Khảo sát tình hình kháng thuốc của một số vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện tại bệnh viện đa khoa trung ương thái nguyên - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------

QUÀNG THỊ CHÍNH
TÊN ĐỀ TÀI:
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH KHÁNG THUỐC CỦA MỘT SỐ VI KHUẨN
GÂY NHIỄM TRÙNG BỆNH VIỆN
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƢƠNG THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:

: Chính quy

Chuyên ngành

: Công nghệ sinh học

Khoa

: CNSH&CNTP

Khóa học

: 2012 - 2016

Thái Nguyên, 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Giảng viên hƣớng dẫn

: BS.Nguyễn Thị Huyền
TS.Nguyễn Văn Duy

Thái Nguyên, 2016


i

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi đã nhân được sự giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ
bảo và động viên của thầy cô, bạn bè và gia đình. Nhân dịp hoàn thành khóa luận:
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới BS.Nguyễn Thị Huyền phó
khoa vi sinh Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên và TS.Nguyễn Văn Duy
giảng viên khoa CNSH-CNTP đã hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
để thực hiện khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cô, anh, chị đang làm việc tại Khoa Vi
Sinh, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên đã hướng dẫn, tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện khóa luận này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tập thể các Thầy, Cô giáo và cán bộ của khoa
CNSH-CNTP, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Đại học Thái Nguyên đã
cung cấp các kiến thức tiền đề để tôi hoàn thành khóa luận này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên và giúp đỡ
tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2016
Sinh viên

Quàng Thị Chính

trong máu của hãng BacT/ALERT, Đức...................................................................24
Hình 4.1: Phân bố tình trạng nhiễm khuẩn theo tuổi ................................................31
Hình 4.2: Kháng sinh đồ của vi khuẩn E. coli chủng 1.22 phân lập được trên bệnh
nhân Trần Văn T. ngày 23/03/2016 ..........................................................................36
Hình 4.3: Kháng sinh đồ của vi khuẩn S. aureus chủng 10.14 phân lập được trên
bệnh nhân Nguyễn Hồng P. ngày 14/03/2016 ..........................................................39
Hình 4.4: Kháng sinh đồ của vi khuẩn S. pneumoniae chủng 5.17 phân lập được trên
bệnh nhân Đặng Văn Đ. ngày 18/02/216 ..................................................................41
Hình 4.5: Kháng sinh đồ của vi khuẩn P. aeruginosa chủng 4.18 phân lập được trên
bệnh nhân Nghiêm Tuấn A. ngày 19/04/2016 ..........................................................43
Hình 4.6: Kháng sinh đồ của vi khuẩn K.pneumoniae chủng 1.24 phân lập được
trên bệnh nhân Nguyễn Văn G. ngày 25/02/2016 ....................................................45
Hình 4.7: Kháng sinh đồ của vi khuẩn Acinetobacter baumannii chủng 2.27 phân
lập được trên bệnh nhân Lê Văn H. ngày 28/04/2016 .............................................47


iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Tên thuật ngữ viết

Nghĩa đầy đủ của thuật ngữ

tắt
Asian Network for Surveillance of Resistant Pathogens
ANSORD

(Mạng lưới giám sát các căn nguyên kháng thuốc Châu
Á)

CDC


R

Resistant (Đề kháng)

RM

Red Methyl (Methyl đỏ)

S

Suceptible (Nhạy cảm)

VP

Voges-Proskauer

WHO

World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)


v

MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1
1.1.Đặt vấn đề.................................................................................................... 1
1.2. Mục đích ..................................................................................................... 1
1.3. Yêu cầu....................................................................................................... 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2

4.2. Khảo sát tình hình kháng thuốc của một số loại vi khuẩn phân lập tại
Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên ................................................ 34
4.2.1. Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Escherichia coli ....................... 34
4.2.2. Tỷ lệ kháng kháng sinh của Staphylococcus aureus............................. 37
4.2.3. Tỷ lệ kháng kháng sinh của Streptococcus pneumoniae ...................... 39
4.2.4. Tỷ lệ kháng kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa ........................ 42
4.2.5. Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Klebsiella pneumonae ............... 44
4.2.6 Tỷ lệ kháng kháng sinh của Acinetobacter baumannii .......................... 46
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..................................................... 48
5.1. Kết luận .................................................................................................... 48
5.2. Kiến nghị .................................................................................................. 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Nhiễm khuẩn là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu thế
giới và đứng thứ hai là các bệnh về tim mạch. Theo niên giám thống kê y tế năm
2008 nhiễm khuẩn bệnh viện cũng chiếm tỷ lệ tử vong cao ở nước ta (16,7% so với
bệnh về tim mạch là 18,4%) (Bộ Y tế, 2009) [4]. Sự ra đời của kháng sinh Penicillin
đã đánh dấu cho kỷ nguyên phát triển của y học về điều trị nhiễm khuẩn và hàng
loạt thuốc kháng sinh ra đời ngay sau đó đều phục vụ cho điều trị nhiễm trùng cho
bệnh nhân. Nên việc sử dụng thuốc kháng sinh trước, trong và sau khi phẫu thuật rất
quan trọng có tác dụng đẩy lùi các vi khuẩn nhiễm trùng.
Tuy nhiên, cùng với sự ra đời của thuốc kháng sinh thì việc sử dụng tự phát
và lạm dụng thuốc quá mức dẫn đến một thực trạng là vi khuẩn kháng thuốc ngày
càng gia tăng. Nhất là ở những nơi sử dụng thuốc kháng sinh nhiều và tập trung


1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Xây dựng kháng sinh đồ cho từng bệnh nhân cụ thể giúp góp phần xây dựng
chế độ hóa trị liệu liên quan cho bệnh nhân, góp phần hạn chế sự lây lan của các
chủng vi khuẩn kháng thuốc ngoài cộng đồng.


3

PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Tổng quan về nhiễm trùng bệnh viện

2.1.1. Khái niệm về nhiễm trùng bệnh viện
Nhiễm trùng là hiện tượng vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào mô (tế bào) của
cơ thể vật chủ trong những hoàn cảnh nhất định (Vũ Văn Long và cs, 2010) [15].
Theo định nghĩa của Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Bệnh Hoa Kỳ (Center for
Control and Prevention - CDC) thì: “Nhiễm trùng bệnh viện là một loại nhiễm trùng tại
chỗ hay toàn thân do phản ứng có mặt của tác nhân gậy bênh (hoặc độc tố của nó) mà
nó chưa có mặt hoặc chưa được ủ bệnh lúc nhập viện” (Robert A. W., 1998) [46].
Những nhiễm trùng mắc phải ở bệnh viện nhưng biểu hiện lâm sàng sau khi người
bệnh rời bệnh viện cùng là nhiễm trùng bệnh viện (Đoàn Thị Nguyện, 2009) [21].

2.1.2. Hậu quả và đối tượng có nguy cơ bị nhiễm trùng bệnh viện
Nhiễm trùng bệnh viện gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với cá nhân
bệnh nhân cũng như cộng đồng vì nhiễm trùng bệnh viện không chỉ làm tăng số
ngày nằm viện, chi phí điều trị mà còn tăng nguy cơ phát triển của các vi khuẩn đa
kháng thuốc làm tăng tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân.
Có nhiều đối tượng có nguy cơ bị nhiễm trùng bệnh viện nhưng riêng với
bệnh nhân suy giảm miễn dịch vì các lý do sau: Bệnh nhân bị các bệnh của cơ quan


2.1.4. Tình hình nghiên cứu nhiễm trùng bệnh viên ở Việt Nam và trên Thế Giới.
2.1.4.1 Tình hình nghiên cứu nhiễm trùng bệnh viện ở Việt Nam
Trong tình hình cả thế giới đều đang lo ngại và hướng đến các vi khuẩn gây
nhiễm trùng bệnh viện kháng thuốc làm tăng nguy cơ tử vong, kéo theo nhiều hậu
quả khác, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam, vấn đề đó luôn được
quan tâm hàng đầu. Đã có rất nhiều bệnh viện tiến hành khảo sát về tỷ lệ vi khuẩn
gây nhiễm trùng bệnh viện trên cả nước gồm các bệnh viện lớn như: Bạch Mai,
Bệnh viện Đa khoa Trung ương Huế, Thống Nhất… và các bệnh viện cơ sở khác
(Nguyễn Văn Kính và cs, 2009) [12]. Theo một báo cáo về tình hình kháng thuốc
tại một số đơn vị điều trị tích cực trong cả nước, tỷ lệ vi khuẩn phân lập được lần
lượt là: Acinetobacter (24%), Klebsiella (20%). Theo nghiên cứu khác tại 37 bệnh
viện các tỉnh phía Bắc trong năm 2006 - 2007, gồm 2 bệnh viện Trung ương, 17


5
bệnh viện tuyến tỉnh, 17 bệnh viện tuyến huyện cho thấy có 553/7571 (7,3%) bệnh
nhân mắc bệnh nhiễm trùng bệnh viện có 3 loại chính là viêm phổi 41,9%, nhiễm
trùng vết mổ 27,5%, nhiễm trùng tiêu hóa 13,1%, trong đó căn nguyên chính là
Acinetobacter (23,3%), P. aeruginosa (31,5%) (Lý Ngọc Kính và cs, 2011) [14].
Các loại vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện khác nhau là không giống
nhau theo khảo sát năm 2009 tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, tỷ lệ vi khuẩn
phân lập được lần lượt là E. coli (29,7%), Klebsiella spp. (26%), P. aeruginosa
(13,7%), S. aureus (6,0%) và Acinetobacter spp. là 5,0%, trong đó có 14,5% E.
coli và 11,5% Klebsiella có sinh ESBL (Extender Spectrum β-lactamase)



enzyme β-lactamase mà vi khuẩn tiết ra gây phá hủy vòng β-lactam làm mất tác
dụng của các thuốc kháng sinh nhóm β-lactam (Nguyễn Sử Minh Tuyết và cs,

khác nhau trên thế giới chỉ ra rằng ở Bắc Mỹ và Châu Âu có tỷ lệ bệnh nhân nhập
viện là 5% - 10% trong khi ở Châu Á, Mỹ Latin và Châu Phi cận Sahara có tới 40%
bệnh nhân phải nhập viện do nhiễm trùng bệnh viện (Khan H. A., 2015) [43].

2.2. Tổng quan về đề kháng kháng sinh
2.2.1. Định nghĩa của kháng sinh và cơ chế tác động của kháng sinh
Định nghĩa kháng sinh đầu tiên ra đời: “Kháng sinh (antibiotic) là những chất
kháng khuẩn được tạo ra từ các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, antinomycetes), co
tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác” (Bộ Y Tế, 2015) [5].
Định nghĩa khác về kháng sinh là: “Kháng sinh (antibiotic) là những hợp
chất ngay ở nồng độ thấp đã có khả năng ức chế, hoặc tiêu diệt vi khuẩn một các
đặc hiệu, bằng cách gây rối loạn phản ứng sinh học ở tầm phân tử (nồng độ thấp:
nồng độ điều trị nhỏ hơn nhiều lần so với liều độc với cơ thể; đặc hiệu: mỗi kháng
sinh chỉ có tác dụng trên một loại vi khuẩn hay một nhóm vi khuẩn)” (Lê Hồng
Minh, 2009) [17].

2.2.2. Cơ chế tác động của kháng sinh
Kháng sinh có tác động vào nhiều quá trình như ngăn cản quá trình vận
chuyển thành phần tạo màng, ức chế các enzyme tổng hợp các yếu tố của màng vi
khuẩn. Chúng làm rối loạn quá trình nhân lên của vi khuẩn làm chúng nhân lên
nhưng không có vách hoặc vách không hoàn chỉnh dễ bị tiêu diệt bởi điều kiện môi
trường xung quanh. Ví dụ: Kháng sinh nhóm β-lactam, Vancomycin….


7
2.1.2.1. Ức chế tổng hợp thành tế bào
Petidoglycan là một bộ khung quan trọng của thành tế bào vi khuẩn, nó quyết
định hình dạng và đảm bảo sự toàn vẹn của tế bào vi khuẩn. Trong quá trình tổng
hợp Petidoglycan các kháng sinh β-lactam tác động lên enzyme transpeptidase ngăn
cản sự hình thành Petidoglycan khiến cho thành tế bào vi khuẩn không được tổng

ribosom, hoặc gây ra dịch sai mã di truyền, tạo các protein bất thường không có tác
dụng thậm chí có tính độc với tế bào vi khuẩn (Vũ Văn Long và cs, 2010) [15].
b, Kháng sinh tác động vào tiểu phần 50S của ribosom.
Kháng sinh Cloramphenicol ức chế enzyme peptidyl transferase, ngăn cản sự
hình thành liên kết peptide mới giữa chuỗi peptide được hình thành trước đó với
phân tử axit amin trong phức hệ aminoacyl-tRNA làm cho chuỗi polypeptide không
được phép kéo dài thêm (Vũ Văn Long và cs, 2010) [15].
2.1.2.5. Ức chế quá trình trao đổi chất
Axit folic có chức năng như một co-enzyme trong quá trình tổng hợp
pyrimidine, purine, và một số axit amin ở vi khuẩn, ở vi khuẩn quá trình tổng hợp
axit folic là một chuỗi phản ứng với sự xúc tác của một số chất quan trọng. Để tổng
hợp ra axit folic vi khuẩn phải sử dụng axit para-aminobenzoic (PAPA) có trong
môi trường trong khi sulfonamide lại có cấu trúc giống PAPA nên cạnh tranh thay
thế vào vị trí của PAPA và ngăn cản quá trình phát triển của vi khuẩn (Vũ Văn
Long và cs, 2010) [15].
2.2.2. Sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn
2.2.2.1. Định nghĩa và phân loại đề kháng kháng sinh
Kháng sinh có tác dụng ức chế và tiêu diệt vi khuẩn nhưng trong môi trường
có kháng sinh mà vi khuẩn vẫn phát triển thì được coi là sự đề kháng kháng sinh
(Lê Huy Chính, 2007) [8].
Kháng thuốc thật gồm kháng thuốc tự nhiên và kháng thuốc thu được.
Kháng thuốc tự nhiên: Là sự kháng thuốc của những vi khuẩn không nằm
trong phổ tác dụng của một kháng sinh nào đó kháng thuốc tự nhiên là do đặc thù
cấu trúc và sinh lý của tế bào vi khuẩn, nó tự nhiên và bền vững. Ví dụ: E. coli


9
không chịu tác động của Erythromycin, tụ cầu kháng lại Colistin, trực khuẩn lao
kháng lại Penicillin….
Kháng thuốc thu được: Là sự kháng thuốc của những vi khuẩn nằm trong

Vi khuẩn mang gen đề kháng kháng sinh sẽ được di truyền dọc truyền từ thế hệ
ngày qua thế hệ khác hoặc có thể truyền ngang từ vi khuẩn này qua vi khuẩn khác.
Cơ chế lan truyền trong tế bào truyền từ phân tử DNA này sang phân tử
DNA khác trong tế bào, giữa các tế bào thông qua các hình thức như tiếp hợp (là sự
vận chuyển vật liệu di truyền từ vi khuẩn đực sang cái qua tiếp xúc nhau), biến nạp
(là sự vận chuyển của 1 đoạn DNA từ vi khuẩn cho nạp vào vi khuẩn nhận), tải nạp
(là sự vận chuyển vật liệu di truyền từ vi khuẩn cho sang vi khuẩn nhận qua phage)
để chuyển gen đề kháng từ tế bào này sang tế bào khác trong cùng một loài hoặc
khác loài.
Trong quần thể vi sinh vật có thể chọn lọc dưới tác dụng của kháng sinh các
vi khuẩn đề kháng phát triển và thay thế những vi khuẩn nhạy cảm, trong quần thể
đại sinh vật những vi khuẩn đề kháng sẽ lây lan từ người này sang người khác qua
con đường trực tiếp hoặc gián tiếp (Vũ Văn Long và cs, 2010) [15].
Các cơ chế kháng kháng sinh khác của vi khuẩn
a, Giảm sự tích lũy bên trong tế bào vi khuẩn
Vi khuẩn có thể làm giảm nồng độ thuốc kháng sinh bên trong tế bào bằng
một trong những cơ chế sau:
+ Nhờ hệ thống bơm chủ động: Nồng độ kháng sinh trong tế bào sẽ giảm dần
do kháng thuốc được vận chuyển tích cực ra khỏi tế bào vi khuẩn (sự đề kháng của
vi khuẩn với Tetracycline, Macroline, Quinolone).
+ Làm giảm tính thấm của màng tế bào vi khuẩn như vi khuẩn làm thay đổi
các kênh porin trên màng tế bào làm giảm tính thấm của màng tế bào với các kháng
sinh nhóm β-lactam.
+ Làm mất hệ thống vận chuyển qua màng do đó kháng sinh không lọt vào
được trong tế bào vi khuẩn, sự đề kháng của vi khuẩn với nhóm Aminoglycoside
(Vũ Văn Long và cs, 2010) [15].
b, Vi khuẩn tạo ra một số enzyme làm biến đổi hoặc phá hủy cấu trúc hóa học của
phân tử kháng sinh:



hẹp, tác dụng đặc hiệu trên vi khuẩn gây bệnh và khuếch tán tốt nhất đến ổ vi khuẩn.


12
- Dùng kháng sinh đủ liều lượng và thời gian (cho một đợt điều trị).
- Đề cao các biện pháp khử trùng và tiệt trùng, ngăn ngừa sự lan truyền vi
khuẩn đề kháng.
- Liên tục giám sát sự kháng kháng sinh của vi khuẩn để có chiến lược sử
dụng kháng sinh hợp lý.

2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.3.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về kháng thuốc. Theo báo cáo vào năm
2000-2001 của Song J. H. và cộng sự năm 2004 [38], tỷ lệ kháng Penicillin chiếm
71,4% và Erythromycine 92,1%

của Streptococcus pneumoniae (nguyên nhân

thường gặp và gây nhiễm khuẩn hô hấp tại Việt Nam) được ghi nhận là cao nhất
trong số 11 nước trong mạng lưới giám sát các căn nguyên kháng thuốc Châu Á
(ANSORD) (Nguyễn Văn Kính và cs, 2010) [13]. Theo báo cáo khác phân tích về
thực trạng sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh ở Việt Nam năm 2015 chỉ ra
rằng tỷ lệ đề kháng kháng sinh được ghi nhận là tăng đột biến theo thời gian, vào
năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh mới chỉ có 8% các chủng S. pneumoniae
kháng với Penicillin, đến năm 1990 - 2000, tỷ lệ này tăng 56% xu hướng tương tự
tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam. (Nguyễn Văn Kính và cs, 2010) [13]. Một nghiên
cứu khác vào năm 2000 - 2001, chỉ ra rằng có tới 25% số vi khuẩn phân lập được tại
bệnh viện Thành phố Hồ Chí Minh đề kháng với kháng sinh Cephalosporin hàng 3.
Theo tổng kết của Bộ Y tế năm 2004, phần lớn những kháng sinh sử dụng thường
xuyên hiện nay đã bị kháng như Ceftriaxone 70%, Ceftazidime 64%, Cipfloxacine

Ceftazidime, 32% kháng Piperacine và 30% kháng Ciprofloxaxin (2003) [36]. Theo
nghiên cứu của Pereira L.P năm 2004 đề kháng Ciprofloracine thậm chí được ghi
nhận ở trẻ em và người trưởng thành trước đó chưa từng sử dụng kháng sinh
Quinolon. Theo Báo cáo của Pereira L.P. năm 2004 tại Barbodas, Jamaica và
Trinidad, họ Enterobacteriaceae kháng Cephalosporin hàng 3 (Pereira L. P., et al,
2004) [34]. Theo báo cáo của WHO năm 2008 sự đề kháng của Acinetobacter với
các kháng sinh khác lần lượt là Aminoglucoside khoảng 20%, Ciprofloracine
(30%), Ceftazidime (70%), Piperacine/ Tazobactam (50%), Cefotaxime (89%) ở
châu Âu, tỷ lệ kháng cao nhất được báo cáo ở vùng Địa Trung Hải bao gồm Hi Lạp,


14
Thổ Nhĩ Kỳ, Ý và Nhật Bản (WHO, 2010) [39]. Theo báo cáo của Adjei M. A. năm
2010 tại Úc (1992) và Philippin (2001) Ciprofloracine đã được báo cáo thất bại
trong điều trị nhiễm khuẩn do lậu cầu khuẩn [30].
Các kháng sinh nhóm Carbapenem là kháng sinh được lựa chọn cuối cùng
trong điều trị nhiễm khuẩn nhưng theo báo cáo của WHO vào năm 2010 ở Anh đã
có sự xuất hiện chủng kháng kháng sinh Carbapenem xảy ra từ năm 2000 với vi
khuẩn Acinetobacter. Giữa năm 2004 và năm 2008 tỷ lệ đề kháng với Meropenem
đã tăng từ 13 đến 29% (WHO, 2010) [39]. Theo báo cáo của CDC năm 2011
Klebsiella và E. coli đang dần kháng với Carbapenems (CDC, 2011) [41]. Điều này
càng làm tăng mối lo ngại về tình hình kháng kháng sinh trên thế giới.

2.3. Các phƣơng pháp phát hiện vi khuẩn kháng thuốc.
Để phát hiện vi khuẩn kháng thuốc có nhiều phương pháp khác nhau. Trong
đó phổ biến là phương pháp sinh học phân tử và kháng sinh đồ. Phương pháp sinh
học phân tử thường dùng là PCR, multiplex PCR.
PCR (Polymerase Chain Reaction) hay còn gọi là phản ứng chuỗi trùng hợp
được Kary Mullis phát minh năm 1980 là quá trình nhân một đoạn DNA lặp đi lặp
lại nhiều lần. Nếu ta có mồi phát hiện gene kháng thuốc phù hợp với đoạn DNA

trường có dung dịch bảo quản và ở nhiệt độ thích hợp để đảm bảo giữ vi khuẩn còn
sống.
2.1.4.2. Nhuộm soi
Đây là phương pháp sơ bộ và đánh giá sự có mặt của vi khuẩn trong mẫu
bệnh phẩm, biết được hình thái và tính chất bắt màu của vi khuẩn có thể định hướng
cho nuôi cấy, phương pháp này vừa nhanh, vừa đơn giản, ít tốn kém.
Phổ biến hơn cả là phương pháp nhuộm gram được phát minh do nhà khoa
học người Đan Mạch Hans Christian Gram (1853 - 1938) nhằm phân biệt thành vi
khuẩn Gram Âm và Gram Dương dựa trên cấu trúc thành tế bào.
Nguyên lý: Vi khuẩn Gram Dương có thành tế bào dày do nó có nhiều lớp
Peptidoglucan chất này có khả năng giữ phức hệ tím tinh thể-iot và bắt màu tím khi
nhuộm trong khi đó vi khuẩn Gram Âm lại có lớp Peptidoglucan mỏng hơn sẽ giữ
màu hồng của fuchsin.


16
Sau khi nhuộm với tím Gentian, các tinh thể màu tím bám vào trong lớp
Peptidoglucan và được cố định bởi logul phức hợp tím tinh thể - iot sẽ bám chặt vào
thành Peptidoglycan sau khi dùng cồn tẩy nếu là vi khuẩn Gram Dương thì sẽ có
màu tím vì hỗn hợp khử màu làm mất nước làm giảm khoảng trống giữa các phân
tử nên các tím tinh thể vẫn bám vào lớp Peptidoglucan nên khi nhuộm với màu của
fuchsin sẽ không có vị trí để fuchsin bám vào lớp Peptidoglucan. Ngược lại, vi
khuẩn Gram Âm khi tẩy cồn do chúng có lớp Peptidoglucan rất mỏng dù tím tinh
thể bám vào thì dưới tác dụng của cồn sẽ bị tẩy dưới tác dụng của cồn tạo nên các
khoảng trống để fuchsin bám vào.
2.1.4.3. Nuôi cấy
Vi khuẩn phát triển khác nhau trong một số môi trường khác nhau. Nếu nuôi
vi khuẩn trong môi trường lỏng thì vi khuẩn nào phát triển sẽ làm đục môi trường,
còn nuôi chúng trong môi trường đặc thì sẽ mọc các khuẩn lạc. Khuẩn lạc là tập hợp
của 1 quần thể vi khuẩn duy nhất phát triển từ một vi khuẩn ban đầu. Quan sát hình

đường là lactose và glucose, trong đó tỷ lệ giữa lactose và glucose là 10/1 và chất
chỉ thị pH phenol đỏ. Nuôi cấy vi khuẩn và môi trường để ở nhiệt độ 370C trong
24h nếu vi khuẩn có màu đỏ sang màu vàng ở phần chân ống thạch (môi trường
KIA đổ thạch nghiêng) thì môi trường có khả năng lên men đường glucose mà
không lên men đường lactose. Nếu vi khuẩn có khả năng lên men đường lactose thì
toàn bộ môi trường chuyển sang màu vàng (Lê Hồng Minh, 2009) [17].
1

2

Hình 2.1: Môi trƣờng KIA
Ghi chú: 1. Đối chứng âm; 2: môi trường KIA dương tính



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status