PHẦN I: MỞ ĐẦU
Việt Nam đang bước vào thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đây là nhiệm vụ trọng tâm,
bởi vì chỉ có bằng con đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa mới đất nước ta mới trở nên
giàu mạnh, đồng thời xây dựng được một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, từng bước
tiến lên chủ nghĩa xã hội, từ đó rút ngắn khoảng cách lạc hậu với các nước phát triển, hòa
vào dòng thác chung của nhân loại.
Tuy nhiên để sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa thành công và những mong muốn đó trở
thành hiện thực thì đi đôi với việc củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiên tiến, chúng ta nhất
thiết phải phát triển lực lượng sản xuất với năng suất lao động xã hội ngày càng cao. Không có
lực lượng sản xuất hùng hậu với năng suất lao động xã hội cao thì không thể nói đến chủ nghĩa
xã hội. Mà muốn có lực lượng sản xuất hùng hậu và năng suất lao động cao thì không thể chỉ dựa
vào nông nghiệp sử dụng lao động thủ công, trái lại phải phát triển mạnh công nghiệp cùng với
đổi mới công nghệ ngày càng hiện đại, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và
bền vững của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Hiểu theo cách khác, nguồn lực trí tuệ và sức mạnh
tinh thần người Việt, sự phát triển giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là nền tảng và động
lực của sự nghiệp công nghiêp hóa – hiện đại hóa đất nước. Hay nói chính xác như quan điểm
của Đảng: “Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa và công nghiệp hóa - hiện đại hóa gắn với phát
triển kinh tế tri thức”.
Thực hiện đề tài này, chúng em muốn thể hiện cái nhìn của mình về công nghiệp hóa - hiện đại
hóa, về nền kinh tế tri thức, vai trò của nền kinh tế tri thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa -
hiện đại hóa đất nước, đồng thời có thể rút ra được những kiến thức cần thiết cho mình trong
công việc cũng như cuộc sống sau này.
2
PHẦN II: NỘI DUNG
1. KHÁI NIỆM VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIÊN ĐẠI HÓA VÀ KINH TẾ TRI THỨC.
1.1. Khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
a. Công nghiệp hóa
Công nghiệp hóa (industrialization) là quá trình biến đổi xã hội và kinh tế từ một xã hội nông
nghiệp (hay tiền công nghiệp), trong đó tích lũy tư bản trên đầu người rất thấp, lên xã hội công
nghiệp. Đó là một bộ phận của quá trình hiện đại hóa rộng lớn hơn. Quá trình biến đổi xã hội và
kinh tế đó gắn liền với quá trình đổi mới công nghệ, nhất là các cuộc cách mạng kỹ thuật .
sống con người. Đó là quá trình biến đổi xã hội từ trình độ nguyên sơ lên trình độ phát triển và
văn minh ngày càng cao. Công nghiệp hóa là một bước đi, một giai đoạn trên con đường hiện đại
hóa.
2
Các thuyết về hiện đại hóa thường đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của các biến số xã hội đến sự
phát triển và tiến bộ xã hội, họ không chỉ chú trọng vào quá trình biến đổi mà còn cách biến đổi
như thế nào, có liên quan đên cấu trúc xã hội và văn hóa cũng như tính năng động và khả năng
thích nghi công nghệ mới.
Công nghệ mới là nguồn gốc chủ yếu của sự biến đổi xã hội. Hiện đại hóa phải xem xét từ góc
nhìn công nghệ. Công nghệ mới là yếu tố then chốt thúc đẩy hiện đại hóa. Con người trong xã
hội luôn tìm đến những ý tưởng mới, cách làm tốt hơn – những công nghệ mới, để phát triển sản
xuất, làm cho cuộc sống tôt hơn, đó cũng là quá trình nâng cao năng lực con người, phát triển
vốn tri thức xã hội, làm cho xã hội trở nên sáng tạo hơn, văn minh hơn, và trải qua nhiều thế kỷ
sẽ tạo nên sự biến đổi to lớn về xã hội, công nghiệp, kinh tế…, khái quát lại, chính đó là quá
trình hiện đại hóa.
Thuật ngữ hiện đại hóa xuất hiện từ thời đại “Khai sáng”, với ý tưởng là bản thân con ngưởi có
thể làm thay đổi và phát triển xã hội của mình. Tiến bộ công nghệ và biến đổi kinh tế sẽ làm thay
đổi giá trị đạo đức và văn hóa của xã hội, sự gắn kết kinh tế - xã hội trong phát triển sẽ thúc đẩy
sự tiến bộ và nâng cao năng lực của con người; đó cũng là những đặc trưng chủ yếu của quá trình
biến đổi không ngừng của thế giới.
Cần lưu ý đến sự phụ thuộc lẫn nhau và tương tác giữa những thiết chế của một xã hội trong việc
giữ gìn tính thống nhất của xã hội và văn hóa. Các xã hội nguyên sơ có thể chuyển tiếp sang xã
hội công nghiệp tiến bộ hơn, và trong quá trình chuyển tiếp ấy nhiều khi xảy ra khủng hoảng và
mất ổn định.
Quá trình hiện đại hóa phụ thuộc nhiều nhất vào điều kiện bên trong của một xã hội. Sư quản lý
của nhà nước có thể tạo thuận lợi cho hiện đại hóa nhưng cũng có thể cản trở hiện đại hóa làm
cho các nguồn lực chạy sang các nước khác; quyền lực cũng có thể trở thành công cụ kìm hãm
phát triển kinh tế, làm chậm quá trình hiện đại hóa.
Những thập kỷ 70, 80 thế kỷ trước thịnh hành quan điểm nhấn mạnh tầm quan trọng của xã hội
mở để đón nhận sự thay đổi, coi khép kín là kìm hãm sự phát triển; sự cố gắng duy trì truyền
trong các hệ tự động hóa toàn phần của sản xuất và trong các mạng thông tin toàn cầu. Máy móc
thông minh kết hợp với tri thức sáng tạo trở thành nguồn lực của các công nghệ cao như: công
nghệ thông tin hoặc công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu
tiên tiến - nano , trong đó công nghệ thông tin và truyền thông giữ vai trò dẫn đầu. Hệ thống
công nghệ cao là cốt lõi của lực lượng sản xuất mới. Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản
xuất mới đã thúc đẩy hình thành nền kinh tế tri thức trong nửa sau của thế kỷ XX.
Trong tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại con người là động vật duy nhất có năng lực sáng
tạo tri thức, do đó biết lao động sản xuất và tiến dần tới nền kinh tế dựa vào tri thức là chính. Bởi
vậy, kinh tế tri thức là một lịch sử tất yếu mang tính khách quan. Cũng như kinh tế nông nghiệp
và kinh tế công nghiệp, kinh tế tri thức ra đời không phụ thuộc vào ý chí của một nhóm người
nào, mà hoàn toàn tuân theo quy luật khách quan của sự phát triển lịch sử của xã hội loài người.
Nền kinh tế tri thức là bước phát triển mới, vươt bậc của lực lượng sản xuất xã hội, trong đó tri
thức trở thành hình thức cơ bản nhất của vốn, sự tăng trưởng kinh tế từ dựa chủ yếu vào nguồn
lực vật chất chuyển sang dựa chủ yếu vào năng lực trí tuệ con người. Nền kinh tế tri thức hình
thành và phát triển là kết quả của sự phát triển khoa học và công nghệ và kinh tế thị trường.
Kinh tế tri thức mang lại những cơ hội và thách thức lớn trong sự phát triển chưa từng thấy của
nhân loại. Kinh tế tri thức là động lực thúc đẩy tiến trình xã hội hóa quan hệ sản xuất và lực
lượng sản xuất, làm cho phân công lao động xã hội phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Kinh tế tri thức được hình thành, phát triển trên cơ sở các ngành sản xuất sử dụng công nghệ cao.
Từ đó mà tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển của toàn bộ nền kinh tế
Nó thúc đẩy công nghiệp, không ngừng gia tăng hàm lượng khoa học – kỹ thuật, công nghệ trong
sản phẩm công nghiệp qua đó mà gia tăng giá trị sử dụng, giá trị trao đổi của sản phẩm công
nghiệp.
Nó thúc đẩy trí nghiệp ở các ngành dịch vụ, thông tin, thương mại, tiền tệ… với nhiều hình thức
phong phú. Nó thúc đẩy việc nâng cao đời sống xã hội, hướng đến một nền văn minh cao hơn.
Kinh tế tri thức mang lại công nghệ kỹ thuật mới, các tư liệu lao động mới, từ đó các hệ thống
máy móc thông minh, tự động hóa sẽ được tạo ra. Quá trình đó sẽ giúp phát hiện và sáng tạo ra
nhiều đối tượng lao động mới, những nguyên liệu mới, năng lượng mới,…có thể trước đây chưa
từng xuất hiện, tạo ra nhiều giá trị sử dụng mới, đáp ứng thỏa mãn nhu cầu xã hội ngày càng tốt
hơn, giảm bớt việc khai thác các nguồn tài nguyên hiện hữu. Trong nền kinh tế tri thức máy móc
ngày càng tăng, cường độ lao động ngày càng giảm, chủng loại sản phẩm ngày càng đa dạng,
phong phú, chất lượng sản phẩm ngày càng cao, giúp đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cuộc
sống…sự cạnh tranh được tạo điều kiện đầy đủ, sự tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, tạo ra lợi
thế cho quốc gia, tác động lớn đến đời sống xã hội. Tạo ra của cải và nâng cao năng lực cạnh
tranh chủ yếu là nhờ nghiên cứu, sáng tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới, chứ không chỉ là tối
ưu hóa và hoàn thiện cái đã có.
- Siêu xa lộ thông tin trong hệ thống mạng toàn cầu được hình thành, có ảnh hưởng to lớn
đến lĩnh vực khoa học, kinh tế và văn hóa, quan hệ quốc tế, đặc biệt giúp mở rộng thị trường cho
các nước… bởi vì nó đảm bảo sự tham gia đông đảo của tất cả các quốc gia trên thế giới. Siêu xa
lộ thông tin sẽ tạo ra một xã hội tri thức, xã hội thông tin mà không có biên giới.
- Trong điều kiện của kinh tế tri thức, các thành tựu khoa học – công nghệ, nhất là công
nghệ thông tin được phổ biến và ứng dụng hết sức nhanh chóng, trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp. Các ngành kinh tế được tri thức hóa đều phải dựa vào công nghệ mới để đổi mới và
phát triển.
- Ngành nghề, việc làm thay đổi nhanh, không ổn định, người lao động phải học tập suốt
2
đời, không ngừng nâng cao kiến thức và kỹ năng, thích nghi với sự đổi mới.… Nhiều khái niệm
đã đổi khác, cách nghĩ, cách làm thay đổi nhiều.
d. Nền kinh tế tri thức - cơ hội cho các nước đi sau đẩy nhanh, rút ngắn quá trình công nghiệp
hóa.
Kinh tế tri thức có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển xã hội ngày nay. Phát triển kinh tế tri
thức là cơ hội để rút ngắn khoảng cách lạc hậu.
Phát triển kinh tế tri thức là xu thế phát triển tất yếu khách quan, lôi cuốn tất cả các quốc gia. Các
nước phát triển đi tới kinh tế tri thức là quá trình phát triển tự nhiên. Các nước đi sau phải nắm
bắt các thành tựu mới của khoa học và công nghệ và kinh nghiệm các nước đi trước, đề ra chiến
lược phát triển kinh tế tri thức ngay trong quá trình công nghiệp hóa, để nhanh chóng rút ngắn
khoảng cách với các nước đi trước.
2. VÌ SAO PHẢI KẾT CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TRI THỨC
Lao động sản xuất bao giờ cũng phải dựa vào tri thức, chỉ khác nhau ở mức độ nhiều hay ít.
Chúng ta có thể và cần thiết không trải qua các bước tuần tự từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế
công nghiệp rồi mới phát triển kinh tế tri thức. Đó là lợi thế của các nước đi sau, không phải
nóng vội, duy ý chí. Vì vậy, Đại hội X chỉ rõ: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với
phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và của công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
3. NỘI DUNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
3.1. Nội dung
Đại hội X của Đảng chỉ rõ: ‘Chúng ta tranh thủ các cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra
và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Phải coi trọng kinh tế tri
thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa’.
Nội dung cơ bản của quá trình này là:
- Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức,
kết hợp sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại.
- Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mỗi bước phát triển của đất
nước, ở từng vùng, từng địa phương, từng dự án kinh tế - xã hội.
- Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý theo ngành, lĩnh vực và lãnh thổ.
- Giảm chi phí trung gian, nâng cao năng suất lao động của tất cả các ngàn, lĩnh vực, nhất là các
ngành, lĩnh vực có sức cạnh tranh cao.
3.2. Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực kinh tế trong quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
- Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn
đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân.
Một là, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân là một vấn đề lớn của quá trình công nghiệp hóa
đối với tất cả các nước tiến hành công nghiệp hóa trên thế giới, bởi vì công nghiệp hóa là quá
trình thu hẹp khu vực nông nghiệp, nông thôn, gia tăng khu vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ
và đô thị. Nông nghiệp là nơi cung cấp lương thực, nguyên liệu, lao động cho công nghiệp và
thành thị, là thị trường rộng lớn cho công nghiệp và dịch vụ. Nông thôn chiếm đa số dân cư ở
Một là, đối với công nghiệp và xây dựng.
Khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tác, công nghiệp phần
mềm và công nghiệp bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều
lao động; phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế, nâng cao hiệu quả của các khu
công nghiệp, khu chế xuất. Khuyến khích và tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia
phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; sản xuất tư liệu sản
xuất quan trọng theo hướng hiện đại; ưu tiên thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn của
nước ngoài và các công ty lớn xuyên quốc gia.
Tích cực thu hút vốn trong và ngoài nước để đầu tư thực hiện các dự án quan trọng về khai thác
dầu khí, lọc dầu và hóa dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây
dựng. Có chính sách hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô.
Thu hút chuyên gia giỏi, cao cấp của nước ngoài và trong cộng đồng người Việt định cư ở nước
ngoài.
Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật kinh tế - xã hội nhất là các sân bay quốc tế, cảng
biển, đường cao tốc, đường ven biển, đường đông tây, mạng lưới cung cấp điện, hạ tầng kỹ thuật
và hạ tầng xã hội ở các đô thị lớn, hệ thống thủy lợi, cấp thoát nước. Phát triển công nghiệp
năng lượng gắn với công nghệ tiết kiệm năng lượng. Tăng nhanh năng lực và hiện đại hóa bưu
chính – viễn thông.
Hai là, đối với dịch vụ.
2
Tạo bước phát triển vượt bậc của các ngành dịch vụ, nhất là những ngành có chất lượng cao,
tiềm năng lớn và có sức cạnh tranh, đưa tốc độ phát triển của ngành dịch vụ cao hơn với tốc độ
tăng GDP. Tận dụng tốt thời cơ hội nhập kinh tế quốc tế để tạo bước phát triển ngành ‘công
nghiệp không có khói’ này. Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ truyền
thống như vận tải, thương mại, ngân hàng, bưu chính viễn thông, du lịch. Phát triển mạnh các
dịch vụ phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, phục vụ đời sống ở khu vực nông thôn.
Đổi mới căn bản cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng. Nhà nước
kiểm soát chặt chẽ độc quyền và tạo hàng lang pháp lý, môi trường thuận lợi cho các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia và cạnh trạnh bình đẳng trên thị trường dịch vụ.
- Phát triển kinh tế vùng:
khoa học và công nghệ. Lựa chọn và đi ngay vào công nghệ hiện đại ở một số ngành, lĩnh vực
2
then chốt. Chú trọng phát triển công nghệ cao để tạo đột phá và công nghệ sử dụng nhiều lao
động để giải quyết việc làm. Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học và công
nghệ, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng và hiệu quả, trong từng ngành, lĩnh vực của nền
kinh tế.
Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo để thực
sự phát huy vai trò quốc sách, hàng đầu, tạo động lực thúc đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và phát triển kinh tế tri thức. Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học
đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có
tay nghề cao.
Bốn là, đổi mới cơ bản cơ chế quản lý khoa học và công nghệ, đặc biệt là cơ chế tài chính phù
hợp với đặc thù sáng tạo và khả năng rủi ro của hoạt động khoa học và công nghệ.
- Bảo vệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên:
Xuất phát từ yêu cầu phát triển bền vững của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, vấn đề bảo vệ, sử dụng tài nguyên và cải thiện môi trường
tự nhiên được xác định:
Một là, tăng cường quản lý tài nguyên quốc gia, nhất là các tài nguyên đất, nước, khoáng sản và
rừng. Ngăn chặn các hành vi hủy hoại và gây ô nhiễm môi trường, khắc phục tình trạng xuống
cấp môi trường ở các lưu vực sông, đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, nơi đông dân cư và có
nhiều hoạt động kinh tế. Quan tâm đầu tư cho lĩnh vực môi trường, nhất là các hoạt động thu
gom, tái chế và xử lý chất thải, phát triển và ứng dụng công nghệ sạch hoặc công nghệ ít gây ô
nhiễm môi trường. Hoàn chỉnh luật pháp, tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ và cải thiện
môi trường tự nhiên. Thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải xử lý ô nhiễm hoặc chi trả
cho việc xử lý ô nhiễm.
Hai là, từng bước hiện đại hóa công tác nghiên cứu, dự báo khí tượng, thủy văn, chủ động phòng
chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.
Ba là, xử lý tốt mối quan hệ giữa tăng dân số, phát triển kinh tế và đô thị hóa với bảo vệ môi
trường, bảo đảm phát triển bền vững.
Bốn là, mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên thiên nhiên, chú
chính sách phát triển quốc phòng và an ninh) trở thành hàng hoá”.
Nhận thức rõ việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức là hai nội dung có quan hệ
thống nhất, hữu cơ của tiến trình phát triển theo phương thức "rút ngắn thời gian, vừa có những
bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt" để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã khẳng định: "trong 5 năm tới,
chúng ta chủ trương tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức”. Cơ sở để thực hiện
đồng thời và có hiệu quả hai quá trình này là tích cực phát huy nội lực, kết hợp hữu hiệu việc sử
dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại, chủ động
và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế nhằm đưa công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn.
2
PHẦN III: KẾT LUẬN
Trong thời đại ngày nay, cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra với tốc độ vũ bão, hàng
loạt công nghệ mới ngày càng hiện đại ra đời. Khoa học và công nghệ ngày càng thể hiện rõ vai
trò là nền tảng, động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội.
Kinh tế tri thức là xu thế phát triển tất yếu, khách quan, đã, đang và sẽ tiếp tục làm thay đổi một
cách mạnh mẽ, sâu sắc nội dung và bước đi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Không
chỉ thế kinh tế tri thức còn đòi hỏi tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các quốc
gia đi sau, trong đó có Việt Nam, phải được gắn liền với phát triển kinh tế tri thức.
Đối với Việt Nam, tri thức khoa học công nghệ giữ vai trò cực kì quan trọng và quyết định đối
với sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, vừa là nền tảng vừa là động lực. Vì vậy,
chúng ta cần nhận thức được tầm quan trọng của tri thức và tri thức khoa học để có thể định
hướng được hương phát triển của đất nước.
MỤC LỤC
2
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
PHẦN II: NỘI DUNG 2
1. KHÁI NIỆM VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIÊN ĐẠI HÓA VÀ KINH TẾ TRI THỨC. 2