Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, khi Nhà nước thu hồi đất ở từ thực tiễn quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 46

HUỲNH TẤN TÀI

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
_____________________

HUỲNH TẤN TÀI

CHUYÊN NGÀNH : LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT Ở TỪ THỰC TIỄN QUẬN 11, THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

KHÓA VI ĐỢT 2-2015

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
_____________________

HUỲNH TẤN TÀI

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT Ở TỪ THỰC TIỄN QUẬN 11, THÀNH PHỐ

1.4.3. Bồi thường, hỗ trợ, góp phần vào việc duy trì ổn định chính trị, trật tự
an toàn xã hội ................................................................................................. 20
Kết luận Chương 1 ....................................................................................... 23
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở TỪ THỰC TIỄN QUẬN 11,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ................................................................... 24
2.1. Thực trạng các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu
hồi đất ở tại Việt nam ................................................................................... 24


2.2. Thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất ở tại
quận 11, TP Hồ Chí Minh .............................................................................. 25
2.2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của quận 11 TP. Hồ Chí
Minh .............................................................................................................. 25
2.2.2 Thực trạng quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu
hồi đất tại quận 11, thành phố Hồ Chí Minh . ................................................ 28
2.2.2.1. Nguyên tắc thực hiện bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất ở,
tại quận 11, thành phố Hồ Chí Minh. ............................................................ 28
2.2.2.2 Phạm vi và đối tượng được bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi
đất ở tại quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh . ................................................. 36
2.2.3. Thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu
hồi đất ở tại quận 11, thành phố. Hồ Chí Minh ............................................ 41
2.2.3.1 trình tự, thủ tục áp dụng các quy định về bồi thường, hỗ trợ khi nhà
nước thu hồi đất ở tại quận 11, thành phố Hồ Chí Minh ............................... 44
2.2.3.2. Thực trạng áp dụng pháp luật bồi thường, hỗ trợ về tài sản gắn liền
trên đất tại quận 11 Thành phố. Hồ Chí Minh. .............................................. 47
Kết luận Chương 2 ....................................................................................... 55
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ NUỚC THU HỒI ĐẤT



BLDS

Bộ luật dân sự

GPMB

Giải phóng mặt bằng

KT- XH

Kinh tế- xã hội

LĐĐ

Luật đất đai

QSDĐ

Quyền sử dụng đất

SDĐ

Sử dụng đất

SX- KD

Sản xuất- Kinh doanh

TP.HCM

2013 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành, trong thời gian qua đã đạt được
những kết quả tích cực góp phần phát triển kinh tế - Xã hội, đã giải quyết
được nhiều điểm vướng mắc, hạn chế của luật đất đai 2003 nhưng khi thực thi
vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập gây khó khăn cho các địa phương trong quá trình
tổ chức thi hành. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề hết sức nhạy cảm, phức tạp
liên quan đến lợi ích Nhà nước, lợi nhuận của nhà đầu tư, ảnh hưởng đến mọi
mặt về đời sống, kinh tế- xã hội của cộng đồng dân cư có đất bị thu hồi. Vì
vậy đã bộc lộ ra những tồn tại xuất phát từ việc ban hành các chính sách, thủ
tục chưa hợp lý, cũng như một số bất cập trong tổ chức thực hiện, đặc biệt là

1


các vấn đề về điều kiện bồi thường, hỗ trợ về giá đất, giá trị được bồi thường,
hỗ trợ về đất, nhà ở và các tài sản trên đất, điều kiện sinh hoạt của người dân
phải di dời, các vấn đề phát sinh sau khi thực hiện các chính sách bồi thường,
hỗ trợ. Mặc khác, các cá nhân, cơ quan thực thi có thẩm quyền khi áp dụng
pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất vào thực tiễn tại địa
phương trong thời gian qua vẫn còn cứng nhắc, bị động và thiếu sự linh hoạt,
chưa thực sự lắng nghe ý kiến đóng góp của người dân bị thu hồi đất, thậm
chí còn vi phạm pháp luật trong quá trình gỉai quyết việc bồi thường, hỗ trợ .
Những tồn tại, vướng mắc nêu trên là do rất nhiều nguyên nhân cả chủ quan
lẫn khách quan.
Xuất phát từ nhận thức và thực tiễn tại địa phương, việc nghiên cứu các
quy định Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là vô cùng
thiết thực nhằm góp phần tìm ra giải pháp khắc phục những tồn tại, thiếu sót
trên và nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi
Nhà nước thu hồi đất tại địa bàn quận 11 nói riêng và các địa phương khác
trong cả nước nói chung. Phát huy những mặt phù hợp, khắc phục những
điểm tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai, đưa ra được một hệ thống, cơ

Những bất cập trong thu hồi đất và một số kiến nghị của tác giả
Nguyễn Phương Thảo đăng trên Trang Thông Tin Điện tử tổng hợp của Ban
Nội Chính Trung Ương ngày 12/08/2013; Sớm khắc phục những bất cập
trong Luật đất đai 2013 số ra ngày 12/6/2015 trên báo Nhân Dân điện tử của
tác giả An Trân; Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất ở, ở Thành phố Hồ Chí Minh và định hướng hoàn thiện của Đoàn
Minh Hà đăng trên trang thong tin điện tử của tạp chí dân chủ và pháp luật –
Bộ Tư pháp; Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi
đất ở của Mai Huy đăng ngày 26/5/2017 trên tầm nhìn. Net. Vn; Bài phỏng
vấn của phóng viên Văn Thanh báo Ninh Thuận “Giải pháp nào tháo gỡ khó

3


khăn trong khâu giải phóng mặt bằng” Tầm nhìn. Net. Vn ; Đền bù, giải
phóng mặt bằng phải dung hòa lợi ích các bên đăng 4/9/2012 trên Tầm nhìn.
Net. Vn; Tháo gỡ khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng đăng
26/12/2014 trên báo Kinh tế & Đô thị online; Chính sách bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư cho người bị thu hồi đất đăng 10/10/2013 trên trang thông tin điện
tử tổng hợp của Ban Nội chính trung ương; Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất đăng 26/5/2014 trên trang chinhphu. Vn.
Nói chung, vấn đề bồi thường, giải phóng mặt bằng đã được rất nhiều
tác giả quan tâm, nghiên cứu. Tuy nhiên, các bài viết công trình nghiên cứu
trong điều kiện áp dụng Luật đất đai 2003. Qua thực tiễn áp dụng Luật đất đai
2013 được triển khai thực hiện cũng nảy sinh một số vấn đề bất cập cần phải
nghiên cứu nhằm hoàn thiện chính sách việc bồi thường, hỗ trợ.
Việc tiếp cận vấn đề từ góc độ thực tiễn tại địa bàn một quận của Tp
HCM; đồng thời bằng việc tham chiếu giữa các quy định của Pháp luật về
việc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước THĐ của Luật đất đai 2013 có hiệu lực
từ ngày 1/7/2014 trong các tình huống cụ thể tại một địa bàn cụ thể sẽ là một

- Những yêu cầu thực tiễn, mang tính nguyên tắc chi phối hoạt động bồi
thường, hỗ trợ và ý nghĩa pháp lý của việc BT - HT khi Nhà nước THĐ.
- Từ thực tiễn tại địa phương, với thời gian nghiên cứu có hạn và giới hạn số
lượng trang viết, học viên chỉ nghiên cứu sâu các vấn đề BT-HT cho người
dân bị Nhà nước THĐ ở qua thực tiễn áp dụng tại địa bàn quận 11 TPHCM
giai đoạn từ năm 2006 (LĐĐ năm 2003) đến nay (LĐĐ năm 2013); Quyết
định số 35/2010/QĐ- UBND ngày 28/5/2010 quyết định ban hành quy định
về BT-HT khi Nhà nước THĐ trên địa bàn TP.HCM; Quyết định số
23/2015/QĐ- UBND ngày 15/5/2015 quyết định ban hành quy định về BTHT khi Nhà nước THĐ trên địa bàn TP.HCM.

5


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và
phương pháp duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nhằm nghiên cứu vấn
đề trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng và trong mối quan hệ tổng
thể tác động qua lại giữa hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng khác,
đồng thời các hiện tượng nghiên cứu luôn được xem xét trong quá trình từ
hình thành đến phát triển qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Bên cạnh đó
học viên cũng dựa trên Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của
Đảng, Pháp luật của Nhà nước trong điều kiện xây dựng kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa để làm sang tỏ nội dung nghiên cứu của luận
văn. Cùng với những phương pháp trên, học viên đã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp, thông tin thứ cấp được thu
thập chủ yếu là các quy định của cơ quan nhà nước ở trung ương,, UBND
thành phố Hồ Chí Minh, UBND quận 11, thành phố Hồ Chí Minh, các cơ
quan liên ngành về BT-HT, ban Bồi thường giải phóng mặt bằng quận 11,
thành phố Hồ Chí Minh. Nguồn thông tin này được thu thập chủ yếu qua các

Luận văn góp phần tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của Pháp
luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ở.
Bằng kết quả khảo sát thực tế, kết hợp những kinh nghiệm rút ra được
qua thực tế công tác, những kiến thức được trang bị trong quá trình học
chương trình Cao học Luật Kinh tế, học viên tập trung phân tích, nghiên cứu
tìm ra những nguyên nhân của những hạn chế trong công tác bồi thường, hỗ
trợ khi Nhà nước thu hồi đất ở. Từ đó, đề ra các giải pháp khắc phục cụ thể,
kiến nghị những nội dung cần quan tâm khi xây dựng, bổ sung, chỉnh sửa cơ
chế chính sách về bồi thường. Do đó, tôi hy vọng đề tài là một tài liệu có giá
trị tham khảo, ứng dụng trên thực tế đối với hoạt động bồi thường khi Nhà

7


nước thực hiện thu hồi đất ở, nhất là những nơi có nhiều dự án đầu tư đang
được triển khai.
Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là nguồn tài liệu tham khảo
cần thiết và đáng tin cậy đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong
hoạt động ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về đất đai
liên quan tới lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ở.
7. Cơ cấu của luận văn
Với mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài, ngoài mục
lục, danh mục tài liệu tham khảo, mở đầu, kết luận, luận văn được bố cục
thành ba chương như sau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà
nước thu hồi đất ở .
- Chương 2: Thực trạng Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi
đất ở từ thực tiễn quận 11, thành phố Hồ Chí Minh
- Chương 3: Định hướng và các giải pháp hoàn thiện Pháp luật về bồi thường,
hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ở.

Trong lĩnh vực Pháp luật đất đai, thuật ngữ bồi thường (hay đền bù)

9


thiệt hại để thực hiện giải phóng mặt bằng ở Việt Nam đã được đặt ra từ rất
sớm. Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959 của Hội đồng Chính phủ (nay là
Chính phủ) “Quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất”, tại Chương II
đã đề cập đến việc “Bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng”. Qua
bao nhiêu thời kỳ, đến nay Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua
ngày 29/11/2013, khoản 12, điều 3 [46] về giải thích từ ngữ đã quy định rõ:
“Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với
diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất”. Còn vấn đề hỗ trợ và bồi thường
thiệt hại về tài sản được quy định tại mục 2, mục 3 chương VI của Luật [46].
Như vậy, khi Nhà nước thu hồi đất, Nhà nước có nghĩa vụ bồi thường
cho người sử dụng đất hợp pháp bị thu hồi đất những giá trị, thiệt hại hợp lý
về đất và tài sản trên đất, việc bồi thường được thực hiện theo những quy định
của pháp luật đất đai.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất như sau: Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước hoặc tổ
chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích
quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế
phải bù đắp những tổn hại về đất và tài sản trên đất do hành vi thu hồi đất
gây ra, cho người sử dụng đất tuân theo những quy định của pháp luật đất
đai.
1.1.2. Khái niệm về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ở.
Mỗi người Việt Nam chúng ta luôn tự hào với truyền thống “lá lành
đùm lá rách”. Vì thế, khi một người nào đó trong xã hội gặp những khó khăn
thì các thành viên khác trong cộng đồng luôn phát huy tinh thần đoàn kết và
sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ họ vượt qua những khó khăn đó thông qua việc hỗ

phóng mặt bằng, Luật Đất đai 2013 [46] tiếp tục kế thừa những những quy
định còn phù hợp của Luật đất đai 2003 [45] đồng thời đã sửa đổi, bổ sung
một số quy định mới nhằm đưa chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

11


trong Nghị quyết 19/NQ-TW đi vào cuộc sống.
Luật thể hiện một cách rõ ràng nguyên tắc công khai, minh bạch và dân
chủ trong công tác thu hồi đất thông qua các qui định về các trường hợp Nhà
nước thu hồi đất; qui định trình tự thủ tục THĐ; bồi thường, hỗ trợ khi Nhà
nước thu hồi đất. Để đảm bảo nguyên tắc dân chủ, công khai; Luật đất đai
2013 [46] đã qui định theo hướng tăng cường hơn sự tham gia trực tiếp của
nhân dân trong đo đạc, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất và xây dựng
phương án bồi thường, hỗ trợ trách nhiệm đối thoại và giải trình của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền khi người dân chưa có ý kiến đồng thuận.
+ Nguyên tắc bồi thường theo khung giá đất do Nhà nước quy định sát với
giá chuyển nhượng sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình
thường.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 tại khoản 3,
Điều 54 [42] quy định về chính sách thu hồi đất "Nhà nước thu hồi đất do tổ
chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì
mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia,
công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường
theo quy định của pháp luật”. Đây là cơ sở pháp lý cao nhất định hướng cho
toàn bộ công tác bồi thường thiệt hại về đất khi Nhà nước trưng dụng tài sản
của cá nhân, tổ chức sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; lợi ích quốc
gia, lợi ích công cộng ở nước ta. Tính đặc biệt của nguyên tắc này thể hiện ở
chỗ:
Đất đai là tài nguyên vô cùng quí giá. Nó không phải là tài sản thông

Bồi thường thiệt hại về diện tích đất thực tế bị thu hồi;
Bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với diện tích đất thực tế bị thu hồi;
Hỗ trợ di chuyển chỗ ở cho người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở;
Hỗ trợ khó khăn về đời sống mà người bị thu hồi đất gặp phải do việc thu hồi
đất của Nhà nước gây ra;

13


Hỗ trợ về đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp; bố trí sắp xếp công ăn việc làm
mới cho người trực tiếp sản xuất bị thu hồi đất mà không có đất để giao cho
họ tiếp tục sản xuất;
1.3. Nội dung của Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi
đất ở
1.3.1. Quy định Pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở
Nguyên tắc trên thể hiện khi Nhà nước lấy đi phần lợi ích của người
dân mà người dân có đầy đủ điều kiện được bồi thường thì Nhà nước có trách
nhiệm phải bồi thường thiệt hại. Quy định trên phù hợp với nguyên tắc dân sự
được qui định trong bộ luật dân sự 2005.( Khi Nhà nước lấy đất thì bồi
thường bằng đất cùng loại, nếu không có đất cùng loại thì bồi thường bằng
tiền với giá trị tương đương. Cách tiếp cận này xuất phát từ quan niệm coi đất
đai là tài sản có thể trả thay bằng tiền bồi thường để mua được một thửa đất
tương đương). Qui định này cũng nhằm ngăn ngừa tình trạng người bị thu hồi
đất đòi hỏi giá bồi thường quá cao do giá trị của đất đai tăng lên từ việc
chuyển mục đích sử dụng đất hoặc do sự đầu tư của nhà nước mang lại.
Việc bồi thường phải dân chủ khách quan, tức là phải đảm bảo khi
người dân bị thu hồi đất mà có đủ các điều kiện nhận bồi thường, họ phải
được bồi thường. Đây là quyền liên quan đến lợi ích chính đáng mà không
một ai hay tổ chức nào đước phép ngăn cản không cho họ thực hiện.
Quy định cụ thể và làm rõ các điều kiện để được bồi thường về đất khi

thường thiệt hại.
Đây là một điểm mới của Luật đất đai 2013 [46] khi đã bắt đầu xem xét
bồi thường về đất không chỉ với tư cách là tài sản mà còn là tài nguyên và tư
liệu sản xuất. Trên thực tiễn, ngoài ý nghĩa là tài sản, đất đai còn là tài nguyên
thiên nhiên, tư liệu sản xuất và nguồn sống của con người. Vì đất là tư liệu
sản xuất của người bị thu hồi đất nên nhà đầu tư ngoài việc bồi thường giá trị
như một tài sản còn phải bồi thường về thu nhập, sinh kế cho người mất đất.

15


Nếu chỉ là khoản hỗ trợ trong một thời gian nhất định thì coi như đã phó mặc
việc tìm sinh kế mới cho người mất đất. Do đó, thay vì phó mặt gánh nặng hỗ
trợ đào tạo nghề đối với người mất đất cho nhà nước, nhà đầu tư cần phải
được yêu cầu cùng bàn bạc với người mất đất về cơ hội tìm sinh kế mới cho
họ; đồng thời nhà đâu tư phải chi trả cho người mất đất một khoản tiền tương
ứng với mức thu từ sử dụng đất trước đây cho đến khi người bị mất đất có
nguồn thu nhập mới theo nguyên tắc càng để lâu, chi phí bồi thường càng lớn
để bắt buộc nhà đầu tư không thể trì hoãn. Theo nguyên tắc này nhà đầu tư
cần nghiên cứu rất kỹ lưỡng đất đai trong bài toán đầu tư để chi phí ít nhất,
chính quyền địa phương cũng không đánh đổi mọi giá cho sự phát triển, như
vậy chắc chắn sẽ giảm được tham nhũng từ đất đai và bảo vệ nguồn lực đất
đai.
1.3.2. Quy định của Pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ở
Về chính sách hỗ trợ, Luật Đất đai năm 2013 [46] bổ sung một số quy
định so với Luật Đất đai năm 2003 [45].
- Quy định các nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ở: Người sử dụng
đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của
Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ; việc hỗ trợ phải bảo đảm khách
quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật".

nguy cơ đe dọa tính mạng con người, đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh
hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người thì người có
đất thu hồi được bồi thường, hỗ trợ để ổn định đời sống, sản xuất theo quy
định của Chính phủ.
- Đối với dự án đầu tư do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, Thủ tướng
Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư mà phải di chuyển cả cộng đồng dân
cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống, kinh tế - xã hội, truyền thống văn
hóa của cộng đồng, các dự án thu hồi liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương thì Thủ tướng Chính phủ quyết định khung chính sách bồi

17


thường, hỗ trợ
- Đối với dự án sử dụng vốn vay của các tổ chức quốc tế, nước ngoài mà Nhà
nước Việt Nam có cam kết về khung chính sách bồi thường, hỗ trợ thì thực
hiện theo khung chính sách đó.
1.4. Vai trò, ý nghĩa Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu
hồi đất ở
Thu hồi đất vừa là một hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, là
công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền sở hữu Nhà nước đối với đất đai.
Là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số là nông dân nên vấn
đề đất đai ở Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan trọng và nhạy cảm. Các chính
sách, pháp luật đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định về chính trị. Vì
vậy, việc giải quyết tốt vấn đề bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là
thực hiện tốt chính sách an dân để phát triển kinh tế, xã hội góp phần vào việc
duy trì, củng cố sự ổn định về chính trị.
Hơn nữa việc thực hiện tốt các chính sách Pháp luật vê công tác bồi
thường hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là điều kiện để triển khai các dự án
đầu tư, góp phần vào việc thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế và nâng cao

nông dân bị mất đất SX trong việc đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm
việc làm mới. Qua đó, góp phần rút bớt một lực lượng lao động ở nông thôn
chuyển sang làm việc trong khu vực SX phi nông nghiệp và dịch vụ.
1.4.2. Bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nhằm bảo đảm giải
quyết hài hoà lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người bị thu hồi đất.
Nhà nước Việt Nam là Nhà nước “của dân, do dân và vì dân”, khi thu
hồi đất của người dân để thực hiện bất cứ vì mục đích gì mà làm phương hại
đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân thì Nhà nước có trách nhiệm
phải bồi thường. Hơn nữa, trong giai đoạn hiện nay, để tranh thủ thời cơ, vượt
qua thách thức của toàn cầu hóa về kinh tế, cần phát huy nội lực, tinh thần
đoàn kết dân tộc và khơi dậy tinh thần lao động, sáng tạo góp phần vào sự

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status