CHUYÊN ĐỀ 2
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (bổ sung, phát triển
cương lĩnh 1991) do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác
định: “Từ nay đến giữa thể kỷ XXI, toàn đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn
đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định
hướng xã hội chủ nghĩa”. Để thực hiện thành công mục tiêu trên, toàn Đảng,
toàn dân ta cần nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực tự cường,
phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức,
quán triệt và thực hiện tốt một trong các phương hướng cơ bản là: “ Đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri
thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường” 1. Đây không chỉ là sự tiếp tục đường lối
và chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đã được xác định
ở các kỳ đại hội trước đây, mà còn thể hiện sự nhạy bén và phát triển sáng
tạo của Đảng ta trong việc nhận thức và vận dụng học thuyết kinh tế Mác –
Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước trong bối cảnh mới.
I. CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ, KINH TẾ TRI
THỨC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI GẮN KẾT HAI QUÁ TRÌNH NÀY
1. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1. Quan điểm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời kỳ đổi mới
Từ khi bước vào công cuộc đổi mới năm 1986, cùng với việc từng
bước phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải
phóng các lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế
quản lý, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta ngày càng
xác định rõ quan điểm mới về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Quan điểm ấy là kết quả tổng kết thực tiễn, rút ra từ những bài học
của mấy thập kỷ trước đây, kết hợp với sự nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm
và kiến thức của thế giới và thời đại.
Hội nghị Trung ương VII của Đảng (1994) đã chỉ rõ: “Công nghiệp
nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là
công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng
nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học
và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức”4.
1.2. Những đặc điểm chủ yếu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
Việt Nam hiện nay.
1
2
3
4
ĐCSVN, VK Đảng thời kỳ đổi mới, Về phát triển kinh tế - xã hội, Nxb CTQG, H 2005,Tr 235.
ĐCSVN, VKĐHĐ toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H.1996, tr.80.
ĐCSVN, VKĐHĐ toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H.2001, tr.64.
VKĐHĐIX, Tr.91.
2
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta có nhiều nét đặc thù cả về nội
dung, hình thức, qui mô, cách thức tiến hành và mục tiêu chiến lược. Những
nét đặc thù này được thể hiện khái quát ở một số điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất: Qua trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta là quá
trình rộng lớn, phức tạp và toàn diện. Có nghĩa là nó diễn ra trong tất cả các
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, có sự kết hợp giữa các bước đi
tuần tự và bước đi nhảy vọt, kết hợp giữa phát triển theo chiều rộng và phát
triển theo chiều sâu, kết hợp giữa biến đổi về lượng và biến đổi về chất của
các tác nhân tham gia quá trình. Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá
mang tính bao trùm rất cao, theo đó đén năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
pháp CNH để đi nhanh tới hiện đại). Hai mặt này không đối lập mà thống
nhất với nhau và đang tiếp tục được làm sáng tỏ hơn con đường đẩy nhanh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta.
Thứ tư: Ở nước ta quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá có quan hệ
chặt chẽ với quá trình phát triển kinh tế tri thức. Trong thời gian qua tại
không ít các diễn đàn và công trình nghiên cứu khoa học, mối quan hệ giữa
công nghiệp hoá, hiện đại hoá với kinh tế tri thức đã từng bước được làm rõ.
Về đại thể, có mạnh dạn đi ngay vào phát triển kinh tế tri thức, mới có khả
năng thay đổi phương thức và đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá. Hay nói cách khác phát triển kinh tế tri thức tạo điều kiện cho việc thực
hiện mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá “rút ngắn” ở nước ta. Ngược lại,
việc thực hiện các bước đi và mục tiêu của quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá tạo ra kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để đi vào phát triển
kinh tế tri thức.
1.3. Những thuận lợi và khó khăn của quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở Việt nam.
Bối cảnh trong nước và quốc tế ngày nay hàm chứa nhiều thuận lợi
những cũng đặt ra không ít khó khăn đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ở Việt Nam. Những thuận lợi và khó khăn này tồn tại đan xen với
nhau, có thể chuyển hoá cho nhau. Việc phân định một cách tương đối và
nhận thức rõ những thuận lợi, khó khăn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
việc hoạch định mục tiêu, bội dung và phương pháp tiến hành công nghiệp
hoá, hiện đại hoá cũng như việc thực hiện các nhiệm vụ trong thực tế. Về đại
thể, những thuận lợi và khó khăn được khái quát ở một số nội dung sau:
1.3.1. Thuận lợi
- Thứ nhất: Sau 20 năm đổi mới, thế và lực của nước ta có những thay
đỏi mạnh mẽ, thể hiện ở những cái mới như:
4
của thế giới cho đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ben cạnh đó việc
tham gia toàn cầu hoá kinh tế cũng tạo động lực cho việc đẩy mạnh những
5
cải cách trong nước theo hướng hiện đại phù hợp với khung khổ chung của
quốc tế.
- Thứ ba: Là một nước tiến hành CNH muộn, Việt Nam có thể tận
dụng được những lợi thế của “nước đi sau”. Bên cạnh việc thu hút những
nguồn lực vật chất và trí tuệ quan trọng như nêu trên, các nước đi sau như
Việt Nam còn có thể học hỏi kinh nghiệm phong phú về công nghiệp hoá,
hiện đại hoá của các nước đi trước. Một lợi thế nữa của nước đi sau là chúng
ta dế chuyển đổi cơ cấu, vì không lệ thuộc vào những cơ sở vật chất đã có
(các phí tổn không phải là quá lớn để thay đổi những cái cần thay đổi). Điều
này tạo dễ dàng cho chúng ta bắt tay vào phát triển kinh tế theo các định
hướng cơ cấu đã lựa chọn bao gồm cả cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ và
cơ cấu thành phần kinh tế.
- Thứ tư: Nước ta có vị trí địa kinh tế thuận lợi, nằm ở trung tâm vùng
kinh tế năng động Đông Nam Á. Thuận lợi cho việc giaolưu và hội nhập kinh
tế quốc tế; nước ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối phong phú để
phát triển một số ngành công nghiệp quan trọng. Đặc biệt nước ta có lực
lượng lao động dồi dào, cơ cấu trẻ, năng lực trí tuệ con người Việt Nam
không thua kém các nước, tiếp thu nhanh các tri thức mới, dễ đào tạo có khả
năng sáng tạo. Những yếu tố trên tạo nên lợi thế quan trọng trong cạnh tranh
quốc tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để phát triển những ngành , những
lĩnh vực hiện đại, có thể theo hướng rút ngắn.
1.3.2. Khó khăn
- Tăng trưởng kinh tế chưa được đặt trên cơ sở đủ vững chắc, hiệu quả
và sức cạnh tranh chưa cao, trình dộ phát triển lực lượng sản xuất thấp, cơ
cấu kinh tế chuyển dịch chậm, lậc hậu và còn nghiêng về hướng nội… là
thiên nhiên cùng với sự xuống cấp của môi trường sống là hệ quả của công
nghiệp hoá, hiện đại hoá trên qui mô toàn cầu, nhưng người gánh chịu lại chủ
yếu là các nước chậm phát triển, trong đó có nước ta, đó là một khó khăn
không thể lường hết được. Nó làm cho chi phí của công nghiệp hoá, hiện đại
hoá tăng lên đáng kể, đồng thời làm giảm tính bền vững của quá trình này.
Trong khi đó sự gia tăng của dân số của lực lượng lao động nhanh hơn tốc độ
tăng việc làm. Ở nước ta đây là một bài toán chưa có lời giải hữu hiệu.
2. Kinh tế tri thức
2.1. Quan niệm về kinh tế tri
* Quan niệm trên thế giới về kinh tế tri thức
Trên thế giới hiện nay vẫn đang tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về
kinh tế tri thức, có thể phân loại một cách tương đối các cách hiểu khác nhau
7
về kinh tế tri thức vào ba cách tiếp cận sau:
- Cách hiểu kinh tế tri thức dựa trên khía cạnh hẹp về tri thức. Có hai
cách:
+ Hiểu "tri thức" với nghĩa hẹp, tức đồng nghĩa tri thức với khoa học
và công nghệ, hoặc đôi khi còn coi "tri thức" chủ yếu là cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ hiện đại, trong đó 4 công nghệ trụ cột là công nghệ
thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ không gian
vũ trụ. Cách hiểu này khá phổ biến ở Mỹ vào cách đay khoảng 7, 8 năm,
như có thể thấy qua các tài liệu của thượng nghị viện Mỹ (2000). Một số
nước như Ấn Độ, Philippin cũng đã có lúc chấp nhận cách hiểu này.
+ Cách tiếp cận ngành - Tách biệt nền kinh tế quốc dân thành hai bộ
phận là khu vực kinh tế tri thức và khu vực kinh tế cũ.
Theo quan niệm này khu vực kinh tế tri thức bao gồm các ngành được
gọi là các ngành dựa trên tri thức (theo phân loại của OECD). Hai khu vực
kinh tế này hoạt động với những cơ chế, qui luật và kết quả khác hẳn nhau.
nguồn lực chi phối mọi hoạt động tạo ra của cải trong nền kinh tế tri thức.
Trong đó tri thức là một khái niệm rất rộng bao trùm mọi hiểu biết của con
người.
- Cách tiếp cận bao trùm. Theo cách tiếp cận này kinh tế tri thức thực
chất lf một loại môi trường kinh tế - văn hoá - xã hội mới có những đặc tính
phù hợp và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việ học hỏi, đổi mới và sáng tạo.
Trong môi trường đó, tri thức tất yếu trở thành nhân tố sản xuất quan trọng
nhất đóng góp vào sự phát triển kinh tế và hàm lượng tri thức được nâng cao
trong mọi hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội. Do vậy cốt lõi của việc phát
triển một nền kinh tế tri thức, không chỉ đơn thuần là phát triển khoa học công nghệ mà là phát triển một nền văn hoá đổi mới, sáng tạo thể hiện trong
cách nghĩ, cách làm của mọi tác nhân kinh tế, xã hội để tạo thuận lợi nhất
cho việc sản xuất, khai thác và sử dụng mọi tri thức, mọi loại hiểu biết của
loài người, cũng như xây dựng và phổ biến các năng lực tri thức nội sinh.
Xét theo nghĩa này, kinh tế tri thức có thể được hiểu như một giai đoạn
phát triển mới của toàn bộ nền kinh tế, hoặc nói rộng hơn điều này sẽ dẫn tới
một giai đoạn phát triển mới của xã hội nói chung. Cách tiếp cận này ngày
càng dành được nhiều sự ủng hộ (xem các tài liệu của Ngân hàng thế giới
1998, Bộ Công nghiệp, Giáo dục và Tài nguyên Australia, 1999, 2000)...
* Cách tiếp cận của Việt Nam về kinh tế tri thức
Ở Việt nam, từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước vấn đề kinh tế tri
thức đã được giới các nhà khoa học, những người hoạch định chính sách, các
9
nhà quản lý đưa bán luận khá nhiều. Kinh tế tri thức được nhìn nhận dưới
nhiều góc độ khác nhau, với những tầm mức và phạm vi khác nhau.
Trong không ít hội thảo, hội nghị, người ta đã bàn đến không ít các
định nghĩa khác nhau về kinh tế tri thức, tuy nhiên trong các vă bản chính
thức của đảng và nhà nước, chưa có văn bản nào nêu ra định nghĩa về kinh
tế tri thức. Mặc dù vậy trong số các định nghĩa về kinh tế tri thức được bàn
mới sản phẩm. Vòng đời công nghệ và vòng đời sản phẩm từ lúc mới nảy
sinh phát triển, chín muồi đến tiêu vòng ngày càng rút ngắn; tốc độ đổi mới
của các doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế ngày càng nhanh. Do đó
kinh tế tri thức có tốc độ hoạt động rất nhanh. Làm việc và kinh doanh theo
tốc độ của tư duy. Trong kinh tế tri thức, sáng tạo trở thành động lực chủ yếu
của phát triển.
Các doanh nghiệp luôn luôn đổi mới, số doanh nghiệp dựa vào sáng
chế, công nghệ mới, sản phẩm mới, nhất là doanh nghiệp khoa học hay
doanh nghiệp sáng tạo tăng lên nhanh chóng; số doanh nghiệp không đổi mới
bị phá sản rất nhiều; số chõ làm việc cũ mất đi nhiều, nhưng số chỗ làm việc
mới được tạo ra còn nhiều hơn và tổng số chỗ làm việc không ngừng tăng
lên. Như thế nền kinh tế tri thức là nền kinh tế có rất nhiều biến động và có
cả nhiều rủi ro. Có người gọi kinh tế tri thức là nền “kinh tế rủi ro”, “kinh tế
mạo hiểm” (dám chấp nhận mạo nhận đầu tư vào sản phẩm mới, lĩnh vực
mới để phát triển).
Ba là, mạng thông tin trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng nhất.
Nhờ có mạng thông tin, tri thức được quảng bá rộng rãi đến mọi
người; mạng gắn kết mọi người, mọi tổ chức với nhau, rút ngắn thời gian,
xoá khoảng cách không gian; các hoạt đọng sản xuất kinh doanh trở nên sôi
động, nhanh nhạy, sản xuất gắn chặt với thị trường; tổ chcứ quản lý có hiệu
quả, hiệu lực hơn, thúc đẩy phát triển dân chủ công khai, minh bạch. Mạng
thông tin trở thành cở sở hạ tầng quan trọng nhất của nền kinh tế.
Nhiềungười gọi kinh tế tri thức là “kinh tế thông tin”. Có xã hội thông tin
mới có kinh tế tri thức.
Bốn là, Kinh tế tri thức là nền kinh tế học tập.
Mọi người có điều kiện thuận lợi để học tập suốt đời, không ngừng
phát triển tri thức, nâng cao kỹ năng, phát triển sức sáng tạo, thích nghi với
sự phát triển, thúc đẩy đổi mới. Xã hội học tập là nền tảng của kinh tế tri
thức. Trong thời đại bùng nổ về thông tin, sự phát triển như vũ bão của cách
mạng khoa học - công nghệ hiện đại đòi hỏi con người phải không ngừng
2.4.1. Những việc đã làm được
Đánh giá theo những đặc trưng của kinh tế tri thức, trong gần 20 năm
đổi mới vừa qua, Việt nam đã đạt được những kết quả, thể hiện chủ yếu như
sau:
- Thứ nhất tăng trương kinh tế cao liên tục trong nhiều năm, cơ cấu
kinh tế chuyển dịch theo chiều hướng tiến bộ.
12
Mười năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 2010 là giai đoạn đất nước ta thực sự đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế, đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng. Kinh tế
tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm. Tổng sản phẩm trong
nước (GDP) năm 2010 so với năm 2000 theo giá thực tế gấp 3,26 lần; thu
ngân sách, kim ngạch xuất khẩu gấp 5 lần.
Cơ cấu kinh tế ngành có sự chuyển dịch tương đối rõ nét theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ
tăng. Cơ cấu lao động bước đầu có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng các ngành nông, lâm, thủy sản công nghiệp và xây dựng - dịch vụ năm 1991 là: 40,5% - 23,8% - 35,7%,
năm 2009 là: 20,7% - 40,2% - 39,1%. Trong tổng lao động xã hội, lao động
nông nghiệp năm 1991 chiếm 72%, năm 2009 còn 51,8%1.
- Thứ hai: Xây dựng thể chế kinh tế thị trường tạo điều kiện thuận lợi
cho sự phát triển của mọi thành phần kinh tế, đặc biệt khu vực kinh tế tư
nhân
Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng trong việc xây dựng
hệ thống pháp luật kinh tế thị trường, cải cách tổ chức và hoạt động bộ máy
nhà nước, tăng cường năng lực, tính năng động, tinh thần trách nhiệm của
đội ngũ, công chức, chú trọng hỗ trợ các doanh nghiệp mới và tạo cuộc sống
tốt hơn cho người dân; cơ cấu lao động thay đổi với sự từng bước gia tăng
của lực lượng lao đọng sử lý thông tin,làm dịch vụ, di chuyển sản phẩm. làm
một mắt khâu trong mạng lưới sản xuất - kinh doanh toàn cầu, trong đó có
những hoạt động liên quan đến việc sản sinh và truyền bá kinh tế tri thức.
- Thứ tư, từng bước hình thành kết cấu hạ tầng kinh tế then chốt cho
phát triển kinh tế tri thức.
Mạng thông tin là một trong những yếu tố quan trọng nhất của việc xã
hôi và kinh tế tri thức. Trong những năm qua nhờ những nỗ lực trong thực
hiện Chương trình quốc gia về công nghệ thông tin từ năm 1995 và chiến
lược đẩy mạnh phát triển lĩnh vực viễn thông, mang thong tin ở nước ta dã
được mở rộng và phát triển nhanh chóng, viễn thông được đánh giá là một
trong những lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh nhất của nền kinh tế nước ta
hiệ nay. Hiện nay mạng lưới thông tin của nền kinh tế đã được tự động hoá
hoàn toàn, với 100% các hệ thống chuyển mạch số và chuyền dẫn số trải
rộng trên toàn quốc và kết nói với quốc tế.
Một loạt các dịch vụ bưu chính, viễn thông và Internet đã được tạo lập
và mở rộng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, phục vụ hoạt động sản xuất
14
kinh doanh, quản lý nhà nước, gáo dục, y tế, nghiên cứu, giải trí, giao tiếp...
2.4.2. Những việc có thể làm được nhưng chưa làm được
Cũng đánh giá theo những đặc trưng chủ yếu của kinh tế tri thức, trong
những năm qua, có những việc chúng ta có thể làm được và làm tốt hơn,
nhưng chưa làm được thể hiện chủ yếu là:
Thứ nhất: Chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp và chưa được cải thiện
nhiều
Chất lượng tăng trương kinh tế chưa cao thể hiện ở hiệu quả của nền
kinh tế còn thấp, năng lực cạnh tranh của các ngành kinh tế còn yếu, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế còn chậm và chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phận
dân cư có xu hướng gia tăng, môi trường đầu tư chưa ổn định, năng lực quản
lým điều hành của bộ máy hành chính còn nhiều yếu kém làm tăng đáng kể
những người có khả năng tạo ra tri thức cha hình thành được thói quen đăng
ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho sản phẩm khoa học và cong nghệ của
mình. Ứng dụng công nghệ thông tin trong đời sống xã hội còn hạn chế. Nền
giáo dục của nước ta đang chứa dựng nhiều bức xúc, công tác xã hội hoá
giáo dục còn diễn ra chậm. Với thực trạng yếu kém như vậy rất khó hình
thành ở Việt Nam một xã hội học tập một đọi ngũ đông đảo các nhà tri thức.
II. ĐỊNH HƯỚNG ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐẠI
HOÁ GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở NƯỚC TA HIỆN
NAY.
1. Sự cần thiết phải gắn công nghiệp hoá, hiện đại hoá với phát
triển kinh tế tri thức.
Nghị quyết đại hội XI của Đảng khẳng định: “ Đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài
nguyên, môi trường”1. Chủ trương đó của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn.
Thứ nhất: Phát triển kinh tế tri thức là bước đi tất yếu của nền kinh tế
thế giới trong thế kỷ 21.
Trên cả phương diện lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng, công nghiệp hóa,
hiện đại hóa là một quá trình lịch sử tất yếu mà Việt Nam phải trải qua nhằm cải
biến nước ta thành một nước công nghiệp, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại,
có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ; trang bị và tái trang bị công
nghệ ngày càng hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, chuyển từ lao
động thủ công lạc hậu sang sử dụng lao động với công nghệ (phương tiện,
phương pháp) tiên tiến hiện đại, có hàm lượng trí tuệ cao; giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao chất lượng cuộc
1
Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐH XI, Nxb CTQG, H.2011, Tr. 75
16
sau (như Việt Nam) phải đồng thời thực hiện hai quá trình: Một là, xây dựng
nền công nghiệp theo hướng hiện đại. Hai là, phát triển kinh tế tri thức trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là hai nội dung của một quá trình diễn
17
ra đồng thời và phải được thực hiện đồng thời. Đảng ta đã xác định: CNH,
HĐH ở nước ta phải dựa vào tri thức, theo con đường đi tắt, rút ngắn. CNH,
HĐH phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: chuyển từ nền kinh tế nông
nghiệp sang kinh tế công nghiệp và từ một nền kinh tế công nghiệp sang kinh
tế tri thức. Từ một trình độ thấp về kinh tế và kỹ thuật, muốn đi lên nhanh và
phát triển theo hướng hiện đại cần kết hợp phát triển tuần tự với phát triển
nhảy vọt. Nền kinh tế nước ta phải phát triển theo mô hình “lồng ghép”, một
mặt, phải phát triển nông nghiệp và các ngành công nghiệp cơ bản, mặt khác,
đồng thời phải phát triển những ngành kinh tế dựa vào tri thức và công nghệ
cao.
Như vậy, có thể hiểu rằng, đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh
tế tri thức là một phương thức CNH mới trong điều kiện của cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ, của xu hướng toàn cầu hóa kinh tế đang gia tăng
mạnh mẽ. Có mạnh dạn đi ngay vào phát triển kinh tế tri thức mới có khả
năng thay đổi phương thức và đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, thực hiện được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020.
Mặc dù, về cơ bản, hiện nay Việt Nam vẫn còn là một nước đang phát
triển và đang trong quá trình chuyển từ nền kinh tế phi thị trường sang nền
kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền
kinh tế công nghiệp.., song xét trên nhiều phương diện, Việt Nam có đầy đủ
khả năng và từng bước phát triển kinh tế tri thức. Điều này được thể hiện rõ
nét ở những thành tựu kinh tế - xã hội quan trọng mà nước ta đã đạt được
trong hơn 25 năm đổi mới vừa qua trên các khía cạnh chủ yếu sau:
Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao 7 - 8% trong thời gian dài và là
con người Việt Nam thông minh, sáng tạo, dễ đào tạo, có năng lực tiếp thu
nhanh tri thức mới, công nghệ mới. Dân số trẻ, lực lượng lao động đồi dào.
Nền nông nghiệp nước ta phát triển nhanh, nông dân có trình độ học vấn
không thấp, tiếp thu nhanh tiến bộ kỹ thuật và cũng tiếp cận nhanh kinh tế thị
trường. Khoảng 50% sản lượng nông nghiệp nước ta được xuất khẩu, nước ta
là một trong những nước đứng hàng đầu trên thế giới về xuất khẩu gạo, cà
phê, cao su… Bộ mặt nông thôn đổi mới đáng kể và bước đầu hiện đại hóa.
Nước ta là một trong những nước thu hút nhiều đầu tư nước ngoài; và
hiện nay đầu tư nước ngoài đang gia tăng nhanh chóng. Vốn đàu tư nước
ngoài lớn cộng với đầu tư trong nước chiếm tỷ lệ cao trong GDP đã góp phần
đáng kể vào tăng trưởng kinh tế, nâng cao trình độ công nghệ của sản xuất và
phát triển cơ sở hạ tầng. Kết cấu hạ tầng nước ta phát triển nhanh và được
hiện đại hóa một bước; hệ thống giao thông, các đô thị đã có bộ mặt mới.
19
Quan hệ kinh tế đối ngoại không ngừng mở rông, khối lượng xuất nhập khẩu
tăng nhanh; Việt Nam là nước có tỷ lệ xuất nhập khẩu so với GDP vào loại
cao của thế giới. Nước ta cũng là một trong những nước đã kết hợp tốt tăng
trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, đã chú trọng đầu tư phát triển nông thôn,
vùng sâu, vùng xa. Và cũng là nước được các tổ chức quốc tế thừa nhận có
thành tích xóa đói giảm nghèo nhanh nhất.
Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta vẫn còn nhiều mặt yếu kém, nhất là
chất lượng tăng trưởng thấp, hiệu quả kém, đang tiềm ẩn nguy cơ phát triển
không bền vững, chưa rút ngắn được khoảng cách so với nhiều nước trong
khu vực. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu rõ: “Tăng
trưởng kinh tế chưa tương xứng với khả năng; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh
tranh của nền kinh tế còn kém; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm”1.
Nền kinh tế nước ta đang còn dựa chủ yếu vào tài
nguyên và lao động, giá trị do tri thức tạo ra chưa đáng kể. Cơ cấu kinh tế
Tiềm năng trí tuệ của con người Việt Nam tuy không thua kém các
nước, nhưng do nhiều yếu kém trong công tác đào tạo nên chất lượng nguồn
nhân lực nước ta còn thấp, bất cập trước yêu cầu phát triển kinh tế tri thức.
So với các nước trong khu vực, nguồn nhân lực nước ta thua kém về số
lượng, cơ cấu, cũng như về trình độ, năng lực. Nước ta chưa có đủ chính
sách trọng dụng nhân tài. Lực lượng lao động dồi dào, nhưng tỷ lệ qua đào
tạo nghề nghiệp và chuyên môn kỹ thuật rất thấp, cơ cấu đào tạo lại bất hợp
lý. Công nhân lành nghề, công nhân kỹ thuật phục vụ các ngành công nghệ
cao còn thiếu nghiêm trọng.
Năng lực khoa học và công nghệ quốc gia còn yếu; kết quả ứng dụng
còn ít, số công trình công bố, số bằng sáng chế phát minh trên đầu cán bộ
R&D rất thấp so với các nước. Thị trường khoa học và công nghệ chậm được
hình thành. Sự gắn kết hoạt động KH&CN với giáo dục - đào tạo và sản xuất
- kinh doanh còn yếu. Tỷ lệ sử dụng công nghệ cao trong công nghiệp của
Việt Nam mới chỉ khoảng 20%, trong khi Philipin 29%, Thái lan 31%,
Malaixia 51%, Singapo 73%... Đầu tư cho đổi mới công nghệ của các doanh
nghiệp Việt Nam rất thấp, chỉ khoảng 0,2 - 0,3% doanh thu, trong khi Ấn Độ
là 5%, Hàn Quốc là 10%. Đầu tư từ các doanh nghiệp cho nghiên cứu phát
triển rất thấp (khoảng 0,3 % doanh thu). Mức đầu tư cho đổi mới thiết bị công nghệ của doanh nghiệp cũng chỉ khoảng 3% doanh thu.
CNTT ở Việt Nam đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề: thu nhập
người dân còn thấp, chi phí cho CNTT khá cao, năng lực hoạch định chính
sách còn yếu so với yêu cầu phát triển CNTT, đội ngũ nhân lực chưa sẵn
sàng. Tỷ lệ vi phạm bản quyền của Việt nam xấp xỉ khoảng 90%, vào loại
cao nhất thế giới. Ứng dụng CNTT ở nhiều nơi còn mang tính hình thức,
hiệu quả thấp; môi trường pháp lý còn chưa rõ ràng, thiếu chính sách khuyến
21
khích doanh nghiệp đầu tư ứng dụng và phát triển CNTT.
Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế về mức độ phát triển CNTT, thì
Ba là: Do yêu cầu xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả.
Theo tư duy mới của Đảng ta, nền kinh tế độc lập tự chủ là độc lập tự
chủ về đường lối chính trị, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, không lệ
thuộc vào sức ép từ bên ngoài; có tiềm lực kinh tế đủ mạnh đáp ứng cho nhu
cầu tiêu dùng của nhân dân, đồng thời có tích luỹ ngày càng cao; có cơ cáu
kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh cao, có khả năng ứng phó hiệu quả với
những tác động bất lợi từ bên ngoài; giữ vững được ổn định kinh tế - tài
chính, bảo đảm an ninh lương thức, an toàn năng lượng và môi trường.
Tất cả những thuộc tính của một nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế mà chúng ta xây dựng chỉ có thể trở thành hiện thực
khi chúng đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn chặt với
phát triển kinh tế tri thức. Bởi lẽ, chỉ có gắn hai quá trình đó thì chúng ta mới
có thể từng bước tạo dựng được các yếu tố trên đây của một nền kinh tế độc
lập tự chủ và cũng mới có được vị thế đủ mạnh để chủ động họi nhập kinh tế
quốc tế.
Bốn là: Do yêu cầu xây dựng và củng cố quốc phòng, an ninh trong
tình hình mới.
Bước sang thế kỷ 21, các nước tư bản đứng đầu là Mỹ vẫn đang nắm
những ưu thế về vốn, khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực trình độ cao,
cho nền có điều kiện để phát triển kinh tế, lợi dụng toàn cầu hoá kinh tế để
thao túng các dân tộc đang phát triển, tìm mọi cách thực hiện toàn cầu hoá
chính trị, văn hoá và xã hội, đẩy các nước, các dân tộc vào vòng xoáy của
chủ nghĩa tư bản. Mặt khác, chúng lợi dụng những thành quả của khoa học –
công nghệ hiện đại, của kinh tế tri thức để tiếp tục củng cố vị trí siêu cường,
áp đặt sự thống trị lên toàn cầu. Sử dụng con bài kinh tế (hợp tác, trao đổi
thương mại, vốn, công nghệ…) để tiếp tục đẩy mạnh chiến lược diễn biến
hoà bình nhằm xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó Việt nam được
trong mng sn xut v phõn phi ton cu.
Phỏt trin a dng cỏc ngnh, ngh to nhiu vic lm v thu nhp;
khuyn khớch, to thun li ngi lao ng hc tp, nõng cao trỡnh , tay
ngh, ng thi cú c ch, chớnh sỏch phỏt hin, trng dng nhõn ti. Phỏt
24
huy tiềm lực khoa học, công nghệ của đất nước, nâng cao nhanh năng suất
lao động xã hội và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế. Tăng cường liên
kết, khai thác, phát huy đúng tiềm năng, thế mạnh của từng vùng kinh tế; tạo
điều kiện cho phát triển và phát huy vai trò đầu tàu của vùng kinh tế trọng
điểm, tạo sức lan toả, lôi cuốn các vùng kinh tế khác.
2.2. Phát triển công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, tiếp
tục tạo nền tảng cho một nước công nghiệp và nâng cao khả năng độc lập,
tự chủ của nền kinh tế
Cơ cấu lại, xây dựng nền công nghiệp theo hướng phát triển mạnh
những ngành có tính nền tảng, có lợi thế so sánh và có ý nghĩa chiến lược
đối với sự phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững, nâng cao tính độc lập, tự
chủ của nền kinh tế, từng bước có khả năng tham gia sâu, có hiệu quả vào
mạng sản xuất và phân phối toàn cầu. Ưu tiên phát triển và hoàn thành
những công trình then chốt về cơ khí chế tạo, sản xuất máy móc, thiết bị thay
thế nhập khẩu cho công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng; công nghiệp công
nghệ cao sản xuất linh kiện điện tử, máy tính, công nghiệp dầu khí, điện,
than, khai khoáng, hoá chất, luyện thép, xi măng, phân đạm..., công nghiệp
hỗ trợ, công nghiệp quốc phòng, an ninh với trình độ công nghệ ngày càng
cao, sạch, tiêu tốn ít nguyên liệu, năng lượng, tăng sức cạnh tranh và giá trị
gia tăng.
Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn, đặc
biệt là công nghiệp sản xuất trang thiết bị, máy móc làm đất, thu hoạch, bảo
quản, chế biến sản phẩm nông - lâm - thuỷ sản, sản phẩm xuất khẩu; sản xuất