Kinh tế tri thức ở Việt Nam - Quan điểm và giải pháp phát triển - Pdf 26

THƯ VIÊN
______
. ~ _ *
Đ Ạ I H Ụ C f H U Y SÀN Ọ NG LÂM (CHỦ BIÊN) ' • *

Đ
330.959 7
K 312
• Ị-
KINH T Ế
TRI THỨC I
Ở V IỆT n a m :
QỤAN ĐIỂM
VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN Ị .
(SÁCH CHUYẾN KHẢO) e t> | i f *
im
THU VIEN DAI HOC THUY SAN
\JL 7
NHÀ XUẤT BAN KHOA HOC VA.KỶ TIIU/V
TS. VŨ TRỌNG LÂM
(Chủ biên)
KINH TẾ TRI THỨC Ỏ VIỆT NAM
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN
(SÁCH CHUYÊN KHẢO)
NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
HÀ NỘI - 2004
TẠP THE TAC GIA
TS. VŨ TRỌNG LÂM (Chủ biên)
GS. TS. TRẦN NGỌC HIÊN
GS. TS. ĐỖ HOÀNG TOÀN

nhiên cho đến nay, hầu hết các nưốc p hát triển và nhiều nước
đang, kém phát triển đã chấp nhận kirih tế tri thức, đã soạn thảo
xong và bắt tay vào thực hiện các chiến lược nhằm đưa kinh tế tri
thức trở thành mục tiêu phát triển quô"c gia. Trong bôi Ccảnh đó, ỏ
nước ta, sau nhiều tran h luận, đã có sự n h ất trí xây dựng nền kinh
tê theo hưống tri thức hoá dần các công đoạn trong quá trình sản
xuất hàng hoá và dịch vụ trên mọi lĩnh vực của đời sông kinh tê -
xã hội như Báo cáo Chính trị của Đảng lần thứ IX đã chỉ rõ: “Phát
triển những lợi th ế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để dạt
trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công
nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ỏ mức cao
hơn và phô biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công
nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức”1. Trên cơ sỏ đó, Viện
Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội H à Nội tổ chức biên soạn
cuốn sách Kinh tế tri thức ở Việt Nam - Quan điểm và giải pháp phát triển
với nội dung là hệ thổíng hoá bưốc đầu những vấn đề lý luận và
thực tiễn về kinh tế tri thức; phân tích những kinh nghiệm quốc: tê
về phát triển kinh tế tri thức ồ một sô" nước trên th ế giới, từ đó rút
ra những bài học đôi với Việt Nam về phát triển kinh tế tri thức;
khái quát về mục tiêu, bước đi của quá trình xây dựng và phát
triển kinh tế tri thức; đi sâu vào phân tích những quan điểm và
những giải pháp phát triển kinh tế tri thức ỏ Việt Nam.
Sự vận dụng và phát triển KTTT vào một quôc gia hay một địa
phương đều có những đặc điểm riêng về kinh tế, văn hoá, xã hội,
Đảng Cộng sản Việt Nam, Vàn kiện Dại hội đại biổu toàn quốc lần thứ ÍX,
tr. 91, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.
4
chính trị. Bởi vậy, trên cơ sỏ những quan điểm, mục tiêu và giải
pháp chung trên phạm vi cả nước, các địa phương phải xác định
mục tiêu phù hợp thì mới hy vọng tìm ra các giải pháp đạt hiệu

thiếu sót và hạn chế nhất định. Các tác giả rấ t mong nh ận được sự
cộng tác, đóng góp ý kiến của bạn đọc để cuổn sách được hoàn thiện
hơn.
Thư góp ý xin gửi về Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật,
70 T rần Hưng Đạo, Hà Nội hoặc Viện Nghiên cứu phát triển hnh
tế - xã hội Hà Nội, 155, Bà Triệu, Hà Nội.
Hà Ñoiy tháng 9 năm 200C
C ác tá c g iả
6
Chuông 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TRI THỨC
I. TRI THỨC
Để hiểu kinh tế tri thức là gì, vấn đề đầu tiên phải làm rõ là
tri thức phải được quan niệm như th ế nào?
1.1. Khái niệm về tri thức
N hư đã biết, định nghĩa một cái gì là cách mô tả về cái đó, là
làm nghèo (làm mò) cái đó đi cùng một cái mà ta định nghĩa, do
quan điểm (sức hiểu biêt) của mỗi người (ỏ tại thời điểm định
nghĩa) khác nhau nên có không ít cách hiểu khác nhau. Điều này
cũng đang xảy ra vối việc làm rõ khái niệm tri thức, hiện nay trên
thê giối có nhiều khái niệm về tri thức, tập tru ng ỏ một số nội dung
sau:
Theo K.Marx, tri thức là sản phẩm của lao động (tức chỉ xét
đôi vối con người - sinh vật cao cấp có tư duy, có hoạt động lao
động), là kêt quả của mức độ tích cực của con người với tự nhiên
C.Mác và Ph.Ảngghen toàn tập, tập 23, trang 538, NXB Chính trị Quốc gia, Ilà
Nổi, 1993.
7
Tri thức được hiểu là kêt quả của nhận thức, là p h ả n a n h
trung thực của thực tiễn vào tư duy của con người, nó còn được goi

đầu ra.
Ngoài ra, có thể sử dụng tháp thống tin để giải nghĩa th u ật
ngữ tri thức với 4 tầng tháp từ dưối lên trên: dữ liệu, thông tin
(nghĩa hẹp), tri thức (kiến thức), khôn ngoan/thông minh.
ìgoan /Thông minh
3S.VS. Đặng Ilữu (Chủ biên) - Phát triển kinh tế tri thức - rút ngắn quá trình
CNH-HĐH, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001, tr. 108
Nền kinh tế tri thức - nhận thức và hành đông, NXB Thống kê, Ilà Nòi, 2000,
r. 27.
9
- D ữ liệu: là các sự kiện không cấu trúc hóa, không m ang theo
ý nghĩa, ngoài ngữ cảnh, những quan sát đơn giản, một tập hợp oáe
sô" từ đó có thế rú t ra thông tin.
- Thông tin: các dữ liệu đã được tổ chức, xử lý, có m ục d'ch
(nhưng chưa được đồng hóa).
- Tri thức (kiến thức): một khôi lương thông tin đã được xử lý,
đồng hóa, đưa vào sự nhận thức của cá nhân; là thông tin + phán đom.
- Khôn ngoan: kết quả của sự kết hợp kiến thức vối các k:nh
nghiệm và giá trị (chỉ một cái gì đó tốt hay xấu, hoặc là lao động xã
hội đã vật hóa trong hàng hóa).
Sự phần biệt các mức xử lý thông tin chỉ là tương đối. Dữ Lệu
đối vói người này có thể là thông tin đổỉ vối người khác; tương tự,
thông tin đôì vói người này có thể là tri thức đối vối người khác,
Ngoài ra, khi chỉ cần phân biệt vổi tri thức, dữ liệu và thông tin
thương được gộp chung và gọi là thông tin 7.
Theo tổ chức hợp tác và p hát triển kinh tê OEvD
(Organization for Economic Cooperation and Development) thì: Tri
thức là toàn bộ kết quả về trí lực của loài người sáng tạo ra từ
trưốc đến nay, trong đó tri thức về khoa học, về kỹ thuật, về qiản
lý là các bộ phận quan trọng nhất.

Thanh niên, Hà Nội, 2002, trang 34-37.
10 Sdd,tr. 38.
11
tin lưu giữ bên ngoài não ngươi để có thể phổ biên rộng rãi dưới
dạng thương mại hóa (sách, báo, các đĩa máy tính, báo cáo, tà i liệu
hưóng dẫn kỹ th u ậ t v.v ) và (b) ph ần ướt của tri thức (wetware) là
các tri thức chỉ có thể được lưu giữ trong não người, bao gồm niềm
tin, kỹ năng, kỹ xảo, thủ th u ật làm việc v.v ).'
Khi nghiên cứu tài sản tri thức ồ doanh nghiệp, R. B ohn11 cho
rằn g tri thức được chia thàn h ba loại:
+ Tri thức về môi trường (thông tin th ị trường, cống nghệ,
v.v ).
+ Tri thức về doanh nghiệp (danh tiếng, nh ãn mác, v.v ).
-ỉ- Tri thức nội bộ (văn hóa doanh nghiệp, đạo đức, cơ sở dữ
liệu của doanh nghiệp, bí quyết của người lao động, bí quyết
của doanh nghiệp, v.v ).
Như vậy có không ít cách phân loại tri thức, nhưng cách phân
loại đáng quan tâm là chia thành tri thức ngầm (tiềm ẩn - phần
ưốt của tri thức, tacit knowledge) và tri thức hiện (tri thức được hệ
thổng hóa - phần mềm của tri thức, explicit knowledge).
Tri thức hiện (theo M. Polanyi) là tri thức được biểu hiện qua
ngôn ngữ, còn tri thức ngầm là tri thức không bộc lộ, chứa trong
đầu con người. Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng khi xét khả
năng chuyển giao tri thức từ người có kiến thức đến người cần kiến
thức. Đế thực hiện sự chuyển giao (biến đổi) này, tri thức ngầm cần
được điển chê'hóa, nghĩa là chuyển nó th àn h tri thức hiện (khi đó
được gọi là thông tin). Trong quá trìn h điển chế hóa tri thức, một
phần tri thức ngầm vẫn còn lại.
11 Nền kinh tế tri thức, NXB Thống kê, Hà Nội 2000, trang 31.
12

Hình 1.3. Quá trình sáng tạo trì thức trong tổ chức12
1.3. Đạc điểm của tri thức
Từ việc phân tích khái niệm về tri thức ở trên, có thế rú t ra
một sô" đặc điểm cơ bản của tri thức như sau:
a. Tri thức là sản phẩm của lao động (kinh nghiệm, sự học
hỏi), nó là biểu hiện của thái độ tích cực của con người trước tự
nhiên. Điều này đã được K. Marx đề cập rấ t chi tiết.
12 I. Nonaka, H. Takeuchi, The Knowledge-Creating Company, 1995 (Dán theo
c.w. Choo, The Knowing Organization, Oxford University Press, New York,
1998).
14
b. Tri thức không phải là vật chất, nhưng luôn tồn tại dưới cái
vỏ vật chất (giá đựng); chính nhờ điểu này của tri thức mà có thể
nhản rộng tác dụng của nó. Giá đựng tri thức cho tương ứng với
hai loại tri thức (tri thức ngầm và tri thức hiện); để có tri thức hiện
thì dễ, nhưng đế có tri thức ngầm th ì khó (liên quan đến việc đào
tạo, sử dụng, th u h ú t chất xám của các nhà quản lý, các quốc gia).
Đối vói tri thức hiện, người mua tri thức chỉ có được cái giá đựng
nó (đây cũng đã là một điều rấ t quí); nhưng để khai thác nó lại cần
có con người biêt sử dụng nó (trình độ của người mua, hoặc lao
động của chính người bán tri thức đó). Đổi với tri thức ngầm người
mua bắt buộc phải có người bán (chủ sỏ hữu tri thức). Điều này
giải thích cho cái gọi là lợi thê của người đi sau muốn phát huy tác
dụng thì vấn đề côt lõi là ở chỗ phải có con người có khả năng tư
duy.
c. Tri thức (dưỏi dạng sản phẩm) khi đem sử dụng đòi hỏi phải
có cả một quá trìn h học hỏi và nghiên cứu. Đôi vối tri thức hiện
(máy móc, thiết bị v.v ) trước khi vận hành thì người sử dụng phải
đươc học hỏi, hướng dẫn đê nắm vững kỹ th u ật sử dụng. Quá trìn h
này vối người sáng tạo còn có thế suy nghĩ tìm tòi đế tiếp tục hoàn

được tạo ra trên các cơ sỏ căn cứ sau:
a. Chê độ giáo dục đào tạo: Đây là cơ sỏ đầu tiên, quan trọng
nhất của việc tạo ra tri thức cho con người. Điều này đã được thực
tiễn nhiều nước khắng định: Giáo dục đào tạo là quôc sách. Chỉ có
những quốc gia thực sự quan tâm và đầu tư thỏa đáng cho sự
nghiệp giáo dục đào tạo mới có thế hy vọng phát triển và sử đụng
có hiệu quả tri thức. Các nước phát triển hiện nay: Mỹ, Anh, Pháp,
16
Đức, Na Uy, Thụy Điển, N hật Bản, Đài Loan, Singapore, Trung
Quốc, v.v đều đã đi lên từ chủ trương phát triển đi trước một
bưốc sự nghiệp giáo dục, đào tạo.
h. Tăng trưởng kinh tế: Đây cũng là một cơ sở quyết định của
việc tạo ra và phát triển tri thức cho con người và xã hội. Kinh tế là
h o ạ t động cốt lõi của mỗi con người, mỗi hệ thông cũng như toàn xã
hội. Vói các qui luật cạnh tranh quyết liệt của nền kinh tế thị
trường, việc đưa vào và sử dụng tri thức có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng, muôn phát triển kinh tế đòi hỏi phải phát triển tri thức, đến
lượt m ình tri thức lại thúc đẩy trỏ lại sự phc't triển của kinh tế.
Điểu này được thể hiện rõ ở các nước kinh tê cói;qr nghiệp - những
nước có trình độ phát triển kinh tế cao thì vấn đê kmh tế tri thức
được đặt ra và tiêp cận đầu tiên và từ rấ t sớm.
c. Tảng cường quân sự: Mỗi quổc gia đều có một nhiệm vụ
thiêng liêng là phải bảo vệ độc lập chủ quyền đất nước và toàn vẹn
lãnh thổ, có nưóc thậm chí còn có tham vọng làm bá chủ khu vực
và quỏc tê đế không chê khu vực hoặc thê giới. Để làm tôt việc này,
nhu cầu tăng cường lực lượng quân sự - nơi tiêu hao lớn nh ất và
nhanh n h ất các nguồn tri thức của con người. Chính sai lầm của
một sô' nưốc cho mình "chịu lệ thuộc vào một vài nưốc lốn” để
không phải lo đến gánh nặng quốc phòng, nhờ đó có điều kiện tôt
nhất đê phát triển kinh tế xã hội thì nay phần lớn các nưốc đó bị lệ

một cơ cơ sở quan trọng nhằm tạo dựng nên tri thức xã hội xét vê
trình độ, qui mô, hiệu nảng và tính chất. Khi thực hiện được sự công
bằng và dân chủ cao trong xã hội thì sẽ tạo điều kiện cho tri thức nở
rộ vối mức độ sáng tạo ngày càng lớn, và ngược lại, sự bất công sẽ
kìm hãm sự phát triển của tri thức. Đổỉ với vấn đề văn hóa xã hội
cũng vậy, khi thực thi một nền van hóa lành m ạnh với các chuẩn
mực, giá trị xã hội hướng vào con người, hướng vào dân tộc, hướng
vào sự phát triển tiến bộ của nhân loại, thì tính chất tri thức (thông
qua con người làm chủ sỏ hữu tri thức) cũng sẽ lành m ạnh và tiến
bộ. Ở đây tri thức giống như con dao hai lưỡi: người tot làm chủ tri
18
thức sẽ làm cho xã hội tốt đẹp, giàu có, sung tục, công bằng, ván
minh, dân chủ; còn nếu kẻ xấu làm chủ tri thức thì chúng sẽ đem
lại tai ương, hiểm họa cho con người, xã hội và nhân loại.
Hình 1.4. Cơ sở của tri thức
II. KINH TẾ TRI THỨC
2.1. Khái quát về sự xuất hiện của kinh tế tri thức và nhũng
nghiên CƯU ban dổu về kinh tế tri thức
Sự phát triển của kinh tê trong lịch sử của nhân loại đã trải
qua những giai doạn khác nhau. Trưóc hết là kinh tế săn bắn và
hái lượm tồn tại trong hàng trăm nghìn năm. Tiếp đó là kinh tê
nông nghiệp kéo dcài khoảng mười nghìn năm. Rồi đến kinh tế công
nghiệp xuất hiện lản đầu tiên ở Anh vào đầu nửa sau thê kỷ XVIII.
19
Sau đó là kinh tê tri thứcv\ lúc đầu thường gọi là kinh tế thông tin,
đã ra đời lúc đầu ỏ Mỹ vào đầu những năm 1970 và rồi ỏ nhiêu
nưốc công nghiệp phát triển và ngày nay cả các nưóc công nghiệp
mối (NICs). Kinh tê tri thức, theo một sô dự báo11, đôi vối nưỏc Mỹ,
có thế sẽ kết thúc vào khoảng năm 2020 đế nhường chỗ cho một
nền kinh tê mối khác - kinh tế sinh học.

dụng tri thức trong một số lĩnh vực rộng lớn đang phát triển nhanh
hơn rất nhiều sự tăng trương chung của nền kinh tê. Phát hiện của
Machlup đã được các tác giả khác xác nhận và không lâu sau đó
các nhà nghiên cứu còn chứng minh rằng hiện tượng tương tự cũng
xảy ra ở một sô' nưốc khác như Anh, Đức, Pháp, v.v Như vậy là,
theo ý kiên hiện nay đã được chấp nhận rộng rãi, bắt đầu từ đầu
những năm 1970, trước hết ở Mỹ rồi sau đó ở một sô" nưốc khác,
nền kinh tê quổc gia đã chuyến từ giai đoạn công nghiệp sang một
giai đoạn mói - kinh tê tri thức, tương tự như trưốc đây, vào đầu
nửa sau th ế kỷ XVIII, bắt đầu từ nưốc Anh, đã có sự chuyển từ
kinh tế nông nghiệp sang kinh tê công nghiệp.
Công nghiệp tri thức được nghiên cứu trong công trình của
M achlup bao gồm mọi hoạt động có liên quan đến sản xuất, phân
phôi và tiêu thụ tri thức trong ba lĩnh vực:
- Nghiên cứu khoa học (cơ bản và ứng dụng) và triển khai;
- Giáo dục và đào tạo, kế cả đào tạo tiếp tục và đào tạo lại;
- Thông tin đại chúng: xuất bản, báo chí, truyền thanh,
truyền hình, v.v
Năm 1958, ỏ Mỹ, ngành công nghiệp này đã chiếm 29% GNP
(tức 136 tỉ đôla) và sử dụng 31% tổng lực lượng lao động (tức 24
triệu người). Điểm đáng chú ý n h ấ t là tốc độ tăng trưởng của
ngành công nghiệp này trong thời gian 1947 - 1958 đạt 10,6% hàng
21
nảm, bằng hai lần tốc độ tăng của GNP, chứng tỏ các nguồn lưc
quóc gia đã được thu hút một cách đáng kế vào các hoạt động về tri
thức.
Năm năm sau, năm 1963, tri thức đã tạo ra ỏ Mỹ một giá trị
gia tăng chừng 159 tỉ đôla, chiếm 33% GNP. Nám nảm sau nữa,
năm 1968, phần công nghiệp tri thức của nưốc Mỹ đã lên tới gần
40% GNP15.

ba khu vực kinh tê (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) theo cách
phân chia cổ truyền nền kinh tê được tách ra đế tạo th ành một khu
vực thứ tư - khu vực thông tin. Khu vực này của nền kinh tế Mỹ đã
trơ thành lớn nhất vào khoảng năm 1970 và chiêm hơn 50% lực
lượng lao động của cả nưóc1(\ Chính vối ý nghĩa như vậy, nền kinh
tê của nưốc Mỹ đã trỏ thàn h nền "kinh tê'thông tin", tương tự như
trước đây, vào đầu thê kỷ XX, kinh tế của Mỹ đã trỏ thành kinh tế
công nghiệp khi khu vực công nghiệp trơ nên lón hơn khu vực nông
nghiệp. Xã hội hậu công nghiệp của Bell do đó có thể hiểu là xã hội
m à nên kinh tê của nó đã trở th ành kinh tê thông tin.
Mặc dù còn một sô hạn chê 16 17, nhưng vối đặc điểm rất đơn giản
(chỉ cần sử dụng một chỉ tiêu duy nh ất là đầu vào - lao động thông
tin, hay đầu ra - sản phẩm của lao động thông tin), cách tiếp cận
của Porat có thế giúp chúng ta thấy được một xu hướng lớn trong
sự phát triển kinh tê ở các nước. Đó là sự gia tăng liên tục của các
ho ạt động có liên quan nhiều đên thông tin và tri thức và các hoạt
16 5. H.B. Parker, M. Porat, trong: Conifrence sur les politiques en matière d'
information et de communications, OCDI.% Paris, 1976, 95.
17 Như xác dinh thế nào là lao dộng thông tin hay hoạt động thông tin,
23
dộng này đã trơ thàn h quan trọng n h ất trong các n ến kinh tê
phát triển.
Cách tiếp cận đơn giản này có thể áp dụng ngay đế bưốc đầu
nhìn ra bóng dáng của kinh tế tri thức và chiều hướng phát triển
của nó ở những nước mới bắt đầu được nghiên cứu về kinh tê tri
thức, thí dụ như nưốc ta. Cách tiếp cận này có thế thực hiện khá
nhanh chóng bằng cách sắp xếp lại các loại nghề nghiệp trong các
thông kê lao động quôc gia, các kết quả thu được sẽ có ý nghĩa nhất
định như chúng ta đã thấy từ công trìn h của Porat vê nưốc Mỹ và
sau đó của nhiều tác giả khác về một SCI nưóc khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status