Khảo sát tình hình kháng thuốc của một số vi khuẩn gây nhiễm trùng tại bệnh viện đa khoa trung ương thái nguyên - Pdf 50

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------

NÔNG MINH NGỌC
Tên đề tài:
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH KHÁNG THUỐC CỦA MỘT SỐ VI KHUẨN
GÂY NHIỄM TRÙNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƢƠNG
THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

:Chính quy

Chuyên ngành

: Công nghệ sinh học

Khoa

: CNSH

Khóa học

:2013- 2017

- CNTP

Thái Nguyên, năm 2017

i

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành báo cáo thực tập này, em đã
nhận đƣợc sự hƣớng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các anh chị, các em và
các bạn.
Em xin cảm ơn TS Nguyễn Văn Duy, thầy đã định hƣớng và tận tình
hƣớng dẫn cho em những kiến thức chuyên môn để em hoàn thành tốt báo cáo
thực tập này.
Em xin gửi lời cảm ơn đến Bs Nguyễn Thị Huyền, cô đã hết lòng giúp
đỡ, dạy bảo, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình
thực tập và hoàn thành bài báo cáo này.
Em xin cảm ơn các thầy cô, các anh chị trong Khoa Công Nghệ Sinh
Học trƣờng Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã chỉ dạy, truyền đạt
và chia sẻ cho em những kiến thức vô cùng bổ ích, tạo mọi điều kiện tốt cho
em trong suốt quá trình học tâp tại trƣờng.
Em xin gửi lời cảm ơn cô và các anh chị trong Khoa Vi sinh - Bệnh
viện Đa Khoa Trung Ƣơng Thái Nguyên, đã trực tiếp hƣớng dẫn các kiến
thức, kỹ thuật chuyên môn và tận tình giúp đỡ em trong thời gian thực tập và
thu thập số liệu tại khoa để em có thể hoàn thành đề tài này.
Lời cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình: con xin cảm
ơn ba mẹ và các em đã luôn bên cạnh con ủng hộ, động viên, nâng đỡ con
những lúc con khó khăn và luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con trong cả
quá trình học tập.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn tất cả sựgiúp đỡ quý báu đó!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2017
Sinh viên

Nông Minh Ngọc


KIA

Kligler Iron Agar

KS

Kháng sinh

MRSA

Methicillin-resistant Staphylococcus aureus (tụ cầu kháng
Methicillin)

NTBV

Nhiễm trùng bệnh viện

PCR

Polymerase Chain Reaction (Phƣơng pháp khuếch đại
gen)

R

Resistant (Đề kháng)

RM

Red Methyl (Methyl đỏ)


Bảng 4.7: Tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh của P. aeruginosa tại Bệnh viện Đa
khoa Trung ƣơng Thái Nguyên từ 12/2016 đến 5/2017 ................................. 49
Bảng 4.8: Tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh của K. pneumoniae tại Bệnh viện Đa
khoa Trung ƣơng Thái Nguyên từ 12/2016đến 5/2017 .................................. 52
Bảng 4.9: Tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh của A. baumannii tại Bệnh viện Đa
khoa Trung ƣơng Thái Nguyên từ 12/2016 đến 5/2017 ................................ 54
Bảng 4.10: Tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh của P. mirabilis tại Bệnh viện Đa
khoa Trung ƣơng Thái Nguyên từ 12/2016 đến 5/2017 ................................ 56


iv

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình

3.1:

Chaichứamôitrƣờngdinhdƣỡngđểnuôicấyvisinhvậtnhiễm trùng

trong máu của hãng BacT/ALERT,Đức. ........................................................ 24
Hình3.2:Môi trƣờng KIA. ............................................................................... 26
Hình 4.1: Kháng sinh đồ của vi khuẩnE. coli chủng 16.21 phân lập đƣợc trên
bệnh nhân Trần Anh T. ngày 22/12/2016 ....................................................... 42
Hình 4.2: Kháng sinh đồ của vi khuẩn S. pneumoniae chủng 5.26 phân lập
đƣợc trên bệnh nhân Nguyễn Văn Đ. ngày 29/12/2016 ................................. 45
Hình 4.3: Kháng sinh đồ của vi khuẩn S. aureus chủng 10.21 phân lập đƣợc
trên bệnh nhân Nguyễn Thị H. ngày 22/3/2017 ............................................. 48
Hình 4.4: Kháng sinh đồ của vi khuẩn P. aeruginosa chủng 2.3 phân lập đƣợc
trên bệnh nhân Đinh Văn Đ. ngày 4/3/2017 ................................................... 51

3.3. Dụng cụ, hóa chất và thiết bị sử dụng ...................................................... 24
3.4. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 25
3.5. Phƣơng pháp nghiên cứu.......................................................................... 25
3.5.1. Phƣơng pháp 1: Phân lập, xác định vi khuẩn và lƣu giữ chủng ........... 25
3.5.2. Phƣơng pháp 2: Kháng sinh đồ ............................................................. 34
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .............................. 35


vi

4.1. Kết quả nghiên cứu tỷ lệ các loại vi khuẩn gây nhiễm trùng trên các bệnh
nhân điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ƣơng Thái Nguyên .................... 35
4.2. Khảo sát tình hình kháng thuốc của một số loại vi khuẩn phân lập tại
Bệnh việnĐakhoaTrungƣơngTháiNguyên ...................................................... 39
4.2.1. Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Escherichiacoli ........................ 40
4.2.2. Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Streptococcuspneumoniae ........ 43
4.2.3. Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcusaureus............... 46
4.2.4.Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Pseudomonasaeruginosa ........... 49
4.2.5. Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Klebsiellapneumonae ................ 52
4.2.6. Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Acinetobacter baumannii .......... 54
4.2.7. Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Proteus mirabilis………….…..58
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................... 58
5.1. Kếtluận ..................................................................................................... 58
5.2. Kiếnnghị ................................................................................................... 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 611


1

Phần 1

vật kháng kháng sinh đang là mối đe dọa chung của toàn cầu.
Một trong những biện pháp để kiểm soát và khống chế nhiễm trùng bệnh
viện là chiến lƣợc sử dụng kháng sinh thích hợp và hiệu quả, bao gồm sử
dụng kháng sinh dựa vào kinh nghiệm và liệu pháp xuống thang. Việc lựa
chọn đúng và dùng đúng thời điểm kháng sinh còn có tác dụng (kháng sinh
còn nhạy) quyết định tới thành công của điều trị. Tuy nhiên, mô hình vi khuẩn
kháng kháng sinh thay đổi theo chính sách sử dụng kháng sinh của từng bệnh
viện, từng khoa; thói quen sử dụng kháng sinh của các bác sỹ. Do vậy các
bệnh viện khác nhau sẽ có mô hình vi khuẩn kháng kháng sinh khác nhau,
trong cùng bệnh viện các khoa khác nhau sẽ mô hình vi khuẩn kháng kháng
sinh khác nhau. Thậm chí trong cùng một khoa, mô hình vi khuẩn kháng
kháng sinh cũng sẽ thay đổi theo thời gian.
Bệnh viện Đa khoa Trung Ƣơng Thái Nguyên là một trong số bệnh viện
lớn trong khu vực Phía Đông Bắc Việt Nam, tập trung nhiều bệnh nhân nặng
và là tuyến cuối của các bệnh viện cở sở trong khu vực nên là nơi nghi ngờ sẽ
có khả năng kháng thuốc cao. NTBV không chỉ làm tăng thêm số ngày nằm
viện, chi phí điều trị của bệnh nhân mà còn tăng nguy cơ đa kháng thuốc, nhất
là kháng sinh tăng tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân. Vì vậy, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài“Khảo sát tình hình kháng thuốc của một số vi khuẩn gây
nhiễm trùng tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích
Khảo sát đƣợc tình hình kháng thuốc kháng sinh của một số vi khuẩn
gây nhiễm trùng bệnh viện tại Bệnh viên đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên.
1.3. Yêu cầu
- Đánh giá đƣợc tỷ lệ vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện.


3

- Đánh giá đƣợc tình hình kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây

Những nhiễm trùng mắc phải ở bệnh viện nhƣng biểu hiện lâm sàng sau
khi ngƣời bệnh rời bệnh viện cùng là nhiễm trùng bệnh viện [19].
2.1.2. Hậu quả và đối tượng có nguy cơ bị nhiễm trùng bệnh viện
Nhiễm trùng bệnh viện gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với cá
nhân bệnh nhân cũng nhƣ cộng đồng vì nhiễm trùng bệnh viện không chỉ làm
tăng số ngày nằm viện, chi phí điều trị mà còn tăng nguy cơ phát triển của các
vi khuẩn đa kháng thuốc làm tăng tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân.
Có nhiều đối tƣợng có nguy cơ bị nhiễm trùng bệnh viện nhƣng riêng
với bệnh nhân suy giảm miễn dịch vì các lý do sau: Bệnh nhân bị các bệnh
của cơ quan miễn dịch, dùng các thuốc giảm miễn dịch nhƣ các thuốc điều trị
ung thƣ, sau phẫu thuật, hoặc sau mắc một bệnh nặng, hoặc đang mắc một
bệnh mạn tính, hoặc ngƣời có tuổi nằm điều trị ở bệnh viện lâu ngày, hoặc trẻ
em còi xƣơng, suy dinh dƣỡng, bị bệnh ỉa chảy kéo dài, những nhân viên
bệnh viện thƣờng xuyên tiếp xúc với vi sinh vật gây bệnh. Trong khi cơ thể có
sức đề kháng kém, tình trạng vệ sinh và bảo hộ lao động chƣa đƣợc cải thiện [19].


5

Nhiễm trùng bệnh viện đƣợc chia ra thành nhiễm trùng nội sinh và
nhiễm trùng ngoại sinh. Nhiễm trùng nội sinh là loại nhiễm trùng do các vi
sinh vật đã ký sinh sẵn ở ngƣời bệnh gây ra. Chúng là những vi sinh vật gây
bệnh cơ hội. Nhiễm trùng ngoại sinh là loại nhiễm trùng do các vi sinh vật
xâm nhập vào bệnh nhân từ môi trƣờng bên ngoài [19].
2.1.3. Vi khuẩn thường gặp trong nhiễm trùng bệnh viện
Mọi loài vi khuẩn đều có thể gây nhiễm trùng bệnh viện với tỷ lệ khác
nhau nhƣng đứng đầu là các vi khuẩn Gram Âm vì chúng có lớp màng ngoài
đƣợc bọc bởi một nang, mà nang này che các kháng nguyên làm cơ thể phát
hiện ra tác nhân xâm nhập khó khăn hơn. Ngoài ra màng vi khuẩn có chứa
lipopolysaccharide đóng vai trò là nội độc tố và làm tăng phản ứng viêm có

Các loại vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện khác nhau là không giống
nhau theo khảo sát năm 2009 tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, tỷ lệ vi
khuẩn phân lập đƣợc lần lƣợt là E. coli (29,7%), Klebsiella spp. (26%), P.
aeruginosa (13,7%), S. aureus (6,0%) và Acinetobacter spp. là 5,0%, trong đó
có 14,5% E. coli và 11,5% Klebsiella có sinh ESBL (Extender Spectrum βlactamase) là enzyme β-lactamase mà vi khuẩn tiết ra gây phá hủy vòng βlactam làm mất tác dụng của các thuốc kháng sinh nhóm β-lactam [23]. Cũng
theo khảo sát khác tại Bệnh viện Nhi Quảng Nam vào năm 2015 của Nguyễn
Minh Thái [25], tỷ lệ các vi khuẩn phân lập đƣợc lần lƣợt là S. aureus
(25,5%), E. coli (19,9%), K. pneumonae (10,3%), S. pneumoniae (6,5%), H.
influenzea (2,7%)…
Nhƣ vậy, tỷ lệ các vi khuẩn có thể khác nhau nhƣng dẫn đầu gây nhiễm
trùng bệnh viện vẫn là vi khuẩn E. coli, S. aureus, Acinetobacter, P.
aeruginosa….
2.1.4.2. Tình hình nghiên cứu nhiễm trùng bệnh viện trên thế giới
Theo nghiên cứu của Mayon - white R. T. và cộng sự năm 1988[43]
về tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện trên 47 bệnh viện, 14 quốc gia, tỷ lệ trẻ em


7

dƣới 1 tuổi có tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện là 13,5% và thƣờng mắc bệnh về
đƣờng da, đƣờng hô hấp…. Tỷ lệ ngƣời lớn trên 64 tuổi nhiễm trùng là 12,0%
và dễ mắc các bệnh nhiễm trùng tiết niệu…. Trong các vi khuẩn phân lập
đƣợc từ bệnh viện, E. coli và S. aureus là 2 trong 6 tác nhân chính gây nhiễm
trùng bệnh viện. Theo báo cáo khác về tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện ở châu Âu
năm 1995, tỷ lệ các vi khuẩn phân lập đƣợc lần lƣợt là: Enterobacteriaceae
(34,4%), S. aureus (30,1% ), P. aeruginosa (28,7%), Staphylococcus âm tính
enzyme coagulase (19,1%)… [42]. Theo nghiên cứu của Anton Y. P. năm
2002, trong số 1,7 triệu ngƣời bị nhiễm trùng bệnh viện, gần nhƣ 99,000
ngƣời tử vong do nhiễm trùng bệnh viện hoặc liên quan đến nhiễm trùng bệnh
viện đƣa NTBV đứng hàng thứ 6 trong nguyên nhân gây tử vong ở Hoa Kỳ,

chúng nhân lên nhƣng không có vách hoặc vách không hoàn chỉnh dễ bị tiêu
diệt bởi điều kiện môi trƣờng xung quanh. Ví dụ: kháng sinh nhóm β-lactam,
Vancomycin….
2.2.2.1. Ức chế tổng hợp thành tế bào
Petidoglycan là một bộ khung quan trọng của thành tế bào vi khuẩn,
nó quyết định hình dạng và sự toàn vẹn của tế bào vi khuẩn. Trong quá trình
tổng hợp Petidoglycan các kháng sinh β-lactam tác động lên enzyme
transpeptidase ngăn cản sự hình thành Petidoglycan khiến cho thành tế bào vi
khuẩn không đƣợc tổng hợp. Các kháng sinh β-lactam còn hoạt hóa enzyme
tự ly giải thành tế bào. Sự tác động của hai cơ chế này làm cho tế bào vi
khuẩn vỡ do áp lực thẩm thấu bên trong tế bào cao hơn so với môi trƣờng
ngoại bào [14].
2.2.2.2. Gây rối loạn chức năng màng bào tương
Màng bào tƣơng của tế bào là một màng thẩm thấu chọn lọc, có chức
năng điều hòa quá trình trao đổi chất giữa trong và ngoài tế bào vi khuẩn. Các
kháng sinh Polymyxin gắn với các phân tử phospholipid trong cấu trúc màng
tƣơng vi khuẩn, làm tăng tính thấm chọn lọc của màng. Sự vận chuyển của


9

các chất qua màng không kiểm soát đƣợc, những chất cần thiết cho tế bào
thoát ra ngoài khiến cho tế bào vi khuẩn bị chết [14].
2.2.2.3. Ức chế tổng hợp axit nucleotic
- Ức chế tổng hợp DNA: Kháng sinh nhóm Quinolone ngăn cản quá
trình tổng hợp DNA của vi khuẩn bằng cách ức chế enzyme DNA gyrase
(Topoisomerase II) khiến cho 2 sợi DNA không đƣợc tháo xoắn trong quá
trình sao chép nên quá trình sao chép DNA không diễn ra.
- Ức chế tổng hợp RNA: Kháng sinh Rifampicin ức chế quá trình tổng
hợp RNA của vi khuẩn bằng cách tác động lên tiểu phần β của enzyme RNA

2.2.3.1. Định nghĩa và phân loại đề kháng kháng sinh
Kháng sinh có tác dụng ức chế và tiêu diệt vi khuẩn nhƣng trong môi
trƣờng có kháng sinh mà vi khuẩn vẫn phát triển thì đƣợc coi là sự đề kháng
kháng sinh [8].
Kháng thuốc thật gồm kháng thuốc tự nhiên và kháng thuốc thu đƣợc.
Kháng thuốc tự nhiên: Là sự kháng thuốc của những vi khuẩn không
nằm trong phổ tác dụng của một kháng sinh nào đó kháng thuốc tự nhiên là
do đặc thù cấu trúc và sinh lý của tế bào vi khuẩn, nó tự nhiên và bền vững.
Ví dụ: E.coli không chịu tác động của Erythromycin, tụ cầu kháng lại
Colistin, trực khuẩn lao kháng lại Penicillin…
Kháng thuốc thu đƣợc: Là sự kháng thuốc của những vi khuẩn nằm
trong phổ tác dụng của một kháng nhƣng đã trở nên kháng lại kháng sinh đó.
Ví dụ: Samonella kháng Cloramphenicol [19].
2.2.3.2. Cơ chế kháng thuốc của vi khuẩn
Cơ chế kháng thuốc của vi khuẩn là do đột biến gen hoặc nhận đƣợc
gen kháng thuốc. Đột biến gen xảy ra trƣớc hoặc sau khi vi khuẩn tiếp xúc với
kháng sinh có thể đó là đột biến một bƣớc hoặc đột biến nhiều bƣớc.


11

Đột biến một bƣớc mức độ đề kháng kháng sinh không phụ thuộc vào
nồng độ thuốc kháng sinh đƣợc tiếp xúc chỉ sau một lần tiếp xúc mà tính đề
kháng đã cao nhƣ Streptomycin, Lincomycin…
Đột biến nhiều bƣớc (mức độ đề kháng phụ thuộc vào nồng độ kháng
sinh chúng trải qua nhiều lần đột biến mới đề kháng mạnh nhƣ Penicillin,
Cloramphenicol, Aminoglycoside… Tần suất xuất hiện đột biến rất nhỏ
khoảng từ 10-6 đến 10-11) [19].
Nhận gen kháng thuốc
Trong tế bào vi khuẩn có tồn tại những phân tử DNA xoắn kép dạng

sang ngƣời khác qua con đƣờng trực tiếp hoặc gián tiếp [14].
Các cơ chế kháng kháng sinh khác của vi khuẩn
a) Giảm sự tích lũy bên trong tế bào vi khuẩn
Vi khuẩn có thể làm giảm nồng độ thuốc kháng sinh bên trong tế bào
bằng một trong những cơ chế sau:
+ Nhờ hệ thống bơm chủ động: Nồng độ kháng sinh trong tế bào sẽ
giảm dần do kháng thuốc đƣợc vận chuyển tích cực ra khỏi tế bào vi khuẩn
(sự đềkháng của vi khuẩn với Tetracycline, Macroline, Quinolone).
+ Làm giảm tính thấm của màng tế bào vi khuẩn nhƣ vi khuẩn làm thay
đổi các kênh potein trên màng tế bào làm giảm tính thấm của màng tế bào với
các kháng sinh nhóm β-lactam.
+ Làm mất hệ thống vận chuyển qua màng do đó kháng sinh không lọt
vào đƣợc trong tế bào vi khuẩn, sự đề kháng của vi khuẩn với nhóm
Aminoglycoside [14].
b) Vi khuẩn tạo ra một số enzyme làm biến đổi hoặc phá hủy cấu trúc
hóa học của phân tử kháng sinh:
Một số vi khuẩn có khả năng đề kháng với một số kháng sinh β-lactam
nhờ enzyme β-lactamase, enzyme này gây hiện tƣợng acetyl hóa phân tử


13

Cloramphenicol khiến chúng không còn khả năng bám vào tiểu phần 50S
ribosom của vi khuẩn [14].
c) Làm thay đổi đích tác động nên kháng sinh không gắn đƣợc vào đích:
- Sự đề kháng của vi khuẩn do đột biến xảy ra ở tiểu phần β của
enzyme RNA-polymerase kháng Rifampicin.
- Vi khuẩn phế cầu kháng Penicillin G và tụ cầu kháng Methicillin nhờ
biến đổi các phân tử protein gắn Penicillin.
- Vi khuẩn đề kháng nhóm Quinolone do sự đột biến gen mã hóa cho

Penicillin chiếm 71,4% và Erythromycine 92,1%

của Streptococcus

pneumoniae (nguyên nhân thƣờng gặp và gây nhiễm khuẩn hô hấp tại Việt
Nam) đƣợc ghi nhận là cao nhất trong số 11 nƣớc trong mạng lƣới giám sát
các căn nguyên kháng thuốc Châu Á (ANSORD) [12]. Theo báo cáo khác
phân tích về thực trạng sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh ở Việt Nam
năm 2015 chỉ ra rằng tỷ lệ đề kháng kháng sinh đƣợc ghi nhận là tăng đột
biến theo thời gian, vào năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh mới chỉ có 8%
các chủng S. pneumoniae kháng với Penicillin, đến năm 1990 - 2000, tỷ lệ
này tăng 56% xu hƣớng tƣơng tự tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam [12]. Một
nghiên cứu khác vào năm 2000 - 2001, chỉ ra rằng có tới 25% số vi khuẩn
phân lập đƣợc tại bệnh viện Thành phố Hồ Chí Minh đề kháng với kháng sinh
Cephalosporin hàng 3. Theo tổng kết của Bộ Y tế năm 2004, phần lớn những
kháng sinh sử dụng thƣờng xuyên hiện nay đã bị kháng nhƣ Ceftriaxone 70%,
Ceftazidime 64%, Cipfloxacine 55% [18]. Cũng theo kết quả nghiên cứu thực
trạng kháng kháng sinh tại 4 bệnh viện lớn ở Hà Nội (Việt Đức, Saint Paul,
Bệnh viện 108, Bệnh viện Quân Y 103) của Bùi Khắc Hậu và cộng sự từ năm
2005-2008 [11]cho thấy P. aeruginosa đề kháng có với kháng sinh Tetracyne
(92,1%), Ceftriaxone (58,5%) và Gentamycine (54%). Trong báo cáo sử dụng
kháng sinh và kháng kháng sinh tại 15 bệnh viện Việt Nam năm 2008 - 2009


15

thì tình trạng kháng kháng sinh ở Việt Nam ở mức độ cao [12]. Theo nghiên
cứu sự kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh tại Bệnh viện Thống Nhất của Cao
Minh Nga năm 2008 [2] P.aeruginosa kháng cao với các kháng sinh thƣờng
dùng nhóm Aminoglycid trong đó, Gentamicin (chiếm 62,9%), Amikacin

báo cáo ở vùng Địa Trung Hải bao gồm Hi Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý và Nhật Bản
[35]. Theo báo cáo của Adjei M. A. năm 2010 tại Úc (1992) và Philippin
(2001) Ciprofloracine đã đƣợc báo cáo thất bại trong điều trị nhiễm khuẩn do
lậu cầu khuẩn [41]. Các kháng sinh nhóm Carbapenem là kháng sinh đƣợc lựa
chọn cuối cùng trong điều trị nhiễm khuẩn nhƣng theo báo cáo của WHO vào
năm 2010 ở Anh đã có sự xuất hiện chủng kháng kháng sinh Carbapenem xảy
ra từ năm 2000 với vi khuẩn Acinetobacter. Giữa năm 2004 và năm 2008 tỷ lệ
đề kháng với Meropenem đã tăng từ 13 đến 29% [35]. Theo báo cáo của CDC
năm 2011 Klebsiella và E. coli đang dần kháng với Carbapenems [39]. Điều
này càng làm tăng mối lo ngại về tình hình kháng kháng sinh trên thế giới.
2.3. Các phƣơng pháp phát hiện vi khuẩn kháng thuốc
Để phát hiện vi khuẩn kháng thuốc có nhiều phƣơng pháp khác nhau.
Trong đó phổ biến là phƣơng pháp sinh học phân tử và kháng sinh đồ.
Phƣơng pháp sinh học phân tử thƣờng dùng là PCR, multiplex PCR.
PCR (Polymerase Chain Reaction) hay còn gọi là phản ứng chuỗi trùng
hợp đƣợc Kary Mullis phát minh năm 1980 là quá trình nhân một đoạn DNA
lặp đi lặp lại nhiều lần. Nếu ta có mồi phát hiện gene kháng thuốc phù hợp với
đoạn DNA kháng thuốc trong vi khuẩn đó qua phản ứng PCR sẽ nhanh chóng
phát hiện vi khuẩn kháng thuốc hay không. Phƣơng pháp này thực hiện nhanh
chóng trong một ngày sẽ có kết quả. Multiplex PCR là hình thức cải biên của
PCR sử dụng nhiều mồi để phát hiện cùng lúc với nhiều mẫu. Tuy nhiên, việc
chạy phản ứng PCR rất tốn kém và không thể chọn ra đƣợc kháng sinh phù
hợp nhất với từng bệnh nhân cụ thể mà trong khi phƣơng pháp kháng sinh đồ
có thể làm đƣợc điều đó.


17

Kháng sinh đồ là phƣơng pháp phổ biến đƣợc dùng ở các bệnh viện,
để chọn đƣợc kháng sinh, nồng độ kháng sinh phù hợp với từng bệnh nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status