TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG ĐA KHOA
MÃ SỐ: 51720501
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH CHĂM SÓC
BÀ MẸ SAU MỔ LẤY THAI TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ,
NĂM 2017
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN :
SINH VIÊN THỰC HIỆN
Ths. NGHỊ NGÔ LAN VI
HUỲNH THỊ MỸ DUNG
MSSV: 13D720501005
LỚP: Đạihọc Điều Dưỡng 8
Cần Thơ, năm 2017
TÓM TẮT
Trong những năm gần đây tỷ lệ mổ lấy thai ngày càng gia tăng ở các nước trên
thế giới cũng như ở Việt Nam, vấn đề chăm sóc hậu phẫu và hậu sản sau mổ lấy thai là
thực sự cần thiết. Nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng chăm sóc cho bà mẹ sau mổ
lấy thai và trẻ sơ sinh, đề tài “Khảo sát tình hình chăm sóc bà mẹ sau mổ lấy thai tại
Bệnh viện Đa khoa trung ương Cần Thơ, năm 2017” được tiến hành với mục tiêu cụ
2.2. BỆNH HỌC MỔ LẤY THAI............................................................................ 4
2.3. CHĂM SÓC BÀ MẸ TRƯỚC VÀ SAU MỔ LẤY THAI ............................... 5
2.4. SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH MỔ LẤY THAI HIỆN NAY ................................... 11
2.5. SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU .................................................... 12
Chương 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................... 13
3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ......................................................................... 13
3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................... 13
3.3. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU .............................................................. 20
Chương 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ........................................................... 21
4.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .............................................................................. 21
4.2. THẢO LUẬN .................................................................................................. 29
Chương 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ............................................................... 39
5.1. KẾT LUẬN ..................................................................................................... 39
5.2. ĐỀ XUẤT ........................................................................................................ 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................... 40
PHỤ LỤC A .......................................................................................................... 43
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo độ tuổi ........................................... 21
Bảng 4.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo khu vực sinh sống ......................... 21
Bảng 4.3. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp ................................... 22
Bảng 4.4. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn ............................ 22
Bảng 4.5. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc ........................................... 23
Bảng 4.6. Dấu hiệu sinh tồn của bà mẹ sau mổ lấy thai ......................................... 23
Bảng 4.7. Biến chứng của bà mẹ sau mổ lấy thai................................................... 23
Bảng 4.8. Chăm sóc vết mổ của bà mẹ sau mổ lấy thai ........................................ 24
Các bà mẹ quan tâm, chăm sóc sức khỏe tốt nhất cho mẹ và con khi mang thai đến khi
sinh. Các bà mẹ biết khám thai định kỳ theo hướng dẫn của bác sĩ, nghĩ ngơi và ăn
uống nhiều hơn so với bình thường. Vậy mà, ngày nay có quá nhiều phụ nữ gặp khó
khăn trong vấn đề sinh nở, ảnh hưởng đến quá trình sinh ngả âm đạo.
Tỷ lệ mổ lấy thai đang gia tăng ở nhiều nước trên thế giới. Mexico là nước có tỷ
lệ mổ lấy thai cao nhất theo khảo sát vào năm 2007, 2008 là 43,9%, Italy là 39,8%,
Hàn Quốc là 35,3%, Mỹ là 31,8%. [33]
Ở Việt Nam, tỷ lệ mổ lấy thai cũng khá cao và tăng dần hàng năm. Ở Viện bảo
vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh từ giữa thập kỷ 50 đến hết thập kỷ 60, tỷ lệ mổ lấy thai khoảng
9%. Những năm đầu thập kỷ 80 tỷ lệ này là 15%. Đến những năm đầu thập kỷ 90 đã
lên đến 23% [6]. Theo Vũ Duy Minh (2011) tỷ lệ mổ lấy thai tại bệnh viện Từ Dũ năm
2008 là 46%. [29]
Trước sự phát triển vượt bậc của nền y học hiện đại, sản khoa là một trong những
vấn đề quan tâm hàng đầu. Đặc biệt phương pháp mổ lấy thai được bác sĩ chỉ định, khi
các trường hợp sinh ngả âm đạo không an toàn cho cả mẹ và thai nhi. Bà mẹ cần có
thời gian lâu hơn để phục hồi sức khỏe và cũng có nhiều nguy cơ xảy ra tai biến nhiều
hơn cho cả mẹ và con. Về phía mẹ, sinh mổ mất máu nhiều hơn so với sinh thường,
tăng nguy cơ nhiễm trùng vết mổ, tử cung và bàng quang. Tổn thương các cơ quan
như ruột bàng quang, đặc biệt là mổ lấy thai được lặp lại. Quá trình liền sẹo có thể gây
đau và tắc ruột sau khi mổ. Tăng thời gian và chi phí nằm viện [23]. Theo nghiên cứu
của Trần Sơn Thạch và cộng sự (2007) tại bệnh viện Hùng Vương cho thấy có 6,8%
bà mẹ được chẩn đoán là nhiễm trùng tiểu sau mổ lấy thai [25]. Theo nghiên cứu của
Lưu Tuyết Minh và cộng sự (2014) tại Bệnh viện Bạch Mai thì tỷ lệ huyết khối tĩnh
mạch sâu chi dưới ở bà mẹ sau mổ lấy thai là 13,5% [10]. Theo Lê Thu Đào (2012) tỷ
lệ bà mẹ được chăm sóc tốt sau mổ lấy thai là 32%, tỉ lệ này khá thấp so với tỉ lệ bà mẹ
chưa được chăm sóc tốt là 68% [8]. Về phía trẻ, trẻ sinh mổ có sức đề kháng và hệ
miễn dịch kém hơn trẻ sinh thường. Do sinh mổ trẻ không tiếp nhận được vi sinh vật
có lợi từ ống sinh của mẹ, do đó vi sinh vật có lợi chậm khu trú trong đường ruột cho
nên hệ miễn dịch của trẻ phát triển chậm trễ hơn. Trẻ sinh mổ không được bú mẹ ngay
1
2.1.1. Giải phẫu cơ quan sinh dục nữ
Cơ quan sinh dục của nữ gồm: cơ quan sinh dục trong (buồng trứng, vòi tử cung,
tử cung và âm đạo) và bộ phận sinh dục ngoài (âm hộ, âm vật, ngoài ra còn có vú là
tuyến tiết sữa trong thời kỳ nuôi con). [7], [17]
Tuyến vú được xem như là cơ quan sinh dục thứ hai của người phụ nữ và là
nguồn dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh. Đầu của núm vú có nhiều lỗ nhỏ là lỗ tiết của các
ống tiết sữa. Các tuyến sữa là loại tuyến chùm, tạo thành các tiểu thùy. Nhiều tiểu thùy
hợp thành các thùy. Mỗi vú có khoảng 15–20 thùy, mỗi thùy đỗ ra núm vú bởi một
ống tiết sữa. Ở quầng vú, các ống tiết sữa nở rộng ra tạo thành xoang sữa là nơi sữa
được gom vào để chuần bị cho một bữa bú. [7], [12], [17]
Cơ quan sinh dục trong gồm: 2 buồng trứng là tuyến vừa ngoại tiết (tiết ra trứng)
vừa nội tiết (tiết ra nội tiết tố nữ quyết định giới tính sinh dục phụ). 2 vòi tử cung để
dẫn trứng về buồng tử cung, tử cung là cơ quan chứa thai và đẩy thai ra ngoài, âm đạo
là đường dẫn thai ra ngoài từ tử cung. Bộ phận sinh dục ngoài gồm âm hộ là cơ quan
giao hợp của nữ, âm vật tương đương dương vật ở nam và lỗ niệu đạo. [7], [17], [26]
2.1.2. Sinh lý của bà mẹ khi mang thai
Thụ tinh là sự kết hợp giữa một tế bào đực là tinh trùng với một tế bào cái là
noãn để thành một tế bào có khả năng phát triển rất nhanh gọi là trứng.
- Tinh trùng: từ tế bào mầm của tinh hoàn qua giảm phân 2 lần tạo thành tinh
trùng có 22 NST thường và 1 NST giới tính X hoặc Y.
- Noãn bào: từ những tế bào mầm từ buồng trứng tạo thành noãn nguyên bào.
- Cơ chế thụ tinh: tinh trùng đến 1/3 ngoài của vòi trứng, vây quanh noãn bào rồi
bám vào màng trong suốt của noãn bào do sự liên quan lý hóa giữa men fertilyzin của
vùng màng trong suốt và các men ở đầu tinh trùng. Tinh trùng thụ tinh, khúc giữa và
khúc cuối tiêu đi. Đầu tinh trùng chui qua noãn bào tử thành tiền nhân đực có n NST.
Lúc ấy noãn bào cũng đã phóng ra cực đầu II để trở thành tiền nhân cái cũng có n
NST. Nếu tinh trùng thụ tinh mang NST giới Y, sẽ tạo thành một tế bào hợp nhất
mang XY, sẽ là thai trai. Tinh trùng mang NST giới tính X sẽ tạo thành một tế bào hợp
nhất mang XX, sẽ là thai gái. [6], [21]
Mẹ nhiễm Herpes sinh dục đang tiến triển. [9]
4
2.2.2.3. Chỉ định mổ lấy thai do phần phụ của thai
Nhau tiền đạo trung tâm và phần lớn các trường hợp nhau tiền đạo bán trung tâm.
Nhau bong non, sa dây rốn. [9]
2.2.3. Chống chỉ định mổ lấy thai
Không có chống chỉ định cho mổ lấy thai, trong nhiều trường hợp cần cân nhắc
giữa mổ lấy thai và sinh ngả âm đạo để có được chỉ định tối ưu. [9]
2.2.4. Biến chứng của bà mẹ sau mổ lấy thai
Phẫu thuật mổ lấy thai không phải là không có biến chứng. Biến chứng xảy ra
bao gồm cho cả mẹ và cho cả con. [19]
2.2.4.1. Biến chứng của mẹ sau mổ lấy thai
Tỷ lệ chảy máu sẽ gia tăng khi gây mê, gây tê để mổ và do rách thêm đoạn dưới
khi lấy thai.
Nhiễm trùng thường là nhiễm trùng vết mổ, nhiễm trùng ối gây viêm phúc mạc
có thể dẫn đến cắt tử cung trong thời gian hậu phẫu.
Tai biến phẫu thuật như chạm phải các cơ quan lân cận như ruột, bàng quang,
khâu phải niệu quản, dò bàng quang – tử cung, dò bàng quang–âm đạo.
Các tai biến do gây mê–hồi sức.
Sẹo mổ trên thân tử cung có thể nứt trong thai kỳ sau. Tỷ lệ này khoảng 1–2%
với mổ dọc thân tử cung, nứt khi chưa vào chuyển dạ; khoảng 0,5–1% với mổ ngang
đoạn dưới tử cung, nứt khi đã vào chuyển dạ.
Lạc nội mạc tử cung, dính ruột, tắc ruột. [9]
2.2.4.2. Biến chứng của con sau mổ lấy thai
Thai nhi có thể bị ảnh hưởng bởi thuốc mê, bị chạm thương trong khi phẫu thuật,
hít phải nước ối. Tiên lượng cho con cũng tùy thuộc vào kỹ thuật lấy thai trong những
trường hợp ngôi bất thường. [9]
Tỷ lệ mắc bệnh cho trẻ được mổ lấy thai cũng cao hơn so với trẻ đẻ qua đường
không rồi ghi vào hồ sơ bệnh án. [5]
2.3.2. Làm mẹ an toàn
2.3.2.1. Sự ra đời của chương trình làm mẹ an toàn
Vào năm 1987, do sự nỗ lực của các tổ chức y tế và các quốc gia, sáng kiến làm
mẹ an toàn được đưa ra nhằm làm giảm tử vong và bệnh tật của mẹ và trẻ sơ sinh đặc
biệt là ở các nước đang phát triển. Sáng kiến này đặt ra mục tiêu phấn đấu giảm tỷ lệ
tử vong mẹ còn một nửa vào năm 2000. Làm mẹ an toàn có thể đạt được với việc cung
cấp dịch vụ y tế có chất lượng cao cho tất cả các bà mẹ. [4]
2.3.2.2. Làm mẹ an toàn
Làm mẹ an toàn là những biện pháp được áp dụng để đảm bảo sự an toàn cho cả
mẹ và thai nhi; mục đích là làm giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong ngay khi người phụ nữ
mang thai, trong khi sinh và suốt thời kỳ hậu sản (42 ngày sau đẻ). Chìa khóa của làm
mẹ an toàn là kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc người mẹ trước trong và sau sinh. [4]
2.3.2.3. Nội dung của làm mẹ an toàn về chăm sóc sau sinh
Tư vấn cho bà mẹ về lợi ích và cách thức nuôi con bằng sữa mẹ và chăm sóc trẻ
sơ sinh sau sinh, những vấn đề sinh lý bình thường trong thời kỳ hậu sản, chế độ dinh
dưỡng hợp lí để đảm bảo sự hồi phục của người mẹ cũng như sự phát triển của trẻ sơ
sinh; vệ sinh trong thời kì hậu sản, vấn đề tình dục và thực hiện các biện pháp tránh
thai sau sinh. [4]
Chăm sóc trong thời kì hậu sản: thời kì hậu sản được tính từ sau khi cuộc chuyển
dạ được hoàn tất cho đến 42 ngày sau khi sinh. Chăm sóc thời kì hậu sản là phải theo
6
dõi chặt chẽ sản phụ và trẻ sơ sinh sau khi sinh để phát hiện chảy máu ở sản phụ và
đảm bảo thân nhiệt ở trẻ sơ sinh. Chăm sóc sản phụ và trẻ sơ sinh ngày đầu sau khi
sinh bao gồm 2 giờ đầu, từ giờ thứ 3 cho đến hết ngày thứ nhất. [4]
2.3.3. Chăm sóc bà mẹ sau mổ lấy thai.
2.3.3.1. Chăm sóc tổng trạng của bà mẹ sau mổ lấy thai
Bà mẹ sau mổ cần được theo dõi các vấn đề sau: quan sát màu sắc da, niêm mạc
7
Cho sản phụ ăn uống sớm không chờ trung tiện. Thực hiện cho uống hoặc ăn
nhẹ: uống sữa, súp, cháo loãng hoặc uống oresol ngày đầu sau mổ để đảm bảo dinh
dưỡng, điện giải và cung cấp nước.
Ngày thứ 2 sau khi trung tiện cho ăn cơm, uống nước bình thường. Lượng nước
uống phải đủ cho nhu cầu của mẹ và tạo sữa để cung cấp đủ sữa cho trẻ.
Uống đủ nước: thường nhu cầu cho mẹ và con khoảng 1,5–2 lít / ngày.
Ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng, ăn no. [1], [5], [24]
2.3.3.4. Theo dõi tình trạng tiêu hóa của bà mẹ sau mổ lấy thai
Sau sinh sản phụ thường bị táo bón, sau sinh 3 ngày sản phụ không đi đại tiện
được nên khuyên sản phụ ăn uống nhiều hoa quả, thức ăn nhiều chất xơ và đi lại vận
động không nên nằm lâu hoặc báo bác sĩ cho y lệnh thuốc nhuận tràng, cho uống ngay
một lúc 1 lít đến 1,5 lít nước chín với thuốc để làm loãng phân, tạo cảm giác mót và đi
đại tiện được. [5]
2.3.3.5. Phòng ngừa nguy cơ nhiễm trùng tiểu của bà mẹ sau khi rút ống thông niệu
đạo bàng quang.
Ống thông niệu đạo bàng quang thường được rút trong vòng 12–24 giờ sau mổ
hoặc thuận tiện hơn là rút vào buổi sáng hôm sau ngày phẫu thuật. Trường hợp nước
tiểu có lẫn máu do chạm phải bàng quang trong lúc mổ cần phải lưu thông tiểu cho đến
khi nước tiểu trở lại trong hoàn toàn để tránh khả năng bị dò bàng quang về sau.
Thông tiểu tại chỗ lưu trên 24 giờ làm tăng nguy cơ nhiễm trùng tiểu.
Nhận biết các dấu hiệu nhiễm trùng: tiểu buốt, tiểu gắt hoặc bí tiểu, thường do
đặt thông tiểu không đảm bảo vô trùng hoặc sản phụ có tình trạng nhiễm trùng trước
đó mà không ghi nhận.
Sau khi rút thông tiểu phải theo dõi khả năng tự tiểu của sản phụ cũng như sự
xuất hiện cầu bàng quang (khám thấy có khối cầu bàng quang trên xương vệ, đẩy đáy
tử cung lên cao trên rốn) xử trí bằng cách đắp ấm, xoa nhẹ bàng quang và khuyến
khích sản phụ ngồi tiểu. [24]
điểm có thể cho trẻ bú sau khoảng 4–6 giờ khi thuốc mê bớt tác dụng. [2]
Sau sinh mổ, sản phụ thường lên sữa muộn hơn sinh thường. Lý do thường gặp
do sản phụ đau nhiều nên cho trẻ bú muộn, nhân viên y tế và người nhà nên giúp đỡ để
sản phụ cho trẻ bú càng sớm ngay sau sinh càng tốt. [24]
Hướng dẫn bà mẹ cho con bú đúng:
- Trẻ ngậm bắt vú đúng (miệng trẻ ngậm bắt môi dưới hướng ra ngoài, lưỡi chụm
quanh bầu vú, má chụm tròn, quầng vú còn lại ở phía trên nhiều hơn phía dưới).
- Tư thế cho bú đúng (đầu và thân trẻ ở trên cùng một đường thẳng, mặt trẻ đối
diện với vú và môi trẻ đối diện với núm vú, thân trẻ sát với mẹ, đỡ toàn bộ người trẻ).
- Trẻ bú có hiệu quả (mút chậm, sâu, thỉnh thoảng dừng lại rồi bú tiếp. Có thể
nhìn hoặc nghe thấy tiếng trẻ nuốt). [1]
- Đối với sản phụ sinh mổ, trong những ngày đầu hậu phẫu có thể cho trẻ bú ở tư
thế nằm. Bà mẹ nằm nghiêng một bên, có thể dùng nhiều gối lót sau lưng cho đỡ mỏi.
Nhờ một người phụ ẩm bé cho nằm hướng mặt và thân về phía bà mẹ trong lúc tay của
bà mẹ giữ chặt lấy mông trẻ. [9]
- Không hạn chế số lần cho trẻ bú, cho bú theo nhu cầu, ít nhất là 8 lần/ngày, cả
ngày và đêm.
- Bú hết sữa một bên vú mới chuyển sang bên kia.
- Không dứt vú khi bé chưa muốn thôi bú.
9
Hướng dẫn bà mẹ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn từ mới sinh đến 4 tháng tuổi. Bắt đầu
cho ăn bổ sung trong khoảng 4–6 tháng tuổi và tiếp tục nuôi con bằng sữa mẹ đến 2
năm hoặc lâu hơn. [1], [9]
Hướng dẫn sản phụ lau sạch bầu vú và vắt bỏ vài giọt sữa đầu tiên trước khi cho
trẻ bú. Sau khi cho bú xong nên lau sạch lại đầu vú, không được để sữa đọng ở đầu vú.
Sau khi cho bú còn dư sữa thì phải vắt hết sữa, để đảm bảo những giờ sau sữa sẽ tiết
dần, chống sự giảm tiết sữa. [5], [9]
Giải thích những thay đổi về vú trong ngày đầu.
Cần nhắc nhở sản phụ giữ giấy ra viện và cung cấp cho nhân viên y tế ở lần
mang thai sau. [5], [24]
2.4. SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH MỔ LẤY THAI HIỆN NAY
2.4.1. Tình hình mổ lấy thai trên thế giới
Theo khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới, tỷ lệ mổ lấy thai tốt nhất chỉ nên từ
5–10%. Khi tỷ lệ này vượt trên 15% thì sẽ có nhiều tác hại xảy ra hơn lợi ích của nó.
Thế nhưng hiện nay tỷ lệ mổ lấy thai đã tăng cao ở các nước phát triển và đang phát
triển. Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới, tỷ lệ mổ lấy thai tăng từ 5–7% trong
những năm 1970 lên 25–30% năm 2003. [31], [32], [34]
Ở nhiều nước trên thế giới, tỷ lệ mổ lấy thai mỗi năm một tăng. Mexico là nước
có tỷ lệ mổ lấy thai cao nhất trong số 22 quốc gia phát triển được khảo sát vào năm
2007, 2008 là 43.9%, tiếp theo là Italy là 39.8%, Hàn Quốc là 35.3%, Mỹ là 31.8%.
Các quốc gia có tỷ lệ thấp nhất là Hà Lan với 13.9%, Iceland là 16.1% và Phần Lan là
16.5%. [33]
Tại Hoa Kì: tỷ lệ mổ lấy thai tăng rất nhanh chóng từ 4,5% năm 1965 lên 24,1%
năm 1986. Đến nay tỷ lệ mổ lấy thai tại Hoa Kì có giảm, tuy nhiên tỷ lệ này giảm rất
chậm. Năm 2014, tỷ lệ mổ lấy thai chung của cả nước Hoa Kì là 32,2% giảm 0,7% so
với năm 2009 là 32,9%. [32], [33]
Ở các nước châu Âu tỷ lệ mổ lấy thai hiện nay là 30%. Tại Úc tỷ lệ mổ lấy thai
năm 2007 là 20,1% tăng gấp 1,5 lần so với năm 1997 là 30,6%, tỷ lệ mổ lấy thai trong
các bệnh viện công ở Brazil và quốc gia Nam Mỹ đã đạt 80% vào đầu những năm
2000. [33]
2.4.2. Tình hình mổ lấy thai ở Việt Nam
Ở Việt Nam không có thống kê cho biết tỷ lệ mổ lấy thai trên phạm vi cả nước,
do vậy các con số trong từng bệnh viện không thể cho chúng ta biết được tổng thể của
cả nước để so sánh với các nước khác. Ở một thời điểm tỷ lệ mổ lấy thai khác nhiều
giữa các bệnh viện. [19]
Theo nghiên cứu của Vương Tiến Hòa (2004) thì tỷ lệ mổ lấy thai tại bệnh viện
ối, 02 máy đốt điện cổ tử cung, 09 máy monitoring theo dõi cơn co, tim thai… Với 93
nhân viên trong đó có 19 bác sĩ (05 bác sĩ chuyên khoa 1, 02 thạc sĩ và 05 bác sĩ
chuyên khoa 2), 04 cử nhân điều dưỡng hộ sinh, 01 y sĩ sản nhi, 63 hộ sinh trung học,
02 điều dưỡng trung học và 04 hộ lý. Tính đến tháng 9 năm 2011 khoa Phụ sản đã đạt
được nhiều thành tích như mổ 3465 cases, siêu âm 15393 cases, sanh 5977 cases. [3]
12
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Là những sản phụ tại khoa Phụ sản Bệnh viện Đa khoa trung ương Cần Thơ.
3.1.2. Tiêu chuẩn chọn
- Bà mẹ sau mổ lấy thai tại khoa Phụ sản Bệnh viện Đa khoa trung ương Cần
Thơ.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
3.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ
- Bà mẹ bị rối loạn tâm thần
- Bà mẹ bị bệnh nặng
- Bà mẹ không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Bà mẹ bị câm, mù, điếc
- Bà mẹ không biết chữ
3.1.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: khoa phụ sản bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ.
- Thời gian: từ tháng 01/2017 đến tháng 4/2017.
3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1. Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
3.2.2. Cở mẫu
- Tiền sử mổ lấy thai: gồm 2 giá trị là có và không.
- Lý do mổ lấy thai: gồm 2 giá trị: theo yêu cầu và chỉ định của bác sĩ.
- Hậu phẫu ngày thứ mấy
3.2.4.2. Thực hành chăm sóc bà mẹ sau mổ lấy thai.
Bộ câu hỏi gồm 30 nội dung được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp bà mẹ,
ghi chép từ bệnh án hoặc khám, nhận định trên lâm sàng.
Bà mẹ được chăm sóc tốt mỗi nội dung đạt 1 điểm
Bà mẹ được chăm sóc chưa tốt mỗi nội dung đạt 0 điểm
- Chị có đau vết mổ không: gồm 3 giá trị:
+ Không đau
+ Đau khi vận động mạnh, đi lại
+ Có đau
Bà mẹ được chăm sóc tốt là bà mẹ chọn 1 trong 2 đáp án: không đau; đau khi vận
động mạnh, đi lại
- Điều dưỡng rửa và thay băng vết mổ khi nào, bao nhiêu lần/ngày: gồm 3 giá trị:
+ Rửa vào buổi sáng, 1 lần/ngày
+ Rửa vào buổi sáng và chiều, 2 lần/ngày
+ Không rửa và thay băng vết mổ
Bà mẹ được chăm sóc tốt là bà mẹ chọn 1 trong 2 đáp án: Rửa vào buổi sáng, 1
lần/ngày; rửa vào buổi sáng và chiều, 2 lần/ngày
- Uống thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ: gồm 2 giá trị: có và không
Bà mẹ được chăm sóc tốt là bà mẹ chọn đáp án: có
- Chế độ ăn sau khi mổ lấy thai: gồm 6 giá trị:
+ Thịt, cá, trứng và rau củ nấu chín
+ Chỉ ăn cơm với thịt
+ Ăn canh rau củ
14
+ Chưa ăn cơm, chỉ ăn cháo thịt
+ Tiểu gắt, buốt
+ Bí tiểu
Bà mẹ được chăm sóc tốt là bà mẹ chọn đáp án: bình thường
- Số lượng nước tiểu mỗi ngày: gồm 3 giá trị
+ ≤ 500 ml/ngày
+ 1,5–2 lít/ngày
15
+ > 2 lít/ngày
Bà mẹ được chăm sóc tốt là bà mẹ chọn 1 trong 2 đáp án: 1,5–2 lít/ngày; > 2
lít/ngày
- Màu sắc của nước tiểu: gồm 3 giá trị:
+ Màu vàng đậm như nước trà
+ Màu vàng nhạt và trong
+ Màu đỏ
Bà mẹ được chăm sóc tốt là bà mẹ đáp án: màu vàng nhạt và trong
- Hô hấp: gồm 3 giá trị: khó thở; ho và không có khó thở và ho
Bà mẹ được chăm sóc tốt là bà mẹ chọn đáp án: không có khó thở và ho
- Tuần hoàn: gồm 5 giá trị
+ Tim đập nhanh
+ Nhức đầu
+ Chóng mặt
+ Mệt
+ Không có các triệu chứng trên
Bà mẹ được chăm sóc tốt là bà mẹ chọn đáp án: không có các triệu chứng trên
- Vệ sinh cá nhân: gồm 5 giá trị
+ Rửa mặt, súc miệng, chảy răng mỗi ngày
+ Lau mình bằng nước ấm và thay đồ sạch
+ Tắm bình thường
+ Không bú mẹ
+ 0,5–1 giờ sau sinh
+ Sau 6 giờ sau sinh
+ Sau 12 giờ sau sinh
Bà mẹ được chăm sóc tốt là bà mẹ chọn 1 trong 2 đáp án: 0,5–1 giờ sau sinh hoặc
sau 6 giờ sau sinh
- Hiện tại trẻ bú bằng sữa gì: gồm 3 giá trị
+ Sữa mẹ
+ Sữa mẹ và nhân tạo
+ Sữa nhân tạo
Bà mẹ được chăm sóc tốt là bà mẹ chọn đáp án: sữa mẹ
- Trẻ bú một ngày mấy lần: gồm 3 giá trị: 4 lần, 6 lần, bú theo nhu cầu của trẻ
Bà mẹ được chăm sóc tốt là bà mẹ chọn đáp án: bú theo nhu cầu của trẻ
- Trẻ có các dấu hiệu bất thường nào không: gồm 5 giá trị:
+ Bé có sốt
+ Bé có vàng da, vàng mắt
+ Bé có tím tái toàn thân, đầu chi hoặc môi không
+ Bé không bú
+ Bé không có các dấu hiệu trên
Bà mẹ được chăm sóc tốt là bà mẹ chọn đáp án: bé không có các dấu hiệu trên
- Lần mang thai kế tiếp: gồm 4 giá trị:
+ Lần mang thai kế tiếp trong vòng 1 năm
+ Lần mang thai kế tiếp sau 2 năm
+ Lần mang thai kế tiếp trên 3 năm
+ Không biết
17
Bà mẹ được chăm sóc tốt là bà mẹ chọn 1 trong 2 đáp án: lần mang thai kế tiếp
sau 2 năm; lần mang thai kế tiếp trên 3 năm
+ Bà mẹ sau mổ lấy thai được chăm sóc tốt là bà mẹ có từ 23–30 điểm
+ Bà mẹ sau mổ lấy thai được chăm sóc chưa tốt là bà mẹ có từ 0–22 điểm
3.2.5. Phương pháp thu thập số liệu
Sử dụng bộ câu hỏi để thực hiện thu thập số liệu bằng cách phỏng vấn trực tiếp
kết hợp với điền câu trả lời của người được phỏng vấn.
18
Các bước tiến hành thu thập số liệu:
Quá trình thu thập số liệu được tiến hành ngay tại khoa phụ sản, bệnh viện Đa
Khoa Trung Ương Cần Thơ. Trình tự thực hiện gồm:
- Tiếp xúc với từng đối tượng: giới thiệu bản thân, giới thiệu về nội dung và mục
đích khảo sát của phỏng vấn viên, và đảm bảo bí mật thông tin của đối tượng tham gia
nghiên cứu, thời gian thực hiện nội dung phỏng vấn khoảng 15–20 phút.
- Sau khi bà mẹ đồng ý tham gia, phỏng vấn viên tiến hành phỏng vấn theo trình
tự các câu hỏi trong bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn, đồng thời tiến hành ghi chép lại nội
dung trả lời của đối tượng được phỏng vấn.
- Kết thúc buổi phỏng vấn mượn hồ sơ bệnh án đánh vào phần còn lại của phiếu
khảo sát.
- Sau đó tiếp tục phỏng vấn cho đến khi đạt 100 mẫu.
3.2.6. Sơ đồ nghiên cứu
Chọn tất cả các bà mẹ sau mổ lấy thai đủ tiêu chuẩn
cho đến khi đủ 100 mẫu
Chuẩn bị bộ câu hỏi đã soạn sẵn
Giải thích mục đích, ý nghĩa vấn đề nghiên cứu, phổ biến thông
tin về nghiên cứu
Tiến hành phỏng vấn các bà mẹ đồng ý tham
gia ghiên cứu
Xem hồ sơ bệnh án điền vào phần còn lại của phiếu