả thực hiện đề án xây dựng nông thôn
mới tại xã Hải Phong, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định giai đoạn 2011- 2015”.
Trước tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới sự giúp đỡ nhiệt tình của
TS. Phạm Anh Tuấn đã dành thời gian quý báu của mình để tận tình hướng dẫn và
giúp đỡ cho em hoàn thành tốt đồ án. Tiếp đến em xin gửi lời cám ơn tới tập thể các
thầy cô giáo trong khoa Quản lý đất đai đã trang bị cho em những kiến thức hữu ích;
dãy dỗ, chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập tại trường.
Em cũng xin chân thành cám ơn toàn thể cán bộ trong UBND xã Hải Phong đã
tạo điều kiện, giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn cho em để em có thể hoàn thành tốt nhất đồ
án của mình.
Cuối cùng, em xin gửi lời cám ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè đã luôn bên
cạnh giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập tại trường cũng như thời gian
thực tập địa phương vừa qua.
Em xin chân thành cám ơn !
Nam Định, ngày

tháng

năm

Sinh viên
Hoàng Thị Thu Hương

1

1

10

VH- TT- DL

2

Dịch nghĩa
An ninh trật tự
Hội đồng nhân dân
Hợp tác xã
Giáo dục thường
xuyên
Nông thôn mới
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Ủy ban nhân dân
Xây dựng nông thôn
mới
Văn hóa- Thể thaoDu lịch


MỤC LỤC

3

3


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Từ xưa tới nay, Việt Nam là một đất nước thuần nông với khoảng 70% dân số
là nông dân, chính vì vậy nông dân được coi là lực lượng nòng cốt trong quá trình phát
triển đất nước. Địa bàn rộng lớn của nông thôn có vị trí hết sức quan trọng để phát
triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị và đảm bảo an ninh quốc phòng. Nhân thức
được tầm quan trọng đó, Đảng và nhà nước ta đã đã đề ra các chủ trương, chiến lược
phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn toàn diện theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, xây dựng nông thôn mới. Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho nông dân. Thực hiện xóa đói, giảm nghèo. Hệ thống chính trị ở nông
thôn được củng cố và tăng cường. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ
vững. Vị thế của người nông dân ngày càng được nâng cao.
Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều những vấn đề còn tồn đọng, xã hội phát triển đồng
nghĩa với tốc độ đô thị hóa quá nhanh, dẫn tới sự chênh lệch lớn giữa các vùng. Đời
sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn yếu kém, tỷ lệ hộ nghèo cao
nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, chênh lệch giàu nghèo giữa các
vùng còn lớn,các vấn đề xã hội phức tạp phát sinh… Nhận thức được vấn đề này, tại
hội nghị lần thứ 7 ban chấp hành trung ương đảng khóa X về “ Nông nghiệp, nông
dân, nông thôn” đã xác định: “ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.”, trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông
dân là chủ thể của quá trình phát triển. Thực hiện Nghị quyết 26- NQ/TW, ngày
05/08/2008, hội nghị lần thứ 7 ban chấp hành trung ương Đảng khóa X về “ Nông
nghiệp, nông dân, nông thôn”, thủ tướng đã phê duyệt “ Bộ tiêu chí Quốc gia về nông
thôn mới” ( quyết định số 491/QĐ – TTg ngày 16/04/2009) và “Chương trình mục tiêu
Quốc gia về xây dựng nông thôn mới” tại Quyết định số 800/QĐ – TTg ngày
06/04/2010 nhằm thống nhất chỉ đạo việc xây dựng nông thôn mới trên cả nước.
Góp phần thực hiện phong trào xây dựng nông thôn mới của cả nước, chính
quyền cũng như toàn thể nhân dân của xã Hải Phong, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
đã tiến hành thực hiện phương án quy hoạch xây dựng nông thôn mới dưới sự chỉ đạo

Theo từ điển bách khoa toàn thư: “ Nông dân là những người lao động cư trú ở
vùng nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp. Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng
vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai. Tùy từng quốc
gia, tưng thời kì lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất. Họ
hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội.”
Hiện nay chưa có một định nghĩa chuẩn xác được chấp nhận một cách rộng rãi
về nông thôn. Tuy nhiên khi tổng hợp các ý kiến của các nhà xã hội học, kinh tế học
có thể đưa ra khái niệm tổng quát về vùng nông thôn như sau “Nông thôn là vùng
khác với đô thị là ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông thôn, làm nghề chính là
nông nghiệp, có mật độ dân cư thấp hơn; có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn; có
mật độ phúc lợi thua kém hơn; có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản
xuất hàng hóa thấp hơn”. Tuy nhiên khái niệm trên cần được đặt trong điều kiện thời
gian và không gian nhất định của nông thôn mỗi nước, mỗi vùng và cần phải tiếp tục
nghiên cứu để có khái niệm chính xác và hoàn chỉnh.
Ở Việt Nam theo Nghị định số: 41/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010.Về
chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn quy định “ Nông thôn
là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị, các thành phố, thị xã, thị trấn, được
quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”
b) Nông thôn mới là gì?
Nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất,văn hóa, tinh thần của
người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành
thị. Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị
vững vàng, đóng vai trò làm chủ Nông thôn mới.
Nông thôn mới có kinh tế phát tiển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây
dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp
với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc,
môi trường sinh thái được bảo vệ. Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao,
đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội.

7

- 8 tiêu chí

+ Nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất

- 4 tiêu chí

+ Nhóm 4: Văn hóa - xã hội - môi trường

- 4 tiêu chí

+ Nhóm 5: Hệ thống chính trị

- 2 tiêu chí

Một xã đạt đủ 19 tiêu chí là đạt tiêu chuẩn nông thôn mới.
Căn cứ vào Bộ tiêu chí quốc gia, các Bộ ngành liên quan đều xây dựng quy
chuẩn của ngành, chủ yếu là các tiêu chuẩn kỹ thuật cho các công trình hạ tầng, để áp
dụng khi xây dựng nông thôn mới.
Ngày 20/2/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định 342/QĐ- TTg
sửa đổi 5 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban hành tại Quyết định số 491
QĐ- TTg. Theo đó, 5 tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, gồm: tiêu

8

8


chí số 7 về chợ nông thôn, tiêu chí số 10 về thu nhập, tiêu chí số 12 về cơ cấu hạ tầng,
tiêu chí số 14 về giáo dục và tiêu chí số 15 về y tế.
Bảng 1.1. Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới.

theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải.
1.3 Tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa
mưa
1.4 Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ
giới đi lại thuận tiện.
Thủy lợi
3.1 Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và
dân sinh
3.2 Tỷ lệ km kênh mương do xã quản lỷ được kiên cố hóa
Điện
4.1 Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện
4.2 Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các
nguồn
Trường học
Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học,
THCS có cơ sử vật chất đạt chuẩn quốc gia
Cơ sở vật chất văn 6.1 Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ VHhóa
TT-DL.
6.2 Tỷ lệ thông có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy
định của Bộ VH-TT-DL

7
8

Chợ nông thôn
Bưu điện

9

Nhà ở dân cư



14

sản xuất
Giáo dục

15

Y tế

16

Văn hóa

17

Môi trường

18

Hệ thống tổ chức
chính trị xã hội
vững mạnh

20

An ninh, trật tự xã
hội được giữ vững


Một: Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn
được nâng cao.
Hai: Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện
đại, môi trường sinh thái được bảo vệ.
Ba: Dân chí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy.
Bốn: An ninh tốt, quản lý dân chủ.
Năm: Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao.
b) Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới

10

10


Nhiệm vụ XDNTM là một trong những nhiệm vụ quan trọng theo tinh thần
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa X về nông
nghiệp, nông dân, nông thôn.
Theo đó Chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM thực hiện theo 06 nguyên
tắc sau:
Một: Các nội dung, hoạt động của Chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM
phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban
hàng tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính
phủ (sau đây gọi là Bộ tiêu chí Quốc gia NTM).
Hai: Phát huy vai trò chủ thế của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà
nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ
trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện. Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng
người dân ở thôn,xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện.
Ba: Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ
trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn.
Bốn: Thực hiện Chương trình XDNTM phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế

cường, XD giai cấp công nhân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức.

12

12


d) Vai trò của xây dựng nông thôn mới.
XDNTM nhằm đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn phát triển toàn diện, có
vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là cơ sở và lực lượng
quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh,
quốc phòng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.
Nâng cao đời sống, vật chất và vị thế của nông dân và nông dân là chủ thể của quá
trình phát triển; cơ cấu kinh tế được phát triển hợp lý, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội
từng bước được hoàn thiện; sản xuất nông lâm nghiệp phát triển toàn diện, bền vững
theo hướng tăng năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao.
1.2. Căn cứ pháp lý và tài liệu xây dựng đề án nông thôn mới.
Căn cứ pháp lý chung của đề án xây dựng nông thôn mới.
Căn cứ Nghị quyết 26/NQ-TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 hội nghị lần thứ 7 của
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn xác
định nhiệm vụ xây dựng: “ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.”
Căn cứ Nghị quyết 24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ
ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết hội nghị lần
thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Căn cứ Quyết định số: 800/QĐ-TTg ngày 4 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng
Chính phủ; phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về XDNTM giai đoạn 20102020.
Căn cứ Quyết định số: 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng
Chính phủ về việc: Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM.
Căn cứ Thông tư số: 32/2009/TT-BXD ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Bộ XD
về việc: Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia quy hoạch XD nông thôn.

Báo cáo tổng hợp Kết quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới xã
Hải Phong, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm
2015, phương hướng nhiệm vụ 2016.
1.3. Cơ sở thực tiễn
1.3.1. Tình hình xây dựng mô hình nông thôn mới ở Việt Nam
a. Những kết quả bước đầu
Thực hiện nghị quyết trung ương 7 ( khóa X), thủ tướng chính phủ đã ban hành
bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới tại quyết định 491/QĐ- TTg, ngày 16/4/2009 và
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020 tại
Quyết định 800/QĐ- TTg, ngày 04/06/2010 để tiến hành xây dựng nông thôn mới.
Qua 5 năm thực hiện, phong trào xây dựng nông thôn mới đã diễn ra sôi nổi ở khắp
các địa phương trên cả nước, thu hút sự tham gia của toàn thể cộng đồng, phát huy
được sức mạnh của cả xã hội. Quá trình xây dựng nông thôn mới đã đạt được nhiều

14

14


kết quả quan trọng, tạo nên nhiều chuyển biến mới trong nông nghiệp, bộ mặt nông
thôn được đổi mới, đời sống nhân dân được nâng lên. Nông nghiệp giữ được mức tăng
trưởng ổn định, phát triển tương đối toàn diện; năng suất, chất lượng nhiều loại cây
trồng vật nuôi được nâng lên, sản xuất tăng thu nhập. Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội
cơ bản đảm bảo, tạo sự thuận lợi trong giao lưu, buôn bán và phát triển sản xuất. Dân
chủ cơ sở được phát huy; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; vị thế
của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao.
Xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào quần chúng sôi nổi và tương
đối đều khắp cả nước, bộ máy chỉ đạo thực hiện từ TW đến địa phương được tổ chức
thống nhất và đồng bộ. Các cơ chế, chính sách được ban hành kịp thời và đồng bộ,

triển thoe hướng hiện đại, thiếu tính bền vững; quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ
lẻ, manh múnm chưa gắn được sản xuất với chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu… Tỷ lệ hộ
nghèo tuy có giảm nhưng vẫn cao, thu nhập và mức sống của nông dân khó khăn, tình
trạng ô nhiễm môi trường ở nông thôn chưa được giải quyết hiệu quả; chất lượng y tế,
văn hóa, giáo dục ở nhiều nơi còn thấp;hệ thống hạ tầng nông thôn nhất là các vùng
miền núi còn lạc hậu, chậm được cải thiện.
c) Biện pháp thực hiện các giải pháp của Chương trình mục tiêu quốc gia về
nông thôn mới.
- Về ý nghĩa, tầm quan trọng:
Các ngành, các cấp cần tiếp tục quán triệt sâu sắc việc thực hiện tốt Chương
trình mục tiêu quốc gia XDNTM chính là cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương 7, Khóa
X để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, trực tiếp góp phần quan
trọng vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do vậy, người đứng đầu
cấp ủy và chính quyền các cấp phải trực tiếp chỉ đạo việc triển khai thực hiện Chương
trình XDNTM với mục tiêu cuối cùng là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
người dân thông qua quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, phát triển công nghiệp và
dịch vụ ở nông thôn theo cơ chế thị trường, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, nhân lực và các nguồn vốn. XDNTM là yếu tố quyết định cho sự phát
triển nông nghiệp, nông thôn bền vững, đồng thời là nền tảng để đảm bảo sự phát triển
bền vững của đất nước.
- Về phương hướng, nhiệm vụ, cần chú trọng các nội dung
Một: Cần tập trung đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông
nghiệp để tăng năng suất, tăng sản lượng và giá trị để tăng sức cạnh tranh của các sản
phẩm nông nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao đời sống nông dân
trong điều kiện đất đai có hạn, dân số tăng lên. Hết sức chú trọng đến việc nghiên cứu
sử dụng giống cây, giống con; biện pháp tưới tiêu, canh tác mới, giảm tổn thất sau thu
hoạch ..., có cơ chế chính sách đặc thù để khuyến khích các nhà khoa học tạo ra những
đột phá trong nghiên cứu giống mới có giá trị cao.
Hai: XD quan hệ sản xuất mới phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất:
Thúc đẩy mạnh mẽ việc liên kết, hợp tác, hình thành các mô hình tổ chức phù hợp yêu

sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, gắn với việc thực hiện chủ trương tái cơ cấu
nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững trên địa bàn.
Bảy: Chú trọng quan tâm tổ chức, hướng dẫn, hỗ trợ nhân dân thực hiện các nội
dung về phát triển y tế, văn hóa, xã hội, môi trường, đảm bảo an ninh trật tự ở nông
thôn; cải tạo cảnh quan môi trường nông thôn xanh - sạch - đẹp, giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa và truyền thống, tập quán tốt đẹp của làng quê Việt Nam; đảm bảo trật
tự an toàn xã hội, phòng, chống các tệ nạn, giữ vững sự bình yên, hạnh phúc trong
cuộc sống gia đình và văn hóa cộng đồng ở nông thôn.

17

17


- Về các giải pháp.
Một: Tăng cường nhận thức và quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp
và của cả hệ thống chính trị về ý nghĩa, tầm quan trọng của Chương trình XDNTM để
cùng chung sức tham gia, đóng góp.
Hai: Có các cơ chế, chính sách thích hợp và đủ mạnh để thực sự khuyến khích
việc ứng dụng khoa học - công nghệ, huy động nguồn lực, thu hút doanh nghiệp, đào
tạo nhân lực.
Ba: Tăng cường các biện pháp tổ chức, chỉ đạo thực hiện; khẩn trương kiện
toàn và nâng cao năng lực hoạt động của Ban Chỉ đạo các cấp, nghiên cứu mô hình tổ
chức điều phối giúp Ban Chỉ đạo các cấp ở địa phương theo hướng bố trí cán bộ
chuyên trách trong phạm vi tổng biên chế được giao; ở các cấp cần xây dựng chương
trình, kế hoạch hoạt động và phân công cán bộ cụ thể. Tăng cường công tác kiểm tra,
đôn đốc sát sao; tổ chức định kỳ công tác sơ kết, tổng kết để đánh giá, khen thưởng và
uốn ănns kịp thười. Đẩy mạnh công tác thi đua, khen thưởng, phát hiện kịp thời những
cách làm hay, mô hình tốt để phổ biến ra diện rộng.
Bốn: Trong quá trình thực hiện Chương trình, lưu ý không áp đặt một cách xơ

và công nghiệp …
a) Phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc
Hàn Quốc vào đầu thập kỷ XIX là một nước nghèo sau chiến tranh, GDP bình
quân đầu người chỉ có 850 USD, không đủ lương thực và phần lớn người dân không
đủ ăn. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp nhưng hạn hán và lũ lụt thường
xuyên xảy ra khắp đất nước. Đến năm 1970 vẫn còn 70% dân số sống ở nông thôn,
trong số đó 80% sống trong điều kiện khó khăn. Sau trận lụt lớn năm 1969, trong khi
đi thị sát tình hình dân chúng, Tổng thống Hàn Quốc Pask Chung Hy nhận ra rằng
viện trợ của Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách làm tự cứu
lấy mình. Những ý tưởng này là nền tảng của phong trào “Saemaul Undong”. Chính
phủ vừa tăng đầu tư vào nông thôn vừa đặt mục tiêu thay suy nghĩ ỷ lại, thụ động vốn
tồn tại trong đại bộ phận dân cư nông thôn. Điểm đặc biệt của phong trào NTM của
Hàn Quốc là nhà nước chỉ hỗ trợ một phần nguyên, vật liệu còn nông dân chính là đối
tượng ra quyết định và thực thi mọi việc. Saemaul Undong cũng rất chú trọng đến phát
huy dân chủ trong XDNTM với việc đưa ra một nam và một nữ lãnh đạo phong trào.
Ngoài ra, tổng thống còn ký mời 2 lãmh đạo ở cấp làng xã tham dự cuộc họp của Hội
đồng Chính phủ để trực tiếp lắng nghe ý kiền từ các đại diện. Nhằm tăng thu nhập cho
nông dân, Chính phủ Hàn Quốc áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc
nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông sản. Ngân hàng nông nghiệp cho doanh
nghiệp vay vốn đầu tư về nông nghiệp với lãi suất giảm 2% so với đầu vào các ngành
nghề khác.
Theo báo cáo của chuyên gia kinh tế Hàn Quốc, trong vòng 10 năm triển khai
“Saemaul Undong” từ 1971-1980, tổng kinh phí đầu tư cho các dự án là 3.425 tỷ won (
tương đương khoảng 3 tỷ USD). Trong số đó đóng góp của người dân chiếm phần lớn

19

19



tầng kết hợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở cửa toàn diệnh thị
trường nông sản, xóa bỏ thuế nông nghiệp, và thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân.

20

20


Trung Quốc thực hiện nội dung hai mở, một điều chỉnh, là mở cửa giá thu mua, thị
trường mua bán lương thực, một điều chỉnh là chuyển trợ cấp gián tiếp qua lưu thông
thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực.
Trung Quốc thực hiện hạn chế lấy đất nông nghiệp. Vấn đề thu hồi đất nông
nghiệp của nước này được quy định ngặt nghèo. Nếu chuyển đổi mục đích sử dụng
đất, phải đúng với chiến lược lâu dài của vùng đó và phải nằm trong chỉ giới đỏ, đảm
bảo cả nước luôn duy trì 1,8 tỉ mẫu đất nông nghiệp trở nên.
c. Mô hình OVOP ở Thái Lan
Thông qua mô hình OVOP, chính phủ đã XD dự án cấp quốc gia “mỗi xã, một
sản phẩm” (Tambon one Product - OTOP) nhằm tạo ra sản phẩm mang tính đặc thù
của địa phương có chất lượng đảm bảo, bán được trên toàn cầu. Sản phẩm của OTOP
phân loại theo 4 tiêu chí: Có thể xuất khẩu với giá thương hiệu, sản xuất liên tục và
nhất quán; Tiêu chuẩn hàng hóa, đặc biệt, mỗi sản phẩm đều có một câu chuyện riêng.
Các tiêu chí trên đã tạo thêm lợi thêm lợi thế cho du lịch Thái Lan vì du khách luôn
muốn tận mắt chứng kiến quá trình sản xuất sản phẩm, từ đó có thể hiểu biết thêm về
tập quán, lối sống của người dân địa phương.
d. Nông thôn ở Hà Lan: Sự kết hợp thành công giữa nông nghiệp và công
nghiệp
Hà Lan đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đặc biệt là nông nghiệp cây trồng
trong nhà kính và yếu tố thành công này chính là hạt nhân “nông thôn mới” ở đây. Tỷ
lệ sản xuất rau quả và hoa góp phần cung cấp nhu cầu khổng lồ trên toàn thế giới. Các
nhà quản lý và xây dựng hình tượng nông thôn mới ở Hà Lan đã rất xuất sắc trong việc

Hải Phong, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu:
Thời gian đánh giá: từ năm 2011 tới 12/2015
Thời gian thực hiện chuyên đề: từ tháng 07/3/2016 đến 28/4/2016.
2.2. Mục đích, yêu cầu nghiên cứu

a) Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá kết quả thực hiện đề án nông thôn mới tại xã Hải Phong theo bộ
tiêu chí của quốc gia về nông thôn mới, và hiệu quả mà đề án mang lại.
- Đề xuất một số ý kiến để tiếp tục xây dựng xã NTM bền vững.
b) Yêu cầu nghiên cứu
- Nội dung đề tài bám sát Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, tuân thủ theo
quy định của pháp luật;
- Số liệu, tài liệu thu thập được phải trung thực, khách quan, chính xác.
- Những đề xuất phải có tính khả thi, phù hợp với thực trạng của địa phương.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Đánh giá kết quả thực hiện đề án xây dựng nông thôn mới tại xã Hải Phong,
huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định giai đoạn 2011- 2015.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp điều tra thu thập số liệu.
- Thu thập số liệu thứ cấp: là phương pháp thu thập số liệu thông qua sách báo, tại
liệu, các niên giám thống kê, báo cáo tổng kết đã được công bố của xã Hải Phong. Từ đó sẽ

22

22


nắm được các tài liệu có liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường,... trên
địa bàn xã trong thời gian nghiên cứu.

khoảng 12km, có diện tích hành chính là 776,31 ha; có các tuyến giao thông quan
trọng của huyện là tuyến An Đông, đường Vạn Phúc, tỉnh lộ 50A, và tuyến 448 cũ
chạy suốt chiều dài và chiều rộng của xã, hệ thống giao thông khá phát triển thuận lợi
cho việc giao lưu trao đổi hang hóa với các địa phương lân cận và ngoài huyện. Có vị

-

trí tiếp giáp như sau:
Phía Bắc giáp huyện Trực Ninh;
Phía Nam giáp xã Hải Ninh;
Phía Tây và phía Tây Nam giáp xã Hải Toàn và Hải Giang;
Phía Đông giáp xã Hải Phú.
Với hệ thống giao thông của xã khá hoàn chỉnh, Hải Phong rất có điều kiện để
giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội.
3.1.1.2. Địa hình, địa mạo
Địa hình của xã Hải Phong tương đối bằng phẳng, đất đai phì nhiêu, có nhiều
sông ngòi, là nguồn cung cấp nước dồi dào cho tưới tiêu và sinh hoạt, tạo điều kiện

-

thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
Đường giao thông chính trong xã có cao độ trung bình +2,3 m ÷ +2,5 m.
Đồng ruộng có cao độ trung bình +0,7 m ÷ +0,8 m.
Nền nhà ở ven trục giao thông chính có cao độ trung bình +2,5m ÷ +2,6m, khu dân cư

-

làng xóm có cao độ từ +1,9 m ÷ + 2,5m.
Các dòng chảy chảy theo hướng Bắc - Nam đổ ra biển. Các ao hồ có cao độ đáy +0,3
m.


• Gió ,bão :

Hướng gió thịnh hành thay đổi theo mùa, tốc độ gió trung bình cả năm là 2 –

-

2,3 m/s
Mùa đông hướng gió thịnh hành là gió Đông Bắc với tần suất 60 – 70% , tốc độ gió
trung bình 2,4 – 3,6 m/s , những tháng cuối mùa đông gió có xu hướng chuyển dần về

-

phía đông .
Mùa hè hướng gió thịnh hành là gió Đông Nam với tần suất 50 – 70% , tốc độ gió
trung bình 1,9 – 2,2 m/s . Tốc độ gió cựa đại ( khi có bão ) là 40m/s , đầu mùa hạ

-

thường xuất hiện những đợt gió tây khô nóng gây tác động xấu đến cây trồng .
Bão : do nằm trong vùng Vịnh Bắc Bộ nên hằng năm thường chịu ảnh hưởng của gió
bão hoặc áp thấp nhiệt đới , bình quân từ 4 – 6 cơn bão một năm .
Nhìn chung , khí hậu của xã Hải Phong rất thuận lợi cho sự phát triển của hệ
sinh thái động , thực vật , phát triển sản xuất nông nghiệp , đặc biệt là nviệc gieo trồng
có thể tiến hành quanh năm , đồng ruộng mỗi năm canh tác trung bình được hai vụ
lúa . Tuy nhiên còn có sự khó khan do lượng mưa phân bố không đồng đều nên thường

25

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status