PHẦN 1
MỞ ĐẦU
Vốn được mệnh danh là "lá phổi " của trái đất, rừng có vai trò rất quan
trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh
chúng ta. Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một nội
dung, một yêu cầu không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới
trong cuộc chiến đầy gian khó hiện nay nhằm bảo vệ môi trường sống đang bị
huỷ hoại ở mức báo động mà nguyên nhân chủ yếu là do chính hoạt động của
con người gây ra.
Như vậy có thể thấy rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng trong đời
sống con người, rừng có vai trò rất lớn trong việc cải tạo môi trường sống,
phòng hộ, chắn sóng, chắn cát, giữ đất,giữ nước, điều hòa dòng chảy, cung cấp
củi gỗ, các loại dược liệu, lâm đặc sản, ngoài ra còn cung cấp nguyên vật liệu
cho một số ngành công nghiệp góp phần làm phát triển nền kinh tế quốc dân
đem lại nhiều lợi ích cho con người, những lợi ích mà tài nguyên rừng mang lại
là vô cùng to lớn và không thể nào đo đếm được hết vai trò của nó. Vì vậy công
tác quản lý, bảo vệ rừng hiện nay đang được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan
tâm.
Trong những năm qua để thực hiện tốt công tác quản lý,bảo vệ rừng, Nhà
nước đã ban hành nhiều chủ trương chính sách, văn bản quy phạm pháp luật quy
định trong lĩnh vực thi hành pháp lệnh quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Nhà
nước cũng đã đầu tư kinh phí phát triển vốn rừng, thành lập các khu bảo tồn và
khuyến khích mọi tổ chức, các cá nhân trong và ngoài nước trong hoạt động
trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi trọc, khoanh nuôi bảo vệ, xúc tiến tái sinh
rừng. Những hoạt động này có ý nghĩa hết sức to lớn về mặt kinh tế, khoa học
môi trường và an ninh quốc phòng....Tuy nhiên do một số nguyên nhân khách
quan và chủ quan như lực lượng quản lý bảo vệ rừng quá mỏng, thiếu kinh phí
đầu tư, các chính sách bảo vệ rừng còn chưa mạnh...nên tình trạng xâm hại đến
tài nguyên rừng nghiêm trọng vẫn xảy ra ở một số nơi, làm cho diện tích rừng
ngày càng bị thu hẹp, chất lượng và trữ lượng rừng giảm sút. Nhiều loài động
thực vật bị khai thác quá mức làm suy giảm tính đa dạng sinh học và số loài có
phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ rừng tại
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam’’.
2
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
Rừng là một trong ba nhân tố quyết định đến tiến trình phát triển bền vững
của mỗi quốc gia. Do đó nhu cầu bảo vệ, phát triển rừng trở nên cần thiết của
mỗi quốc gia cũng như toàn xã hội. Bên cạnh đó rừng bảo vệ cho hệ thống canh
tác nông nghiệp trước những bất lợi của thời tiết, rừng giữ đất, giữ nước, cung
cấp dinh dưỡng cho sản xuất nông nghiệp. Không những thế rừng còn đóng vai
trò quan trọng đối với môi trường sống của nhân loại, ngoài tác dụng là“ lá phổi
xanh ” rừng còn có tác dụng khác như chống hạn hán, lũ lụt, chống lỡ đất, hạn
chế sức mạnh của gió bão.
Bảo vệ rừng là vấn đề của toàn xã hội, trên cơ sở phối hợp giữa các lực
lượng Kiểm lâm, công an, quân đội và lực bảo vệ rừng chuyên trách của các chủ
rừng. Cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành trong nước và liên
kết giữa các quốc gia. Việt Nam là một nước đã nhận thức đúng đắn được vấn đề
này, nên ngoài hệ thống chính sách pháp luật được ban hành, Việt Nam đã tham
gia công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật hoang dã nguy cấp (Công
ước CITES) và trở thành thành viên chính thức thứ 121 vào ngày 20/10/1994, kí
công ước đa dạng sinh học vào ngày 16/11/1994. Ngoài ra Việt Nam còn tham
gia nhiều tổ chức quốc tế khác liên quan đến vấn đề bảo vệ tài nguyên và quản
lý động thực vật.
Tuy nhiên tài nguyên vô giá của loài người này vẫn ngày càng bị giảm sút
nghiêm trọng. Theo số liệu của FAO đến năm 1991 tổng diện tích rừng trên toàn
thế giới chỉ còn khoảng 3.717 triệu ha, trong đó 1,867 triệu ha rừng Bắc cực và
nguồn nước, đến lượng mùn và hàm lượng NPK trong đất, đến nguồn than, dầu
và hơi đốt, đếm hàm lượng O 2 và CO2 trong khí quyển, đến chế độ nhiệt độ của
không khí và đất.…
Bên cạnh đó việc gia tăng dân số nhanh dẫn đến tăng nhu cầu vật chất xã
hội, nhất là năng lượng không ngừng nâng lên. Cùng với đó, công tác quản lý
bảo vệ rừng chưa được khuyến khích và quan tâm đúng mức bởi những chính
sách chưa hợp lý và cụ thể.
Theo báo cáo của cục Kiểm Lâm Việt Nam, rừng bị phá chủ yếu là rừng tự
nhiên có trữ lượng gỗ lớn, gây thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng. Có một thực tế là,
nạn phá rừng ngày càng gia tăng, hành vi phá rừng ngày càng tinh vi và trắng
trợn hơn. Thậm chí tình trạng lâm tặc phá rừng với qui mô lớn, chống người thi
hành công vụ diễn ra ngày càng nhức nhối và phức tạp. Để kiên quyết giữ rừng
cho đất nước nhiều cán bộ Kiểm lâm đã hy sinh tính mạng hoặc bị thương trong
khi làm nhiệm vụ.
Vì vậy, việc tìm hiểu thực trạng về công tác quản lý và bảo vệ rừng hiện
nay tại địa phương là cơ sở khoa học cho việc quản lý bền vững tài nguyên rừng
trên địa bàn. Muốn bảo vệ và phát triển rừng bền vững thì bên cạnh việc sử dụng
các chế tài pháp luật cần có các giải pháp nhằm huy động được toàn bộ nguồn
4
lực xã hội tham gia vào công tác này. Bên cạnh đó để đảm bảo công tác quản lý
bảo vệ và phát triển rừng một cách hiệu quả thì cần dựa vào sức mạnh của cấp
ủy, chính quyền địa phương để triển khai các hoạt động bảo vệ phát triển rừng.
Tăng cường sự phối hợp có hệ thống, có kế hoạch với các hoạt động xâm hại
đến rừng.
2.2. Cơ sở pháp lý
Đứng trước nạn chặt phá rừng bừa bãi, khai thác rừng trái phép, buôn bán
tàn trữ lâm sản trái phép. Nhà nước đã có các chỉ thị, thông tư và các nghị định
nhằm tăng cường tính hiệu quả của luật bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời giúp
10. Quyết định số 40/2005/QĐ-BNN ngày 7 tháng 7 năm 2005 Quyết định
về việc ban hành quy chế về khai thác gỗ và lâm sản khác.
11. Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 3 tháng 3 năm 2006 của chính phủ
về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
12. Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của thủ tướng
chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
13. Quyết định 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của thủ tướng
chính phủ về việc ban hành qui chế quản lý rừng.
14. Chỉ thị số 08/2006/CT-TTg ngày 8 tháng 3 năm 2006 về việc tăng
cường các biện pháp cấp bách ngăn chặn tình trạng chặt phá, đốt rừng, khai thác
rừng trái phép.
15. Chỉ thị số 15/2007/CT-BNN ngày 13 tháng 02 năm 2007 về việc tăng
cường quản lý canh tác nương rẫy.
16. Quyết định số 74/2008/QĐ-BNN ban hành danh mục các loại động vật
hoang dã quy định trong phụ lục của công ước về buôn bán quốc tế các loài
động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.
17. Chương trình 661 của Chính phủ về việc tổ chức dự án trồng mới 5
triệu ha rừng.
18. Thông tư số 35/2001/TT-BNNPTNT, ngày 20/5/2011 của bộ nông
nghiệp & phát triển nông thôn về Hướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và
lâm sản ngoài gỗ.
19. Thông tư 01 ngày 4 tháng 01 năm 2012 của Bộ nông nghiệp qui định về
hồ sơ lâm sản hợp pháp và nguồn gốc lâm sản.
20. Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg, ngày 8 tháng 02 năm 2012 của thủ
tướng chính phủ ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng
(Thay thế Quyết định 245/1998/QĐ-TTg).
Trên đây là những văn bản, thông tư, quyết định, nghị định, nghị quyết liên
quan đến công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng nhằm giúp cho lực lượng
kiểm lâm của hạt kiểm lâm huyện Thăng Bình nói riêng cũng như các ban ngành
nói chung có cơ sở pháp lý để thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng và phát
các quốc gia có tỷ lệ mất rừng cao nhất Thế giới. Trong khi đó diện tích rừng
trồng chỉ bằng 1/10 diện tích rừng bị mất đi, đó là chưa kể đến việc mất tính đa
dạng sinh học.
Riêng ở Châu Á Thái Bình Dương thời gian từ năm 1976 đến năm 1980
mất 9 triệu ha rừng, cùng thời gian này ở Châu Phi mất 37 triệu ha rừng và Châu
Mĩ mất đi 18,4 triệu ha. Từ năm 1981 đến năm 1991 tỉ lệ rừng bị mất đi tăng lên
80% so với 10 năm trước. Với tốc độ đó một số chuyên gia lâm nghiệp dự đoán
chỉ trong vòng một thế kỷ nữa rừng nhiệt đới sẽ bị hủy diệt. Ngoài ra mất rừng
7
làm cho diện tích đất rừng và đất trồng rừng bị xói mòn làm biến chất, do tình
trạng chặt phá rừng, sa mạc hóa ... hằng năm trên Thế giới làm mất đi khoảng 2
tỷ tấn đất, với số lượng này có thể sản xuất ra 50 tấn lương thực thực phẩm.
Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, có hơn 1,6 tỷ người sống phụ thuộc vào
rừng và rừng là nguồn cung cấp nhiều việc làm, góp phần vào sự tăng trưởng
kinh tế của các quốc gia trong khu vực. Qua thống kê cho thấy 30% diện tích
rừng được sử dụng để sản xuất gỗ và các sản phẩm phi gỗ, thương mại lâm sản
ước tính đạt 327 tỷ USD/năm. Sự biến mất hoặc tái sinh các khu rừng có ảnh
hưởng nhất định đến hệ sinh thái cũng như sự thay đổi của khí hậu toàn cầu và
gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với con người.
- Ở Nhật Bản: Theo quan điểm của người Nhật thì tất cả các hành động phá
hoại môi trường đều đe dọa đến đời sống của sinh vật và con người. Do đó việc
bảo vệ tài nguyên, nhất là tài nguyên rừng được Nhật Bản rất chú trọng và ý thức
của người dân Nhật Bản trong quản lý bảo vệ rừng cũng rất cao.
Trước đây, người Nhật đốn gỗ ở rừng, vùng ven biển và vùng châu thổ vì
lợi ích của nền công nghiệp đất nước. Kết quả là việc đánh bắt thủy sản của các
ngư dân ngày càng bị dảm bớt vì vùng sinh thái biển bị thu hẹp và hải sản ngày
càng khan hiến. Nhận được bài học đắt giá đó, cộng đồng ngư dân nhận thấy
rằng việc bảo tồn rừng là quan trọng và họ cố gắng để tái sinh rừng ở vùng bờ
biện pháp bảo vệ rừng và môi trường là nghĩa vụ của Nhà nước. Trong lần sửa
đổi hiến pháp hồi tháng 12-1998 có tăng thêm một chương “Bảo vệ môi
trường và sửa sang lãnh thổ” và hàng loạt các luật riêng khác thể hiện sự quan
tâm cao độ của Chính phủ liên bang Thụy Sỹ tới vấn đề bảo vệ rừng và môi
trường. Chính nhờ có chế độ luật pháp nghiêm ngặt và hoàn thiện mà Thụy Sỹ
vừa thực hiện được mục tiêu phát triển công nghiệp, vừa giữ được môi trường
sinh thái tốt hơn.
Chính quyền Thụy Sỹ còn rất chú trọng tới công tác giáo dục bảo vệ rừng và
môi trường cho công dân mình và coi đó là một khâu cơ bản trong giáo dục phổ
thông. Các trường trung, tiểu học đều có môn học “Con người và môi trường”, học
sinh bắt buộc phải học. Thiếu niên khi đến tuổi trưởng thành đều được tặng một
món quà là cuốn sổ hướng dẫn cách thức gìn giữ môi trường sống xanh sạnh.
Thụy Sỹ được xanh sạnh như ngày hôm nay là kết quả của nhiều năm kiên
trì thực hiện chính sách bảo vệ rừng và môi trường của chính phủ và sự hợp tác
của người dân.
- Brazil: Chính phủ Brazil đã cung cấp khả năng truy cập internet miễn phí
cho các bộ tộc thổ dân gốc Ấn ở khu vực rừng Amazon nhằm bảo vệ khu rừng
rậm lớn nhất thế giới này. Nhờ đó mà những cộng đồng sống trong khu rừng có
thể thông báo về những vụ đột nhập hay săn bắn động vật bất hợp pháp, đưa ra
yêu cầu giúp đỡ và phối hợp những hoạt động nhằm bảo vệ khu rừng này.
- Ở một số nước khác: Thái Lan, Nam Triều Tiên đều có xu hướng chung
là cho phép nhóm người ở các địa phương có nhiều rừng có quyền sử dụng
9
các lợi ích về rừng và quy định rõ trách nhiệm của họ tương ứng với lợi ích
được hưởng.
- Có thể nói tóm tắt những xu hướng quản lý rừng trên thế giới trong những
năm gần đây như sau:
+ Chuyển mục tiêu quản lý, sử dụng rừng từ sản xuất gỗ là chủ yếu sang mục
được nhờ phân tích Landsat chụp năm 1979-1981 và KATE 140 trong cùng thời
gian, cho thấy giai đoạn này rừng ở nước ta chỉ còn lại 7,8 triệu ha, chiếm
khoảng 24% diện tích cả nước (Viện Điều tra và Quy hoach rừng), trong đó 10%
là rừng nguyên sinh.
Sự suy giảm về diện tích và độ che phủ ở thời gian này là do mức tăng dân
số đã tạo ra nhu cầu về lâm sản và đất trồng trọt. Kết quả đã dẫn tới việc nhiều
khu rừng biến thành những vùng đất hoang, cằn cỗi. Những khu rừng còn lại ở
vùng núi phía Bắc đã xuống cấp, trữ lượng gỗ rất thấp và bị chia cắt thành
những đám rừng nhỏ phân tán.
Năm 1998, Việt Nam chính thức tham gia chương trình Lâm Nghiệp nhiệt
đới với mã số VIE-88-073 đã được tiến hành và kết thúc vào năm 1991. Dự án
này đã đóng góp một phần rất quan trọng vào việc đánh giá hiện trạng lâm
nghiệp Việt Nam và đưa ra khuyến cáo về định hướng phát triển lâm nghiệp cho
đến năm 2000.(Phùng Ngọc Lan, 1997) [6]
Công tác quản lý bảo vệ rừng ở Việt Nam trong những năm gần đây đã và
đang được Nhà nước đặc biệt quan tâm, ban hành nhiều chủ trương chính sách
mới nhằm giảm thiểu tình trạng tàn phá tài nguyên rừng:
- Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của chính phủ về việc xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý
lâm sản.
- Thông tư 34/2009/TT-BNNPTNN ngày 10/06/2009 của bộ Nông Nghiệp &
Phát Triển Nông Thôn về quy định tiêu chí xác định phân loại rừng.
- Luật bảo vệ và phát triển rừng ngày 29/12/2004.
- Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/06/2012 có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013.
- Các quyết định 327, 661... đã và đang nhanh chóng đi vào hiện thực.
Mục tiêu của Đảng và Nhà nước đặt ra đối với công tác quản lý bảo vệ rừng
trong giai đoạn hiện nay là:
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần cho công tác quản lý và bảo
vệ rừng trên địa bàn huyện ngày càng được củng cố và phát huy được hiệu quả
tốt hơn.
3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các tổ chức tham gia quản lý và bảo vệ rừng tại huyện Thăng Bình,
tỉnh Quảng Nam.
- Các hoạt động quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn huyện.
- Các hộ gia đình, cá nhân trong huyện có liên quan tới công tác quản lý
và bảo vệ rừng.
3.2.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu trên toàn bộ địa bàn huyện trong khoảng thời gian từ tháng 1
- 4 năm 2016.
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Thăng Bình
3.3.2. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu và tổ chức của Hạt
Kiểm lâm huyện Thăng Bình,tỉnh Quảng Nam
•Vị trí và chức năng của Hạt Kiểm lâm huyện Thăng Bình
•Nhiệm vụ và quyền hạn của Hạt Kiểm lâm huyện Thăng Bình
13
•Cơ cấu tổ chức của Hạt Kiểm lâm huyện Thăng Bình
3.3.3. Tình hình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của Hạt Kiểm lâm
huyện Thăng Bình
•Công tác quản lý, bảo vệ rừng
•Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng
•Công tác phòng trừ sâu bệnh hại rừng
•Công tác theo dõi diễn biến rừng và đất Lâm nghiệp
•Công tác phát triển rừng
4.1.1.1. Vị trí địa lý
- Thăng Bình là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Quảng Nam, thuộc
vùng duyên hải miền Trung, nằm ở tọa độ 150 0 30’ đến 1500 59’ vĩ độ Bắc, từ
1080 7’ đến 1080 30’ kinh độ Đông.
- Trung tâm huyện lỵ của huyện là thị trấn Hà Lam, cách thành phố Tam
Kỳ tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam khoảng 25 km.
- Phía Bắc giáp với huyện Quế Sơn và Duy Xuyên.
- Phía Nam giáp với huyện Phú Ninh và thành phố Tam Kỳ.
- Phía Đông giáp với biển Đông, huyện có bờ biển dài khoảng 25 km, bãi
biển đẹp, có tiềm năng nuôi trồng thủy sản, phát triển dịch vụ du lịch. Vùng biển
thềm lục địa có nhiều tài nguyên thủy, hải sản có giá trị kinh tế, là điều kiện
thuận lợi để ngư dân các xã Bình Dương, Bình Minh, Bình Hải, Bình Nam phát
triển ngành nghề nuôi trồng và khai thác thủy sản.
- Phía Tây giáp với huyện Tiên Phước và Hiệp Đức.
- Huyện Thăng Bình có tất cả 21 xã và 01 thị trấn.
4.1.1.2. Đặc điểm địa hình
- Tuy Thăng Bình được xếp vào huyện đồng bằng của tỉnh nhưng địa hình
tương đối phức tạp,địa hình bị chia cắt bởi nhiều sông suối chủ yếu tập trung ở
các xã vùng phía Tây của huyện, đây cũng là nơi tập trung diện tích rừng tự
nhiên và đất lâm nghiệp lớn nhất của huyện.
- Ngoài ra các xã phía Tây của huyện còn tập trung nhiều đồi núi, nghiêng
dần theo hướng Tây – Tây Bắc xuống hướng Đông – Đông Nam, độ dốc cao và
chia cắt thành hai vùng rõ rệt.
- Phía Tây của huyện là vùng có các dãy đồi núi liên tiếp chia cắt mạnh,
sườn dốc, có các bậc thềm cao thấp khác nhau. Đối với vùng đồi núi có độ dốc
trên 250, tầng đất mỏng dưới 30 cm dành cho trồng rừng, bảo vệ khoanh nuôi
xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên. Đối với những vùng có độ dốc dưới 25 0, có tầng
đất dày phục cho trồng cây dài ngày và cây công nghiệp như quế, chè, cây ăn
quả...
15
dân trên địa bàn huyện Thăng Bình một cách rõ rệt.
4.1.1.4. Đất đai,thổ nhưỡng
*Đất đai
- Tổng diện tích đất tự nhiên là 38.560,24 ha (385,6 km2).
- Trong đó:
+ Đất nông, lâm nghiệp và thủy sản là 24.902,50 ha .
+ Đất phi nông nghiệp là 11.991,89 ha.
+ Đất chưa sử dụng là 1.665,85 ha.
*Thỗ nhưỡng
Thăng Bình có khoảng 10 loại đất, được phân bố theo 3 vùng:
- Vùng đồi núi phía Tây có nhiều rừng nhưng đất đai bị đá ong hóa, bạc
màu, khô cằn do đất feralit đỏ và vàng được tạo ra từ đá granit, đá filit bị xói
mòn trên tầng mỏng là đặc trưng ở vùng Tây.
Hình 4.2. Loại đất chủ yếu của vùng phía Tây của huyện Thăng Bình (Hình
ảnh được chụp tại xã Bình Lãnh, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam)
17
- Vùng trung du đồng bằng với đặc trưng của vùng bán sơn địa có nguồn
thổ nhưỡng đất xám do chịu ảnh hưởng của sự phong hóa granit tương đối thuận
lợi cho sản xuất nông nghiệp.
- Vùng ven biển đặc trưng với các dãy gò, đồi cát được bồi đắp từ xa xưa
giáp biển Đông, có con sông Trường Giang chạy dọc tuyến ven biển, xen kẽ còn
có nhiều Bàu nước, chủ yếu là đất mặn, đất cát trắng, là loại đất cát ven biển đặc
trưng của vùng Đông.
4.1.1.5. Tài nguyên rừng
Tổng diện tích đất rừng trên địa bàn huyện Thăng Bình là 7.583,21ha trong
đó rừng tự nhiên chỉ 759,47ha (khoảng 10%) còn đại bộ phận là rừng trồng. Đất
6.623,77
Diện tích đất chưa có
199,97
rừng
(Nguồn: UBND huyện Thăng Bình)
4.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội của huyện Thăng Bình
4.1.2.1. Dân số và lao động
Dân cư sinh sống trên mảnh đất Thăng Bình theo chiều dài lịch sử luôn
biến chuyển về số lượng qua từng thời kỳ. Năm 1910 có 16.110 người. Vào
tháng 12 năm 1970, tổng dân số là 128.232 người. Năm 1997, sau khi chia tách
Quảng Nam và Đà Nẵng thì huyện Thăng Bình thuộc tỉnh Quảng Nam, lúc này
dân số là 139.908 người. Hiện nay, tính đến ngày 31/12/2015 thì tổng dân số là
181.601người, với mật độkhoảng 470 người/km 2. Thành phần dân số, độ tuổi lao
động trên địa bàn huyện được thể hiện rõ qua bảng 4.2 dưới đây
18
Bảng 4.2. Cơ cấu dân số và lao động năm 2015 của huyện Thăng Bình
TT
Hạng mục
Đơn vị (người)
Tỉ lệ (%)
1
5
Dân số nông thôn
165.303
91,02
6
Dân số trong độ tuổi lao động
91.285
50,26
Số lao động nam
45.659
25,14
Số lao động nữ
45.626
25,12
7
2008
2012
2015
18.653 hộ
14.845 hộ
6.154 hộ
30,02 %
24,69 %
13,64 %
(Nguồn: UBND huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam)
4.1.2.2. Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất
19
* Giao thông
Về giao thông, Thăng Bình có tuyến Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc -Nam
chạy ngang qua. Tuyến đường 16 trước đây, bắt đầu từ thị trấn Hà Lam chạy lên
phía Tây sang huyện Hiệp Đức lên Khâm Đức (Phước Sơn). Hiện nay, tuyến
đường này đã được nâng cấp thành Quốc lộ 14E bắt đầu từ đường Thanh niên
ven biển lên xã Bình Triều đến Ngã tư Hà Lam, theo Quốc lộ 1A đến Cây Cốc,
rẻ phải đi Hiệp Đức rồi lên làng Hồi, huyện Phước Sơn giáp với đường Hồ Chí
toàn huyện và bằng khoảng một nữa so với diện tích đất nông nghiệp của huyện
(14.869,72 ha). Mà đa phần diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp trên địa bàn
huyện chủ yếu tập trung ở các xã phía Tây của huyện như Bình Trị, Bình Lãnh,
Bình Phú nên để phát triển một cách đồng bộ về sản xuất ngành lâm nghiệp trên
toàn huyện là không thể. Bên cạnh đó thì quỹ đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện
không nhiều chỉ chiếm khoảng 1/5 (7.583,21 ha) tổng diện tích đất tự nhiên nên
việc phát triển sản xuất lâm nghiệp còn hạn chế.
Như đã nói ở trên quỹ đất lâm nghiệp của huyện đa phần đều tập trung ở
các xã phía Tây. Nhưng ở các xã phía Tây của huyện địa hình chủ yếu là trung
du, miền núi. Đất đai không mấy thuận lợi do xen kẽ đất đá, đất có độ dốc lớn, bị
xói mòn rửa trôi.... Vì thế, nên vùng này thường chú trọng phát triển kinh tế
vườn đồi, vườn rừng, trồng và khai thác các loại lâm thổ sản và chăn nuôi gia
súc (trâu, bò, dê đàn), các loại gia cầm. Chính vì thế nên tình hình phát triển sản
xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện còn hạn chế hơn nhiều so với các huyện
khác của tỉnh Quảng Nam.
Dưới đây là cơ cấu sử dụng đất của huyện Thăng Bình năm 2015:
Bảng 4.4. Cơ cấu sử dụng đất của huyện Thăng Bình
TT
1
2
3
4
5
Loại đất
Tổng diện tích đất tự nhiên
Đất lâm nghiệp:
1,96
17,2
0,51
38,56
10.991,89
3.877,83
28,5
10,05
2.449,57
6,35
13.657,74
35,42
(Nguồn: UBND huyện Thăng Bình)
4.2. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,cơ cấu và tổ chức của Hạt Kiểm
lâm huyện Thăng Bình,tỉnh Quảng Nam
21
4.2.1. Vị trí, chức năng
- Hạt Kiểm lâm huyện Thăng Bình thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng
Nam, có chức năng tham mưu giúp Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh và
Chủ tịch UBND huyện Thăng Bình thực hiện nhiệm vụ quản lí Nhà nước về bảo
vệ rừng, quản lý lâm sản và bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển
- Thực hiện việc hướng dẫn lập thủ tục và phối hợp với các Ban lâm nghiệp
xã, thị trấn kiểm tra, giám sát việc giao khoán đất rừng sản xuất cho cá nhân, hộ
gia đình và cộng đồng.
- Xây dựng phương án điều chế rừng sản xuất, không trực tiếp hoặc gián
tiếp kinh doanh khai thác, chế biến gỗ dưới mọi hình thức.
- Cùng với các ngành, cơ quan chức năng thực hiện công tác khuyến lâm,
khuyến nông, tuyên truyền và giải thích các chính sách pháp luật về rừng đến tận
người dân.
- Tham gia thực hiện dịch vụ chi trả dịch vụ môi trường rừng trong vai trò
là đơn vị tổ chức. Nhà nước tham gia quản lý và chi trả tiền công bảo vệ rừng
cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn, xã. Được phép hợp tác, liên kết
làm dịch vụ: kinh doanh du lịch sinh thái rừng.
- Triển khai thực hiện các chương trình, dự án liên quan của Trung ương và
các tổ chức khác do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thống nhất chỉ đạo.
- Thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn
của viên chức Kiểm lâm do mình quản lý.
- Quản lý vốn, tài sản do Nhà nước giao và sử dụng lao động theo đúng các
quy định hiện hành.
- Thực hiện một số nhiệm vụ khác do UBND huyện Thăng Bình phân
công.
4.2.3. Cơ cấu và tổ chức của Hạt Kiểm lâm huyện Thăng Bình,tỉnh Quảng Nam
Hạt Kiểm lâm huyện Thăng Bình gồm có 11 viên chức.
Trách nhiệm của Hạt kiểm lâm huyện Thăng Bình về quản lý bảo vệ
rừng và quản lý lâm sản:
- Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, ngăn chặn kịp thời, xử lý hoặc
trình cơ quan có thẩm quyền xử lý các vụ vi phạm thuộc lĩnh vực quản lý bảo vệ
rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn huyện.
- Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục, phổ cập pháp luật về
trên địa bàn.
- Phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan hướng dẫn và giám sát
các chủ rừng trong việc bảo vệ và phát triển rừng, giúp chủ tịch UBND xã thực
hiện chức năng quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp theo quy định của
Pháp luật.
- Tham mưu cho chủ tịch UBND xã trong việc tổ chức, xây dựng phương
án, kế hoạch quản lý bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn, hướng dẫn,
kiểm tra việc thực hiện sau khi có phương án được phê duyệt.
- Phối hợp với cơ quan và tổ chức đoàn thể xã hội có liên quan hướng dẫn
cộng đồng dân cư thôn, bản xây dựng và thực hiện quy ước bảo vệ rừng tại địa
bàn.
24
- Tuyên truyền, phổ cập các quy định của pháp luật về lâm nghiệp cho cộng
đồng dân cư, giúp chủ tịch UBND xã xây dựng các tổ chức quần chúng bảo vệ
rừng, PCCCR, phòng trừ sâu bệnh hại rừng và hướng dẫn các tổ chức quần
chúng bảo vệ rừng hoạt động có hiệu quả.
- Tổ chức, kiểm tra, phát hiện và có biện pháp ngăn chặn kịp thời các hành
vi phạm hành chính theo thẩm quyền và giúp chủ tịch UBND xã xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng theo quy định của pháp luật.
- Phối hợp với Công an xã, xã đội, Bộ đội biên phòng thực hiện tốt công
tác quản lý bảo vệ rừng.
Sơ đồ về bộ máy tổ chức của Hạt kiểm lâm huyện Thăng Bình, thuộc Chi
cục kiểm lâm tỉnh Quảng Nam:
Sơ đồ 4.1. Tổ chức bộ máy của Hạt Kiểm lâm huyện Thăng Bình
Hạt trưởng
Hạt phó